CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Lược sử Phật giáo Nhật Bản - Chương 1

     

 

LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN

GS. Shinsho Hanayama

Tiến sĩ Thích Minh Thành dịch

            Nhà xuất bản TP.HCM - 2001  

Lời nói đầu

Lời người dịch

Chương 1: Phật Giáo Nhật-bản thời du nhập

Chương 2: Hoàng tử Shotoku (Xứng-đức)

Chương 3: Cuộc cải cách Taika

Chương 4: Phật Giáo thời Nại-lương

Chương 5: Phật Giáo Thời Bình An

Chương 6: Phật Giáo triều đại Liêm Thương

Chương 7: Thời cận đại và hiện tại

Chương 1: PHẬT GIÁO NHẬT BẢN THỜI DU NHẬP

Theo tác phẩm ‘Nihonshoki’ (Nhật-bản Thư Kỷ)[1], thì Phật Giáo chính thức du nhập nước Nhật vào ngày 13 tháng 10 năm 552, tức là năm thứ 13[2] của Hoàng Đế Kimmey (Khâm Minh), vị thiên hoàng thứ 29 của Nhật-bản. Nhưng có lẽ Phật Giáo du nhập vào nước Nhật sớm hơn niên đại chính thức này.

Lúc bấy giờ Hàn Quốc chia thành 3 nước, ‘Koma’(Cao-ly) ở phía bắc, ‘Shiragi’ (Tân-la) ở phía đông nam và ‘Kudara’ (Bách-tế) ở phía tây nam. Tuy nhiên, trước đó người Hàn Quốc ắt đã vượt biển đi đến và giới thiệu Phật Giáo cho người Nhật ở Bắc Kyushu (Cửu-châu).

Có thể giả định là vào khoảng thời gian này, vua Seimeio (Thánh-minh-vương) xứ Kudara đã phái vương hầu ‘Nurishichikei’ làm công sứ đi sang Nhật và chính thức giới thiệu Phật Giáo với triều đình của thiên hoàng. Vua Seimeio (Thánh-minh-vương) đã tặng cho hoàng triều Nhật-bản một tượng Phật Bổn Sư Thích-ca bằng đồng mạ vàng, cờ và kinh điển Phật Giáo... kèm theo một bức thư hết lòng ca ngợi công đức của việc hoằng dương Chánh Pháp và phụng thờ Đức Phật. Trong bức quốc thư nầy nhà vua tuyên bố rằng Giáo Pháp Phật-đà là tối thượng, với những đức tính không có hạn lượng. Quốc thư cũng cho biết rằng từ Ấn-độ và Trung Á xa xôi Phật Giáo đã truyền đến Trung Quốc và Đại Hàn và đến nơi nào Phật Giáo cũng được sự ngưỡng mộ và tôn kính tột bực. Với bức quốc thư nầy vua xứ Kudara xin cử vị vương hầu làm sứ thần đến Nhật-bản để truyền bá giáo pháp tối thượng. Bức quốc thư kết luận rằng: Đức Thế Tôn đã tiên kiến rằng Giáo Pháp của Ngài sẽ truyền sang hướng đông.

Cũng theo Nihonshoki (Nhật-bản Thư Kỷ) thì Hoàng Đế Kimmei (Khiếm-minh) sung sướng thốt lên rằng: “Ta chưa từng được nghe một Giáo Pháp thù thắng như vậy... Ta chưa từng được thấy một hình ảnh nào nào chiếu sáng và tươi đẹp hơn tôn nhan Đức Phật”. Vào thời điểm này văn hóa Nhật-bản còn trong tình trạng thấp kém nên chúng ta cũng dễ hình dung ra cảnh người Nhật đã ngạc nhiên và sung sướng như thế nào trước sắc diện thánh thiện và trang nghiêm của Đức Thế Tôn cũng như sự vi diệu trong Giáo Pháp Phật-đà. Thiên hoàng đã tham khảo ý kiến của triều thần. Soga-no-Iname (Tô-ngã-đạo-mục), vị triều thần phụ trách xã hội nhân sinh phát biểu rằng: Nếu Phật Giáo đã du nhập những quốc gia khác tốt đẹp như thế nào thì Phật Giáo cũng sẽ du nhập nước Nhật-bản tốt đẹp như thế ấy. Ngược lại, Mononobe-no-Okoshi (Vật-bộ-vĩ-dữ), vị triều thần phụ trách quân đội và Nakatomi-no-Kamako (Thần-liêm-tử), vị triều thần phụ trách tế tự của Thần Đạo chống đối kịch liệt cho rằng các vị thiên hoàng của Nhật-bản từ xưa đã thờ phụng các vị thần của dân tộc rồi và nếu có bất kỳ một tín ngưỡng ngoại lai nào du nhập vào nước Nhật thì các vị thần thủ hộ quốc gia sẽ phẫn nộ. Vì không có phe nào tỏ ra nhượng bộ nên thiên hoàng quyết định chuẩn y cho cả hai quan điểm. Thế là một bức tượng Phật được tặng cho Soga-no-Iname (Tô-ngã-đạo-mục) để thờ phụng theo cách riêng của mình. Thế là trong mối quan hệ giữa hai dòng họ có một rạn nứt xuất hiện và kéo dài gần 40 năm sau đó.

Sự rạn nứt biến thành sự xung đột giữa hai người con trai của hai dòng họ trên là Soga-no-Umako (Tô-ngã-mã-tử) và Mononobe-no-Moriya (Vật-bộ-thủ-ốc). Nhưng chúng ta cũng biết rằng: vì đoạn sử ký nầy này được biên soạn 150 năm sau khi sự xung đột xảy ra và chính quyền lúc ấy có thể không tiết lộ thông tin đầy đủ về sự kiện nầy. Hơn nữa sự xung đột này thực chất có gốc rể từ xa xưa. Dòng họ Soga (Tô-ngã) phụ trách việc bang giao với Hàn Quốc có khuynh hướng tiến bộ. Mononobe (Vật-bộ) là dòng họ chiến sĩ và Nakatomi (Trung-thần) là dòng họ phụ trách nghi thức và tế lễ của Shinto (Thần Đạo) nên có thể theo khuynh hướng bảo thủ. Vào lúc đó sự kiện Phật Giáo du nhập vào chỉ là cái cớ để ngọn lửa đã âm ỉ lâu nay được dịp cháy bùng lên. Vì vậy cho rằng nguyên nhân của sự xung đột là sự khác biệt giữa tư tưởng Phật Giáo và tư tưởng Thần Đạo theo như sử ký đã ghi chép có thể là không xác đáng. Chúng ta cũng có thể nói tới mức rằng Phật Giáo có thể là nguyên nhân trực tiếp của sự rạn nứt, nhưng nền tảng làm cơ sở cho sự rạn nứt đó vốn đã có từ lâu rồi. Hơn nữa, Thần Đạo vào lúc này vẫn trong tình trạng sơ khai và chắc chắn là kém xa Phật Giáo về lãnh vực văn hóa.

Khi Hoàng Đế Kimmei (Khâm-minh) băng hà, năm sau Đông Cung Thái Tử lên nối ngôi (vào năm 572). Tân vương Bidatsu (Mẫn-đạt) là một vị Hoàng Đế lơ là đối với Phật Giáo. Ông mất năm 585 người em trai lên nối ngôi là Hoàng Đế Yomei (Dụng-minh) (vị thiên hoàng thứ 31). Ông là vị thiên hoàng đầu tiên đặt niềm tin vào Phật Giáo. Nhưng trị vì chưa bao lâu ông vị thiên hoàng nầy thọ bệnh. Tin tức về bịnh tình của nhà vua làm dân chúng buồn rầu. Một tu sĩ Phật Giáo được mời vào nội cung để làm lễ kỳ yên cho nhà vua. Và có một người tên Kuratsukuri-no-Tasuna (An-tác-đa-tu-nại) đã nguyện từ bỏ gia đình, xuất gia và trở thành vị tu sĩ duy nhất lúc bấy giờ chỉ với mục đích là kỳ yên cho vua. Ông là người cư sĩ đầu tiên trở thành tu sĩ. Động cơ xuất gia của ông mang đậm nét đặc thù của Nhật-bản. Khi bịnh tình trở nên trầm trọng hơn vị thiên hoàng nầy muốn đúc một pho tượng Yakushinyorai (Dược Sư Như Lai)[3] nhưng việc đúc tượng chỉ hoàn thành mãi sau khi ông đã băng hà. Em gái của ông thực hiện ước muốn đúc tượng nầy và trong 20 năm pho tượng đã được hoàn thành. Đó là tượng Phật Dược Sư của chùa Horyiuji (Chùa Pháp Long). Trong vầng hào quang của pho tượng này người ta trang trí một bài văn với 5 dòng từ trên viết xuống, gồm 90 chữ Hán miêu tả chi tiết câu chuyện này. Sau đó người em gái này đăng quang trở thành Nữ Hoàng Suiko (Suy-cổ). Người con trai nổi tiếng của Hoàng Đế Yomei là ‘Shotokutaishi’ (Thánh-đức-thái-tử)[4] đã điều hành quốc gia suốt thời gian 30 năm làm Nhiếp Chính Thái Tử của ông.

Pho tượng Dược sư Phật được hoàn tất vào năm 607 tức năm thứ 15 vương triều Suiko (Suy-cổ). Chùa Horyuji (chùa Pháp Long) có danh tiếng ở Nara (Nại-lương) được xây dựng với mục đích tôn trí pho tượng nầy. Đó là một kiến trúc gỗ cổ kính nhất thế giới vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Chữ ‘Horyuji’ (chùa Pháp Long) có thể dịch nghĩa là ‘ngôi chùa làm cho Chánh Pháp được hưng thịnh’. Sau lễ đăng quang của Nữ Hoàng Suiko (Suy-cổ) một chiếu chỉ được ban hành để làm cho Chánh Pháp được huy hoàng. Chiếu chỉ nầy làm cho chủ trương hoằng dương Phật Pháp trở thành một chính sách của quốc gia. Vì vậy mà những ngôi chùa đầu tiên được nhà nước xây dựng đều mang một tên chung là ‘Horyuji’ (Chùa Pháp Long) hay ‘Hokoji’ (Chùa Pháp Hưng). Chùa Hokoji (Chùa Pháp Hưng) mừng lễ khánh thành vào năm 596, tức là năm thứ 4 vương triều Suiko (Suy-cổ). Chữ ‘hokoji’ cũng có nghĩa là ‘ngôi chùa làm cho Chánh Pháp hưng thịnh’. Đồ án xây dựng những ngôi chùa vào thời điểm đó quả thật là những đồ án vĩ đại. Vì vậy mà không có gì phải ngạc nhiên khi thời đại nầy được gọi là ‘Thời Đại Hoko’ (Thời Pháp Hưng), ‘thời hoàng kim của giáo lý Phật-đà’.

Đức Dược Sư Như Lai thị hiện trong thế giới Tịnh-lưu-ly ở Phương Đông phát ra 12 lời nguyện lớn để giải trừ tất cả mọi thân bệnh và tâm bệnh của chúng sanh, tất cả đều có gốc gác từ vô minh. Vì vậy bất cứ một người bệnh khổ nào đặt trọn niềm tin vào Ngài đều được tật bệnh tiêu trừ. Đó là lý do tại sau kể từ vương triều Yomei (Dụng-minh) đến thời kỳ đầu của triều đại Heian (Bình-an) hầu hết người dân Nhật-bản đều đặt niềm kính tin nơi Đức Phật Dược Sư. Cho đến ngày nay thỉnh thoảng chúng ta vẫn còn thấy đó đây trong những ngôi chùa cổ ở Nara (Nại-lương) và Kyoto (Đông-đô) những pho tượng Phật Dược Sư của thời đại hoàng kim nầy.[5]

 

[1] Một quyển biên niên sử của Nhật-bản xuất hiện vào năm 720. Quyển sử nầy được thực hiện theo chỉ dụ của chính quyền và được viết bằng tiếng Hán cổ.

[2] Về thời điểm Phật Giáo du nhập vào Nhật-bản thì có nhiều ý kiến khác nhau. Thường được chấp nhận là những điều được ghi trong ‘Jogushoto-kuhooteisetsu’ (Thượng Cung Thánh Đức Pháp Vương Đế Thuyết) được biên soạn vào năm 720. Tác phẩm nầy đặt niên đại Phật Giáo du nhập vào năm 538. Trong khi đó ‘Nihonshoki’ (Nhật-bản Thư Kỷ) được biên soạn vào năm 720 khoảng 2 thế kỷ sau khi Đạo Phật chính thức đi vào nước Nhật, do vậy những sai lệch trong việc biên chép niên đại khó có thể tránh khỏi hoàn toàn.

[3] Dược Sư Như Lai.

[4] Cháu kêu Nữ Hoàng Suiko (Suy-cổ) bằng dì (ND).

[5] Tượng Phật Dược Sư sau thời Nara (Nại-lương) có giữ một bình linh dược trong bàn tay trái. Tượng Phật Dược Sư nổi tiếng nhất về phương diện nghệ thuật là pho tượng được tôn thờ trong Chùa Dược Sư ở Nara (Nại-lương). Do chiếu chỉ của hoàng đế Temmu (Thiên-vũ) pho tượng nầy được tôn tạo vào năm 680 để kỳ yên giải bệnh cho Nữ Hoàng Jito (Trì-thống). Công trình nầy do chính nữ hoàng thực hiện và hoàn thành, sau đó bà đã lên lên ngôi và trở thành Nữ Hoàng Jito, vị thiên hoàng thứ 41 của Nhật-bản.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: