CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Lược sử Phật giáo Nhật Bản - chương 6

     

 

LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN

GS. Shinsho Hanayama

Tiến sĩ Thích Minh Thành dịch

            Nhà xuất bản TP.HCM - 2001  

Lời nói đầu

Lời người dịch

Chương 1: Phật Giáo Nhật-bản thời du nhập

Chương 2: Hoàng tử Shotoku (Xứng-đức)

Chương 3: Cuộc cải cách Taika

Chương 4: Phật Giáo thời Nại-lương

Chương 5: Phật Giáo Thời Bình An

Chương 6: Phật Giáo triều đại Liêm Thương

Chương 7: Thời cận đại và hiện tại

Chương 6: PHẬT GIÁO TRIỀU ĐẠI KAMAKURA

Hình thức chính phủ Insen (Viện chính) đặt dưới quyền trị vì của các vị thiên hoàng hồi hưu hoặc các vị thiên hoàng Tăng Sĩ là chính phủ trong suốt thời đại Kamakura (Liêm Thương). Nhưng khi quyền lực của giai cấp Kuge (Công Gia) quý tộc suy tàn [đa số thuộc dòng tộc Fujiwara (Đằng Nguyên)] thì giai cấp Buke (Vũ Gia) tướng sĩ bắt đầu nắm quyền. Như thế quyền lực chính trị đã chuyển sang dòng dõi tướng sĩ bắt đầu với dòng họ Heishi (Bình Thị) nắm quyền. Nhưng thời hoàng kim của dòng họ nầy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngũi rồi quyền lực lại chuyển sang dòng họ Genji (Nguyên Thị), rồi chuyển sang dòng họ Hojoshi (Bắc Điều Thị) và cuối cùng thì quyền lực rơi vào tay dòng họ Ashikagashi (Túc Lợi Thị). Như thế đó, người ta mục kích rõ ràng những bước thăng trầm của cuộc đời ngay trước mắt họ. Một thời kỳ binh đao tang tóc: Nara (Nại Lương) và Kyoto (Đông Đô), những thủ đô tráng lệ xưa và nay, chìm trong khói lửa của các cuộc nội chiến. Tất cả các ngôi chùa lớn tại Hiei (Tỷ-duệ), Koya (Cao dã) và Nara (Nại-lương) đã phải nuôi chứa lực lượng Sohei (Tăng Binh) để tự bảo vệ. Việc bảo vệ này thường lôi kéo họ vào các cuộc chiến tranh và kết quả là không ít những ngôi đại tự bị hỏa thiêu như chùa Todaiji (Chùa Đông Đại) và chùa Kobukuji (Chùa Hưng Phước) ở Nara (Nại-lương), chùa Saiji (Chùa Tây) và chùa Toji (Chùa Đông) ở Kyoto (Đông Đô) và một số chùa khác. Người dân cứ tưởng rằng luật pháp và Phật Pháp giờ đây đã kết thúc. Họ đã tận mắt chứng kiến nỗi khổ đau dường như của cái gọi là Gojokuakuse (Ngũ Trược Ác Thế), như Kinh điển thường diễn tả. Họ tưởng rằng đã đến thời kỳ tận cùng Mappo (Mạt Pháp). Thời kỳ Shobo (Chánh Pháp), thời kỳ mà Giáo Pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni được chơn chánh hành trì đã qua rồi; thời kỳ Zobo (Tượng Pháp), thời kỳ mà con người có thể thực hành Giáo Pháp của Đức Thích-ca Mâu-ni Phật qua hình thức nhưng không đạt được sự giác ngộ cũng đã qua rồi. Thời Mappo (Mạt Pháp) đã đến. Họ tin chắc như thế. Đây là thời kỳ Giáo Pháp chỉ còn là tên gọi khi mà không có người thực hành và tu chứng. Trong thời kỳ nầy Giáo Pháp chỉ còn đó cho có mà thôi. Người ta cũng tin rằng sau thời Mappo (Mạt Pháp), Giáo Pháp của Đức Phật hoàn toàn không còn hiện diện. Họ tin rằng năm 1052 là năm khởi đầu của thời kỳ Mappo (Mạt Pháp). Thời kỳ Shobo (Chánh Pháp) và Zobo (Tượng Pháp) giờ đây cũng đã qua đi. Những biểu hiện của thời Mappo (Mạt Pháp) đã diễn bày trong giới Phật Giáo nói riêng và thế giới nói chung và khiến cho họ càng tin chắc chắn rằng thời Mappo (Mạt Pháp) là đây. Những thảm trạng của quốc gia, dịch bệnh, nội chiến, hỏa hoạn và sự suy đồi đạo đức trong giới Tăng Lữ đã đập vào mắt họ. Ngay cả Mikkyo (Mật Tông) có lúc đã tự hào về thời hoàng kim của mình thì giờ đây lại rơi vào các nghi lễ rườm rà. Giáo lý nhiệm mầu bí mật chỉ còn lại ngôn ngữ danh từ trong một trò chơi tư tưởng. Người ta xuất gia chỉ vì danh lợi chẳng còn ai màng đến việc cần khổ giữ gìn những giới điều mà Đức Phật đã dạy. Đền chùa nuôi dưỡng những đội Sohei (Tăng Binh), gây hấn và đánh nhau để tranh giành vị thế. Tệ hơn nữa, một số chùa lại dùng quân lực để giành lấy những đặc ân của hoàng triều.

Dòng họ Heike (Bình Gia) sụp đổ, dòng họ Genji (Nguyên Thị) lên nắm chính quyền. Trong triều đại Minamoto-no-Yoritomo (Triều Nguyên Lại) chính phủ Bakufu (Mạc Phủ), một dạng chính phủ của các Shogun (Tướng quân) được thành lập vào năm 1192 ở Kamakura (Liêm Thương). Chính quyền lãnh chúa chuyển từ Kyoto (Đông Đô) đến Kamakura (Liêm Thương). Đây là thời của giai cấp tướng sĩ, thô nhưng chắc, đơn giản nhưng dứt khoát, với một tinh thần độc lập. Phật giáo cũng nhận được một luồng sinh khí mới. Trong thời đại Kamakura (Liêm Thương), nói chung là có ba dòng Phật giáo chủ lưu.

Dòng chủ lưu thứ nhất có cội nguồn là Cõi Tịnh Độ của Đức Phật A-di-đà; dòng chủ lưu thứ hai vận dụng toàn lực nhằm khôi phục lại thời Chánh Pháp, nghiêm trì giới luật và miên mật thiền định; dòng chủ lưu thứ ba chủ trương tìm lại tinh thần chân chánh của kinh Hokekyo (Kinh Pháp Hoa) để có thể đối ứng với những tình thế cụ thể của Nhật-bản. Những dòng tư tưởng chủ lưu nầy đều được dựa trên ý tưởng về thời Mạt Pháp.

1. Tông Joso (Tịnh Độ Tông)

Ý tưởng sơ khởi về Tông Joso (Tịnh Độ Tông) đã bắt đầu từ thời kỳ của Thái Tử Shotoku (Xứng Đức). Nhưng đến thời kỳ Nara (Nại-lương), Tịnh độ Tông mới thực sự phát triển thành một dòng tín ngưởng chủ lưu. Dòng tín ngưởng chủ lưu nầy trải qua suốt thời đại Heian (Bình An) và dần dần phát triển rộng rãi và ăn sâu vào tâm thức của người dân Nhật-bản. Các bậc uyên bác của tông Sanron (Tam Luận Tông), tông Hosso (Pháp tướng Tông), tông Tendai (Thiên Thai Tông) và của những Tông Phái khác đều có ước vọng được sinh về thế giới của Đức Phật A-di-đà vô lượng thọ, là bản môn của Đức Phật Thích Ca Mâu-ni lịch sử, được xưng tán là vị Phật với trí tuệ và từ bi viên mãn. Chúng ta nói rằng chúng ta muốn sinh vào cõi Tịnh Độ ở phương tây bởi vì phương Tây là nơi mặt trời lặn, nơi mà tâm hồn của con người đang sống trên thế giới đối đãi nầy có thể hướng đến để tìm kiếm sự bình an và thơ thới. Không nhất thiết phải nói rằng, cõi Tịnh Độ của Đức Phật A-di-đà nằm ở phương tây theo bất cứ ý nghĩa địa dư nào hay nằm cách cõi trần gian nầy mười muôn triệu cõi Phật về phía Tây. Cõi Tịnh Độ vượt khỏi tầm hiểu biết, tư duy hay lý giải của con người. Cõi Tịnh Độ là bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết. Nhưng để diễn đạt theo bằng từ ngữ cụ thể của trần gian thì kinh điển mới nói rằng cõi Tịnh Độ nằm cách cõi trần gian mười muôn ức cõi nước về phía Tây.

Dân chúng trong thời Kamakura (Liêm Thương) mong muốn đạt được giác ngộ bằng cách hướng tâm về cõi Tịnh Độ khi mà họ nhận chân được sự thật của cõi trần gian, nhận chân được những bước thăng trầm, vô thường, và biến chuyển liên tục của cuộc đời. Chẳng có gì là chắc thật, tệ hơn nữa, tham lam và sân giận sẽ hủy hoại kiếp sống nhiều nỗi oan khiên vô vọng nầy. Giới luật và thiền định đã trở thành những chuyện xa vời. Chỉ còn nguyện lực từ ái của Đức Phật A-di-đà đáp lại tiếng kêu khóc cầu cứu của những số phận đau thương và tuyệt vọng. Đây chính là con đường chân chính để tìm tới ánh sáng cứu khổ. Thế là niềm tin Tịnh Độ phát triển sâu rộng và Tổ Sư Honen (Pháp Nhiên 1133 - 1212) chính thức thành lập một Tông Phái. Tông Joso (Tịnh Độ Tông) ra đời.

a. Chư tiền hiền

Trước Honen (Pháp Nhiên) đã có các vị như Kuya (Không Dã: 903 - 972) và Ryonin (Lương Nhẫn: 1027 - 1132) đều dạy Pháp môn Nembutsu (Niệm Phật). Koya (Không Dã) đã du hóa khắp nơi, lo cho dân được an cư lạc nghiệp, sửa sang cầu cống, đường xá, thực hành và hướng dẫn mọi người đến với Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Ryonin (Lương Nhẫn) dựa trên kinh Kegongyo (Kinh Hoa Nghiêm) và kinh Hokekyo (Kinh Pháp Hoa), dạy rằng công phu Niệm Phật của một người sẽ yểm trợ cho công phu Niệm Phật của những người khác và ngược lại công phu Niệm Phật của những người khác sẽ yểm trợ cho công phu Niệm Phật của một người. Ryonin (Lương Nhẫn) cũng du hóa mọi nơi và hướng dẫn dân chúng đến với Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Nhưng nói chung, những lời dạy của hai vị tiền hiền nầy không để lại dấu ấn sâu đậm để có thể tạo nên một cuộc chấn hưng trong lĩnh vực tư tưởng. Mãi cho đến thời đại của Honen (Pháp Nhiên) thì chúng ta mới thấy có được những trang sử quan trọng.

b. Honen (Pháp Nhiên)

Sau thời gian tu học trên núi Hiei (Núi Tỷ-duệ) Honen (Pháp Nhiên) đã đi tham học ở nhiều tự viện tại Nara (Nại-lương). Khi trở về Honen (Pháp Nhiên) được xem là một đạo sư uyên bác nhất của thời đại. Tinh thông Phật Học nhưng đối với Ngài tinh thông Phật Học không có nghĩa là an lạc ngay tức thì. Có một băng khoăng quan trọng trong cuộc đời mà Honen (Pháp Nhiên) chưa giải tỏa được: vấn đề sống và chết. Và một ngày kia, Honen (Pháp Nhiên) đọc được bộ Ojoyoshu (Vãng Sanh Yếu Tập) của Genshin (Nguyên Tín), từ đó Honen (Pháp Nhiên) đọc sang bộ Kangyoso (Quán Kinh Sớ) tức là bản sớ giải của Kinh A-di-đà của Zendo (Thiện Đạo) và gặp được câu: “Nếu có chúng sinh nào nghĩ tưởng và niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà bất kỳ lúc nào và như thế nào miễn là được miên mật nhất tâm bất loạn thì gọi là Chánh Nghiệp vì niệm Phật như vậy là tương ứng với thệ nguyện của Đức Phật A-di-đà”. Câu kinh trên đã giải thông tất cả vấn đề sống chết của Honen (Pháp Nhiên). Bấy giờ Honen (Pháp Nhiên) bèn từ bỏ tất cả các pháp môn khác mà chỉ chú tâm vào duy nhất một Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật)) mà thôi. Như thế là tông Jodo Nembutsu (Niệm Phật Tịnh Độ Tông) ra đời vào năm 1175 lúc đó Honen (Pháp Nhiên) tròn 42 tuổi. Honen (Pháp Nhiên) xuống núi Hiei (Tỷ-duệ), xây dựng một thảo am tại Yoshimizu (Cát-Thủy) thuộc mạn Đông Kyoto (Đông Đô) và hoằng truyền Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) cho mọi người bất kể là nam hay nữ, già hay trẻ, bất kể là quan quân hay sĩ thứ.

Tác phẩm chính của Honen (Pháp Nhiên) là Senjaku-Hongan-Nembutsu (Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập). Trong tác phẩm nầy Honen (Pháp Nhiên) chia Phật Giáo thành hai loại pháp môn: Pháp Môn Khó và Pháp Môn Dễ. Ngài nói rằng Pháp Môn Khó dành cho những bậc thánh thiện nhiều năng lực còn Pháp Môn Dễ dành cho những người bình phàm nhiều si mê ám chướng. Ngài trích dẫn nhiều bộ kinh sớ khác nhau để tỏ rõ cho mọi người thời ấy thấy rằng thời bấy giờ chẳng còn pháp môn nào khác ngoài Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật), tức là chỉ duy nhất một Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) mà thôi.

Pháp Môn Dễ do Honen (Pháp Nhiên) truyền bá bấy giờ rất gần gủi với tất cả những người căn cơ kém cõi, những người khao khát chứng ngộ nhưng căn lành không bằng được những người khác, họ không thể tự mình tìm được ánh đạo qua năng lực tự thân. Đồ chúng của Honen (Pháp Nhiên) càng lúc càng đông đảo. Sự kiện nầy cũng tạo nên sự đối nghịch từ nhiều phía, cụ thể là từ núi Hiei (Núi Tỷ-duệ), cứ điểm của Thiên Thai Tông (Tendaishu), từ tông Hosso (Pháp tướng Tông) và các Tông Phái khác ở Nara (Nại-lương), tất cả những đối nghịch đó dẫn đến sắc lệnh cấm chỉ Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) của cựu thiên hoàng Gotoba (Hậu Điểu Vũ). Dĩ nhiên sự chống đối này không phải xuất phát hoàn toàn từ lòng ganh tỵ mà thôi, ắt hẳn phải có những lý do căn để hơn. Trong số những người tham gia các khóa tu Niệm Phật của Honen (Pháp Nhiên) có những người hoàn toàn không hiểu gì về điểm giáo lý cho rằng nếu có lòng tin chơn chánh thì ngay cả một người sống trong tội lỗi cũng sẽ được cứu độ một cách vô điều kiện dù người đó đang phải chịu trách nhiệm về những hành vi độc ác mà người đó đã phạm phải. Honen (Pháp Nhiên) đã quở trách nhiều lần những đồ chúng hiểu lệch lạc như vậy nhưng tà kiến đã tiêm nhiễm mạnh và phổ biến quá nhanh, rồi mọi chuyện cũng phải đi đến cái kết cục của nó. Lệnh cấm chỉ Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) được đã ban hành. Honen (Pháp Nhiên) đã cố gắng hết sức nhưng không cứu vãn được tình thế, mọi chuyện diễn biến tồi tệ hơn đến mức một số đồ đệ của Ngài đã phải lãnh án tử hình. Bản thân Honen (Pháp Nhiên) và một số môn đệ thân tín phải bị lưu đày ở những nơi xa xôi. Năm 75 tuổi, Honen (Pháp Nhiên) bị đày đi Tosa (Thổ-tá), Shikoku (Tứ-quốc). Bốn năm sau được ân xá, Honen (Pháp Nhiên) về lại thủ đô nhưng chỉ một năm sau Honen (Pháp Nhiên) viên tịch ở Otani (Đại-cốc). Sau nầy những người đệ tử của Honen (Pháp Nhiên) xây dựng chùa Chion’in (Tri Ân Viện) nơi đó để tưởng niệm nơi Honen (Pháp Nhiên) đã viên tịch. Ngày nay chúng ta còn thấy ngôi chùa nầy ở Higashiyama (Đông Sơn), Kyoto (Đông Đô), hiện là trụ sở của tông Jodo (Tịnh Độ Tông).

Trong hàng môn đệ của Honen (Pháp Nhiên) có nhiều vị đã từng tu học ở Koya (Cao-dã), Hiei (Tỷ-duệ), và Nara (Nại-lương). Mặc dù học chung một Thầy, cùng một Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) nhưng có lẽ vì có nền tảng giáo dưỡng nhân thân khác nhau nên sau khi Honen (Pháp Nhiên) viên tịch thì họ lại tách ra và bộc lộ những điểm khác biệt.

Môn nhơn của Honen (Pháp Nhiên) có những vị đạo sư có dòng truyền thừa phát triển là Benna (Tịnh-a: 1162 - 1238), Shoku (Chứng Không: 1177 - 1247), và Shinran (Thân-loan: 1173 - 1262). Dòng Phái Benna (Tịnh-a) phát triển thành Chinzei-ha (Trấn Tây Phái); Dòng Phái Shoku (Chứng Không) phát triển thành Seizan-ha (Tây Sơn Phái) của Tông Jodo (Tịnh Độ Tông); và Dòng Phái Shinran (Thân-loan) trở thành Shinshu (Chân Tông).

Khi Honen (Pháp Nhiên) viên tịch tại Kyoto (Đông Đô) vào năm 1212, thọ 79 tuổi thì các đại đệ tử của Honen (Pháp Nhiên) như Ryukan (Long Khoan), Kosai (Hạnh Tây) và Shinran (Thân-loan) vẫn còn sống lưu đày ở những châu quận xa xôi thuộc Miền Đông và Miền Bắc Nhật-bản.

c. Benna (Tịnh-a)

Sau khi Thầy là Honen (Pháp Nhiên) bị lưu đày, Benna (Tịnh-a) bèn trở về lại quê hương của mình ở Chikugo (Trúc Hậu), Kyushu (Cữu Châu) lúc đó Benna (Tịnh-a) đã 45 tuổi. Tại quê hương của mình Benna (Tịnh-a) xây dựng Chùa Zendoji (Chùa Thiện Đạo), hoằng dương Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Đệ tử của Benna (Tịnh-a) là Ryochu (Lương Trung: 1199 - 1287) đã biên soạn nhiều sớ giải về các tác phẩm của Zendo (Thiện Đạo) và Honen (Pháp Nhiên). Ryochu (Lương Trung) đã từng rời khỏi Kyoto (Đông Đô), đi đến Kamakura (Liêm Thương) để hoằng dương Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Trước khi Ryochu (Lương Trung) hội kiến với Benna (Tịnh-a) vào năm 37 tuổi thì Ryochu (Lương Trung) đã tham học giáo nghĩa của nhiều Tông Phái khác nhau tại Nara (Nại-lương) như giáo nghĩa của Thiên Thai Tông (Tendaishu), Chơn Ngôn Tông (Shingonshu) và cả Thiền Tông một Tông Phái mới mẽ do Dogen (Đạo Nguyên) từ Trung Hoa sang truyền giảng. Khi Ryochu (Lương Trung) hội kiến với Thầy là Benna (Tịnh-a) thì mới học được Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Hai năm sau Benna (Tịnh-a) viên tịch. Chúng ta được biết rằng Benna (Tịnh-a) đã ẩn náo ở Kyushu (Cữu Châu) để hoằng truyền Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Nhờ vào sự nỗ lực của Ryochu (Lương Trung) mà pháp môn này được truyền từ vùng Kyoto (Đông Đô) đến Kamamura (Liêm Thương) và phát triển rực rỡ trên toàn nước Nhật như chúng ta thấy ngày nay. Chinzei-ryu hay Chinzei-ha (Trấn Tây Phái) là tên gọi của Chi Phái nầy bởi vì trước đây nó có một thời hưng thịnh ở Chinzei (Trấn Tây) tức là Kyushu (Cữu Châu). Chinzei-ha (Trấn Tây Phái) dạy rằng công phu Niệm Phật và những thiện nghiệp được tích lũy đầy đủ kết hợp với Tam Tâm[1] theo thệ nguyện của Đức Phật A-di-đà thì chúng sanh sẽ được vãng sanh về cõi Tịnh Độ và từ đó chứng đạt đạo quả.

d. Shoku (Chứng Không)

Vào năm 30 tuổi, Shoku (Chứng Không) đến cầu thầy với Honen (Pháp Nhiên) rồi thọ học với thầy trên 22 năm. Như vậy chúng ta có thể nói rằng Shoku (Chứng Không) là người uyên thâm và quán triệt những giáo nghĩa mà Honen (Pháp Nhiên) giảng dạy. Khi Honen (Pháp Nhiên) soạn bộ “Senjakushu-Hongan-Nembutsushu” (Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập) thì chỉ có vài người được Honen (Pháp Nhiên) cho làm trợ lý và Shoku (Chứng Không) chính là người trợ lý quan trọng nhất lúc đó. Không nằm trong danh sách của những người bị lưu đày, Shoku (Chứng Không) ở lại Nishiyama, Kyoto (Đông Đô) và hoằng truyền Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) và Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) nhờ vậy trở thành pháp môn thịnh đạt nhất. Chi phái của Shoku (Chứng Không) có tên là Seizan-ha hoặc Seizan-ryu (Tây Sơn Phái hoặc Tây Sơn Lưu) vì Seizan (Tây Sơn) là trụ sở nơi Shoku (Chứng Không) hoằng hóa. Ngày nay chùa Komyoji (Chùa Quang Minh) ở Ao (Túc Sinh), chùa Zenrinji (Chùa Thiền Lâm) và chùa Seiganji (Chùa Triết Nguyên) ở thành phố Kyoto (Đông Đô) là những cơ sở chính của Chi Phái nầy. Về phương diện giáo nghĩa thì tất cả các chùa chiền trên đều thuộc về Seizan-ha (Tây Sơn Phái).

Giáo lý của Shoku (Chứng Không) nói rằng: Do lời phát nguyện của Đức A-di-đà Như Lai nên tất cả công phu Niệm Phật và tất cả những hạnh nghiệp mà chúng ta thực hiện với tâm thành tín sẽ kết thành một khối công đức khiến cho chúng ta được sinh về Tịnh Độ rồi từ đó sẽ chứng đạt đạo quả.

e. Shinran (Thân Loan)

Shinran (Thân Loan) đã từng nghiên cứu giáo lý của Tendai (Thiên Thai) ở núi Hiei (Núi Tỷ-duệ). Năm 28 tuổi Shinran (Thân Loan) cầu học với Honen (Pháp Nhiên). Shinran (Thân Loan) tu học với Honen (Pháp Nhiên) được sáu năm. Đến năm 34 tuổi Shinran (Thân Loan) bị lưu đày đến Echigo (Việt-hậu) và nghe tin Honen (Pháp Nhiên) viên tịch. Khi được phóng thích thay vì trở về Kyoto (Đông Đô) thì Shinran (Thân Loan) lại đến Kanto (Quan Đông) và hoằng pháp nơi đây một thời gian khá lâu. Cho đến lúc cuối đời Shinran (Thân Loan) mới trở về lại Kyoto (Đông Đô) và cống hiến phần đời còn lại của mình cho việc biên soạn kinh sách. Trong những ngày tháng lưu đày Shinran (Thân Loan) đã sống theo nguyên tắc Hisohizoku (Phi Tăng Phi Tục) và Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) của Shinran (Thân Loan) được quảng bá như thế. Sống cuộc đời với hình thức của một cư sĩ Shinran (Thân Loan) đã truyền đạt Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) cho các con của mình. Theo Shinran (Thân Loan) thì những hành động của con người dù phát xuất từ ý chí và nhiệt tâm như thế nào đi nữa thì cũng là những hành động có cấu uế, không có ý nghĩa gì đối với đạo quả giác ngộ viên mãn. Theo Shinran (Thân Loan) thì điều thánh thiện nhất mà con người có thể đạt được thì gần như không là gì cả khi so với sự thánh thiện tuyệt đối trong lời nguyện của Đức Phật A-di-đà. Vì vậy Shinran (Thân Loan) nói rằng những điều tốt đẹp mà con người thực hiện qua thân khẩu ý có thể là thiện lành nhưng không thể so sánh được với sự chứng ngộ. Những điều thiện lành ấy không đưa đến sự chứng đắc nào cả. Shinran (Thân Loan) nghĩ rằng sự chứng ngộ chơn chánh chỉ có thể thật sự được chứng đạt nhờ vào Tha Lực vô biên của Đức Phật A-di-đà, chỉ cần có lòng kính tin vào sự cứu rỗi mà thôi. Trên nền tảng nhận thức như thế tông Jodoshinshu (Tịnh Độ Chân Tông) ra đời và hoằng hóa song song với tông Jodoshu (Tịnh Độ Tông) của Honen (Pháp Nhiên). Người đời sau xem Ngài là tổ khai sơn của tông Shinshu (Chân Tông).

Ngôi mộ của Shinran (Thân Loan) ở Kyoto (Đông Đô) được những người hậu duệ của Shinran (Thân Loan) gìn giữ và tôn tạo thành một ngôi chùa tên là chùa Honganji (Bổn Nguyên Tự). Vào đầu thời đại Tokugawa (Đức Xuyên) hai người con trai của Shinran (Thân Loan) chia ngôi chùa Honganji (Bổn Nguyện Tự) ra làm hai, chùa Higashi-Honganji (Đông Bổn Nguyện Tự) và chùa Nishi-Honganji (Tây Bổn Nguyện Tự). Sự chia cắt nầy có nguyên nhân từ chính sách của chính quyền đang cai trị đương thời. Hai ngôi chùa sát bên nhau, một ở phía bên Đông và một ở phía bên Tây, sau đó trở thành hội sở của hai chi phái lớn có giáo nghĩa giống nhau thuộc tông Shinshu (Chân Tông). Ngoài hai chi phái nầy còn có 8 chi phái khác cũng thuộc tông Jodoshinshu (Tịnh Độ Chân Tông) mặc dù tất cả đều theo chung một giáo nghĩa mà thôi.

f. Jishu (Thời Tông)

Bên cạnh các chi phái trên của tông Jodo (Tịnh Độ Tông), có một tông phái tên là tông Jishu (Thời Tông) cũng truyền bá pháp môn vãng sinh Tịnh Độ. Tông phái này được Ippen (Nhất Biến: 1239 - 1289) khai sáng. Ippen (Nhất Biến) đã học nơi Shotatsu (Thánh Đạt) đệ tử của Shoku (Chứng Không). Chuyện kể lại rằng Ippen (Nhất Biến) đã tọa thiền suốt 100 ngày tại một đền thời Shinto (Thần Đạo) tên là Kumanojinja (Hùng Dã Thần Xã) tại Tỉnh Kii (Kỷ-i) và được Kumano-Gongen (Hùng Dã Quyền Hiện), vị thần của ngôi đền này truyền cho một bài kệ. Giáo nghĩa của Ippen (Nhất Biến) lập cước trên bài kệ mà Ippen (Nhất Biến) đã nhận được. Ippen (Nhất Biến) dạy rằng trong Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) thì không có ý niệm về ‘ta’ và ‘người’. Bằng những điệu múa Ippen (Nhất Biến) biểu đạt cảm giác hỷ lạc, truyền dạy Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) và hành cước khắp mọi nơi. Chi phái nầy được người ta gọi là phái Yugyoha (Du Hành Phái) hay phái Yuyaku-Nembutsu (Dũng Dược Niệm Phật Phái). Phái nầy còn được gọi là Jishu (Thời Tông) vì dạy rằng mọi người nên niệm Phật ngay tức thời tại đây, nghĩ rằng giây nầy phút nầy chính là giây phút từ bỏ cuộc đời. Chùa Shojokoji (Thanh Tịnh Quan Tự) tại Fujisawa (Đằng Trạch), gần Kamakura (Liêm Thương), là hội sở của tông phái này.

2. Thiền Tông triều đại Kamakura

a. Trào Lưu Tổng Quát

Trào lưu thứ hai của Phật Giáo trong thời đại Kamakura (Liêm Thương) là Phật Giáo Thiền Tông. Thiền Tông hướng tới việc phục hưng Phật Giáo, làm cho Phật Giáo được khôi phục trở lại như Phật Giáo trong thời kỳ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni còn tại thế. Thiền Tông ở đây được chia thành hai nhóm. Một nhóm tìm cách phục hưng tông Konantoritsu (Cổ Nam Đô Luật Tông) còn được gọi là nhóm Shibunritsu (Tứ Phần Luật Tông), đứng lên chống lại những giới điều Đại Thừa ở núi Hiei (Tỷ-duệ) mà theo họ là đã bị hủ bại; nhóm kia có chiều hướng cũng cố trang nghiêm đời sống của tăng sĩ bằng pháp môn Thiền mới du nhập từ Trung Quốc vào. Hai nhóm Phật Giáo nầy đều sơ phát và được kích thích bởi dòng tư tưởng chủ đạo Mạt Pháp (Mappo). Tông chỉ của Thiền Tông là sự chứng ngộ được Phật Tánh vốn sẳn có của con người.

Có những vị cố gắng làm sống lại con đường giới luật như Jokei (Trinh Khánh: 1155 - 1213) còn gọi là Gedatsushonin (Giải Thoát Thượng Nhân) ở vùng Kasagiyama (Lạp Trí Sơn), Nara (Nại Lương). Kakujo (Giác Thạnh: 1194 - 1249) là vị ra công cứu vãn chùa Toshodaiji (Đường Chiêu Đề Tự) khỏi số phận điêu tàn của nó; Eizon (Duệ-tôn: 1201 - 1290) là vị thành lập Ritsu (Luật Tông) tại chùa Saidaiji (Tây Đại Tự) ở Nara (Nại Lương); Ryohen (Lương Nguyên: 1184 - 1252) còn gọi là Shingan-Shonin (Tín Nguyện Thượng Nhân) ở Ikomayama (Sinh Cư Sơn), Nara (Nại Lương); Ensho (Yên Chiếu: 1220 - 1277) hoằng hóa tại Kaidan’in (Giới Đàn Viện), chùa Todaiji (Đông Đại Tự) ở Nara (Nại Lương); Gyonen (Ngưng Nhiên: 1240 - 1321), đệ tử của Ensho (Viên Chiếu), là vị tu học tại Kaidan’in (Giới Đàn Viện). Shunjo (Tuấn Tú: 1166 - 1227) là vị đã đến Trung Hoa vào năm 1199 để tham học các giáo nghĩa của Tendai (Thiên Thai), Mikkyo (Mật Giáo), Zen (Thiền Tông), Shunjo (Tuấn Tú) còn được thừa truyền giáo nghĩa chính thống của tông Nanzan-Ritsushu (Nam Sơn Luật Tông) rồi trở về Nhật-bản năm 1211. Shunjo (Tuấn Tú) đã cử hành lễ truyền giới cho 2 vị cựu thiên hoàng Gotoba (Hậu Điểu Vũ) và Juntoku (Thuận Đức), thành lập chùa Sennyuji (Tuyền Thông Tự), Kyoto (Đông Đô) để làm trung tâm nghiên cứu và thực hành các Tông Thiên Thai, Thiền và Luật. Tông phái của Shunjo (Tuấn Tú) được đặt tên là Hokkyo-Ritsu (Bắc Kinh Luật Tông) để phân biệt với Nanto-Ritsu (Nam Đô Luật Tông). Ngoài ra còn có Koben (Cao Biện: 1173 - 1232) là vị được tôn tặng danh hiệu Myoe-Shonin (Minh Tuệ Thượng Nhân) của xứ Toganooyama (Mai Vĩ Sơn). Koben (Cao Biện) nổi tiếng về thành quả học thuật và công phu tu tập. Koben (Cao Biện) chuyên hành trì theo kinh Kegon (Kinh Hoa Nghiêm) đồng thời kính trọng Mikkyo (Mật Tông) và Ritsu (Luật Tông). Shunjo (Tuấn Tú) và Koben (Cao Biện) là 2 vị uyên bác hành hóa quanh khu vực Kyoto (Đông Đô).

Trong những vị trên có một số vị thâm tín giáo nghĩa của tông Jodo (Tịnh Độ Tông) nhưng cũng có những vị trực diện phản đối tông Jodo (Tịnh Độ Tông) mới mẽ nầy. Cụ thể là hai vị thạc học Jokei (Trinh Khánh) và Koben (Cao Biện) thuộc phía chính thống đã phản đối tông Jodo (Tịnh Độ Tông) mới mẽ của Honen (Pháp Nhiên). Lúc đó, giới luật của Đại Thừa do Saicho (Tối Trừng) xiển dương có nền tảng là sự tự chế và mang nội dung tâm linh hơn là thiên về hình thức và tập quán. Điều này có nghĩa rằng giới luật Đại Thừa đã linh động hơn về phương diện hành trì. Cá nhân người hành trì chính là người duy nhất phán quyết nó là như thế nào nên giới luật Đại Thừa có thể là một hệ thống rất là nghiêm chỉnh mà cũng có thể là một hệ thống rất là khoáng đạt. Kể từ khoảng giữa của thời kỳ Heian (Bình An) trở về sau thì khuynh hướng ngấm ngầm ủng hộ cho giới luật Đại Thừa từ thời trứng nước đã hoàn toàn bị chìm vào quên lãng. Giới luật Đại Thừa thực tế đã trở thành một cơ sở lý luận để bào chữa cho đời sống hủ hóa của tăng sĩ. Quan niệm sái quấy như vậy làm phát sinh nhu cầu cải cách, cụ thể là dưới hình thức những giáo lý Phật Giáo mới mẽ thời Kamakura (Liêm Thương) được thể hiện trong 3 điều: (1) Giáo nghĩa của tông Jodo (Tịnh Độ Tông) với cái nhìn sâu vào sự u mê và bất toàn của con người, cội nguồn của đau khổ; giáo nghĩa nầy dạy về pháp môn từ ái của đức Phật A-di-đà cứu độ chúng sinh mà không hề đặt ra một điều kiện nào cả; (2) Một cuộc vận động kêu gọi việc nghiêm trì giới luật do Phật chế; và (3) Du nhập giáo nghĩa Thiền Tông từ Trung Quốc; đây là một giáo lý chủ trương hành động và thực nghiệm.

b. Yosai (Vinh Tây)

Trong một chừng mực nào đó Thiền Tông được dân Nhật-bản biết đến ngay từ thời Phật Giáo mới du nhập vào nước nầy. Nhưng chỉ đến khi Yosai (Vinh Tây: 1141 - 1215) bắt đầu thuyết giáo ở Kyushu (CữuChâu) thì Thiền Tông mới trở nên phổ biến. Yosai (Vinh Tây) đã tham học giáo nghĩa của Thiên Thai Tông (Tendaishu) và Mật Tông (Mikkyo) ở núi Hiei (Tỷ-duệ). Vào năm 1168 Yosai (Vinh Tây) đến núi Thiên Thai, Trung Quốc và hồi hương vào năm sau. Yosai (Vinh Tây) quay trở lại Trung Quốc vào năm 1187 và hồi hương vào năm 1191 sau khi thọ học được Thiền Rinzai (Thiền Lâm Tế). Yosai (Vinh Tây) đã khai sơn chùa Shofukuji (Thánh Phước Tự) ở Hakata (Bát-đa), Kyushu (CữuChâu) và hoằng truyền thiền tông tại đây. Sau đó Ngài khai sơn chùa Jufukuji (Thọ Phước Tự) ở Kamakura (Liêm Thương). Vào năm 1202 tức là năm thứ hai của Triều đại Kennin (Kiến Nhân) Yosai (Vinh Tây) lại khai sơn chùa Kenninji (Kiến Nhân Tự) ở Kyoto (Đông Đô). Ngày nay chùa Kenninji (Kiến Nhân Tự) là hội sở của phái Kenninji (Phái Kiến Nhân Tự) thuộc Tông Lâm Tế (Rinzai). Tại chùa nầy, Ngài đã giảng dạy giáo nghĩa Thiền, Mật (Mikkyo) và Thiên Thai (Tendai).

c. Dogen (Đạo Nguyên)

Dogen (Đạo Nguyên: 1200 - 1253) cũng đã thọ học ở núi Hiei (Tỷ-duệ), sau đó tham kiến Yosai (Vinh Tây) tại chùa Kenninji (Kiến Nhân Tự). Vào năm 1223 Dogen (Đạo Nguyên) đến Trung Hoa và học Thiền với Nyojo (Như Tịnh: 1163 - 1228) tại núi Tien-tung (Thiên-đồng). Năm 1228 Dogen (Đạo Nguyên) quay về Nhật-bản và trú tại chùa Kenninji (Kiến Nhân Tự). Năm 1230 Dogen (Đạo Nguyên) đi qua Annyoin (An Dưỡng Viện) ở Fukakusa (Thâm Thảo), Kyoto (Đông Đô). Vào những năm cuối đời Dogen (Đạo Nguyên) lại chuyển đến Echizen (Việt Tiền) và khai sơn chùa Eiheiji (Vĩnh Bình Tự). Ngày nay chùa Eiheiji (Vĩnh Bình Tự) là hội sở của dòng Thiền Soto (Tào Động).

d. Truyền Bá Thiền Tông

Dogen (Đạo Nguyên) truyền xuống cho Ejo (Hoài Trang), Ejo (Hoài Trang) truyền xuống cho Gikai (Nghĩa Giới), và Gikai (Nghĩa Giới) truyền xuống cho Jokin (Thiệu Cẩn: 1268 - 1325). Jokin (Thiệu Cẩn) đi nhiều nơi để giảng thuyết Thiền Tông và khai sơn chùa Sojiji (Chùa Tổng Trì) ở Noto (Năng-đăng). Chùa Sojiji (Chùa Tổng Trì) bị hỏa vào năm 1898 và được chuyển dời đến Tsurumi (Nhạn-kiến), gần Yokohama (Hoành Tân)[2]. Ngày nay, chùa Sojiji (Chùa Tổng Trì) là một trong những hội sở của dòng Sotoshu (Dòng Tào Động) thuộc Phật Giáo Thiền Tông. Bennen (Biện Viên: 1202 - 1280) đi sang Trung Hoa vào năm 1235 và hồi hương năm 1241. Bennen (Biện Viên) đã khai sơn chùa Sofukuji (Thánh Phước Tự) ở Hakata (Bác-đa), sau đó khai sơn chùa Tofukuji (Đông Phước Tự) ở Kyoto (Đông Đô) dưới sự bảo trợ của dòng họ Fujiwara (Đằng Nguyên). Vào năm 1312, thiên hoàng Hanazono (Hoa Viên) truy tặng thụy hiệu “Shoichi - Kokushi” (Thánh Nhất Quốc Sư) cho Bennen (Biện Viên). Vinh dự nầy có lẽ là do công lao của Bennen (Biện Viên) giảng dạy Thiền Tông cho cựu thiên hoàng Gosaga (Ta-nga), nhờ đó giáo lý Thiền đã ảnh hưởng rất lớn đến giai cấp quí tộc. Có nhiều Kokushi (Quốc Sư) nhưng Bennen (Biện Viên) là người đầu tiên vinh dự có được danh hiệu “Shoichi - Kokushi” (Thánh Nhất Quốc Sư). Đệ tử của Bennen (Biện Viên) là Fumon (Phổ Môn: 1212 - 1291) đi sang Trung Hoa vào năm 1251 và hồi hương năm 1262. Cựu thiên hoàng Kameyama (Long Sơn) đến cầu pháp và đã cúng dường Fumon (Phổ Môn) một biệt điện để làm chùa. Đó là chùa Nanzenji (Nam Thiền Tự) ở Higashiyama (Đông Sơn), Kyoto (Đông Đô).

Ngoài những vị tăng trí thức Nhật-bản đi sang Trung Hoa để tham học thì cũng có những vị tăng trí thức người Trung Hoa đến Nhật-bản để truyền bá Thiền Tông. Rankei-Doryu (Lan Khê Đạo Long: 1213 - 1278) đến Nhật-bản vào năm 1246. Được sự ủng hộ của Hojo-Tokiyori (Bắc-điều Thời-lại), Rankei-Doryu (Lan Khê Đạo Long) khai sơn chùa Kenchoji (Chùa Kiến Trường) ở Kamakura (Liêm Thương). Chẳng bao lâu sau khi viên tịch Rankei-Doryu (Lan Khê Đạo Long được thiên hoàng thứ 91 Gouda (Hậu-vũ-đa) truy tặng thụy hiệu Daikaku-Zenji (Đại Giác Thiền Sư). Đây là khởi thủy của thụy hiệu Zenjji (Thiền Sư) do các vị thiên hoàng đương nhiệm phong tặng. Về sau tước hiệu nầy được thiên hoàng ban tặng cho các vị thiền sư trong nhiều trường hợp khác nhau.

Vào năm 1270, Mugaku-Sogen (Vô-học Tổ-nguyên: 1226 - 1286) đi sang Nhật-bản và trở thành vị trụ trì đời thứ hai của chùa Kenchoji (Chùa Kiến Trường) sau khi vị tiền nhiệm trụ trì Doryu (Đạo-long) viên tịch. Nhưng ba năm sau đó Mugaku-Sogen (Vô-học Tổ-nguyên) trở thành vị trụ trì đầu tiên của chùa Engakuji (Chùa Viên Giác) do Hojo-Tokimune (Bắc-điều Thời-tông) xây dựng. Khi đoàn quân Mông-cổ xâm lăng Nhật-bản, người ta kể lại rằng Mugaku-Sogen (Vô-học Tổ-nguyên) đã hổ trợ tinh thần cho Tokimune (Thời-tông) để đánh tan đội quân xâm lược. Cả 2, chùa Kenchoji (Chùa Kiến Trường) và chùa Engakuji (Chùa Viên Giác) đều được chính quyền Kamakura (Liêm Thương) ủng hộ.

Các ngôi chùa này đều thực hành pháp môn thiền định và có vị thế độc lập với Thiên Thai Tông (Tendaishu) và những ngôi chùa khác ở các cố đô.

Ngoài ra còn có Shomyo (Thiên-minh: 1235 - 1309) đã từng cầu pháp với Doryu (Đạo-long), đi đến Trung Hoa vào năm 1259 rồi hồi hương năm 1267 ; Soseki (Sơ-thạch: 1275 - 1351) còn có danh hiệu là Muso-Kokushi (Mộng-song Quốc Sư) đã thọ học giáo nghĩa của phái Sogen (Tổ-nguyên). Lúc ấy có nhiều bậc trí giả đi sang Trung Hoa cầu pháp rồi trở về Nhật-bản hoằng truyền Thiền Tông. Vì vậy ở Kyoto (Đông Đô) và Kamakura (Liêm Thương) có những ngôi chùa lớn thuộc Gozan (Ngũ Sơn) được thành lập song song với các chùa phụ thuộc tên là Jissetsu (Thập Sát). Hầu hết những ngôi chùa nầy đều thuộc Tông Lâm Tế (Rinzai).

Nhưng trong nhiều thời kỳ cũng có người tu theo thiền Tào Động (Soto) đặc biệt là những người thuộc giai cấp tướng sĩ kể cả giai cấp hoàng tộc và quý tộc (kuge).

Giáo lý của tông Jodo (Tịnh Độ Tông) không phải là không được giai cấp quý tộc và tướng sĩ chấp nhận và hành trì nhưng vì giáo lý nầy dễ tu dễ theo nên lực lượng chủ yếu vẫn là đông đảo quần chúng. Ngược lại, Thiền Tông (Zen) đòi hỏi phải hành trì nghiêm túc và lại đồng hành với những tinh hoa văn hóa cao cấp nên thiền tông được phổ biến mạnh trong giai cấp tướng sĩ.

Trong thời điểm này dòng Thiền Tào Động (Soto)cũng được giai cấp tướng sĩ và các thành viên trong hoàng gia và quý tộc hành trì.

Các học giả Thiền Tông, những thiền sư uyên bác còn mang về Nhật-bản văn hoá cụ thể là các loại hình nghệ thuật của Trung Hoa như các loại hình nghệ thuật như văn chương Trung Hoa, cách viết chữ Trung Quốc, nghệ thuật cắm hoa, trà đạo, nghi lễ dâng hương, hội họa và nghệ thuật thuỷ mặc bắt đầu du nhập đến Nhật-bản. Các loại hình nghệ thuật này đã trở nên phổ biến song song với việc truyền bá Thiền Tông.

Không nên kết luận rằng giáo lý tông Jodo (Tịnh Độ Tông) không được chấp nhận trong giai cấp quí tộc và tướng sĩ mặc dầu tầng lớp bình dân thì dễ dàng chấp nhận giáo lý tông Jodo (Tịnh Độ Tông) hơn. Trái với tông Jodo (Tịnh Độ Tông), Thiền Tông (Zen) đã được đón nhận và tu tập một cách long trọng và được giai cấp tướng sĩ và những tín đồ có trình độ văn hóa cao tu theo.

3. Nichirenshu (Nhật Liên Tông)

Trào lưu thứ ba của Phật Giáo khởi đầu trong thời đại Kamakura (Liêm Thương) là giáo lý của Nichiren (Nhật Liên: 1222 - 1282). Nichiren (Nhật Liên) chứng kiến sự hưng khởi của tông Jodo (Tịnh Độ Tông), Ritsu (Luật Tông) và Zen (Thiền Tông). Nichiren (Nhật Liên) cũng thấy sự hiện hữu tiềm tàng của Phật Giáo Mật Tông (Mikkyo) của thời kỳ Heian (Bình An) đồng thời Nichiren (Nhật Liên) lại thấu đạt được giáo nghĩa của kinh Hokekyo (Kinh Pháp Hoa) được soi rọi trong ánh sáng của thời đại mà Nichiren (Nhật Liên) đang sống. Giáo nghĩa nầy là dòng chủ lưu của Phật Giáo thời Hiei (Tỷ-duệ Sơn).

Nichiren (Nhật Liên: 1222 - 1282) chào đời ở Kanto (Quan Đông) và tu học tại Kamakura (Liêm Thương). Nichiren (Nhật Liên) đi đến núi Hiei (Tỷ-duệ Sơn) rồi lại đi Nara (Nại-lương) và núi Koya (Cao-dã). Sau đó Nichiren (Nhật Liên) trở về Kanto (Quan Đông). Vào một buổi sáng mùa hè năm 1253 trên đỉnh núi Kiyosumi (Thanh Trừng), Nichiren (Nhật Liên) chứng kiến quang cảnh mặt trời mọc ở Phương Đông và khấn nguyện danh hiệu Namu-Myohorengekyo (Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh). Đó là phát tích khai nguồn giáo nghĩa của Nichiren (Nhật Liên). Sau đó Nichiren (Nhật Liên) đến Kamakura (Liêm Thương) và thuyết giáo khắp các phố phường. Nichiren (Nhật Liên) công khai phê phán tư tưởng Phật Giáo của tất cả các tông phái khác như Jodo (Tịnh Độ Tông), Zen (Thiền Tông), Shingon Mikkyo (Chơn Ngôn Mật Tông), và Ritsu (Luật Tông). Nichiren (Nhật Liên) tuyên bố rằng Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) là con đường dẫn xuống địa ngục, rằng Zen (Thiền Tông) là phương pháp mà Đức Phật không hề giảng dạy mà chính là do chư thiên, bọn ác ma và ác quỷ giảng dạy; rằng Shingon (Chơn Ngôn Tông) chỉ là một mớ lễ lượt đưa đất nước đến chổ lụi tàn; và rằng Ritsu (Luật Tông) không đào tạo người dân thành vốn quý của quốc gia mà chỉ khiến cho họ trở thành những kẻ phản bội và gieo rắc tai họa cho đất nước. Lớn tiếng chỉ trích các Tông phái khác, Nichiren (Nhật Liên) nhấn mạnh tầm quan trọng của đức tin vào kinh Myohorengekyo (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa). Nhận thức được rằng các tông phái Phật Giáo bấy giờ trong một mức độ nào đó đang rơi vào tình trạng suy đồi, người ta có thể đồng cảm được với những lời chỉ trích gay gắt của Nichiren (Nhật Liên) nhưng lòng sôi nổi của Nichiren (Nhật Liên) mạnh quá mức, Nichiren (Nhật Liên) tấn công quá đáng và nhiều lần dữ dội kêu réo chính quyền nên Nichiren (Nhật Liên) bị phạt và phải đi đày ở Izu (Y-đậu) và đảo Sado (Đảo Tá-độ). Nichiren (Nhật Liên) tuyên bố rằng tất cả những áp lực đó chỉ là những chuyện đã được kinh Myohorengekyo (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa) dự báo trước và như vậy chỉ có nghĩa là sự thật đã được hiển lộ. Nichiren (Nhật Liên) không hề khuất phục và viết những quyển sách để trình bày về niềm xác tín của mình. Những năm cuối đời Nichiren (Nhật Liên) được khoan hồng và được phép trở về Kamakura (Liêm Thương). Ngài khai sơn chùa Kuonji (Chùa Cữu Viễn) ở núi Minobu (Thân-diên), địa phận Yamanashi (Sơn-lê), và chùa Kuonji (Chùa Cữu Viễn) trở thành trụ sở của Ngài. Nichiren (Nhật Liên) thị tịch tại chùa Hommonji (Chùa Bổn Môn), Ikegami (Trì Thượng), Tokyo (Đông Kinh) nhưng lại được mai táng ở Minobu (Thân-diên). Nichiren (Nhật Liên) đã đặt thêm hai chữ Trung Hoa “Nam-mô” trước danh hiệu của kinh Myohorengekyo (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa) và cho viết chung quanh danh hiệu nầy có tất cả những danh hiệu của chư Phật, chư Bồ-tát và danh hiệu của những vị thần cổ xưa của Nhật-bản để người ta thờ cúng. Đây quả thật là một ý tưởng độc đáo để duy trì truyền thống của Thiên Thai Tông (Tendaishu) có nguồn gốc từ Trung Quốc và cô đọng truyền thống nầy vào danh hiệu của một bộ kinh. Nhưng sự thật không thể không nhận thấy là trong ý tưởng đó có ảnh hưởng rõ nét của tông Tendaishu (Tông Thiên Thai) Nhật-bản, tông nầy đã phát triển từ những năm tháng giữa thời đại Heian (Bình An), và cũng có ảnh hưởng của Shingon Mikkyo (Chơn Ngôn Mật Tông), và của Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) đã từng hưng thịnh dưới oai đức của Honen (Pháp Nhiên).

Nichiren (Nhật Liên) luôn giữ vững lập trường của mình và chưa bao giờ khuất phục trước những ngược đãi liên tục đồng thời đã tu tập theo giáo lý kinh Myohorengekyo (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa) bằng những pháp môn thực tiễn tương ứng với tình trạng đất nước Nhật-bản. Trong pháp môn nầy có những điều mà chúng ta thấy không có trong các tông phái khác ở Nhật-bản. Sau khi Nichiren (Nhật Liên) viên tịch, môn đệ của Nichiren (Nhật Liên) đã gìn giữ giáo lý này cùng với hội sở tại núi Minobu (Thân-diên) và đi hoằng hóa nhiều nơi. Nichizo (Nhật Tượng: 1269 - 1342) khai sơn và hoằng hóa tại chùa Myokenji (Chùa Diệu Hiển) ở Kyoto (Đông Đô). Nichiryu (Nhật Long: 1385 - 1464) khai sơn chùa Honkoji (Chùa Bổn Hưng) tại Amagasaki (Ni-lực-kỳ) và chùa Honnoji (Chùa Bổn Năng) ở Kyoto (Đông Đô). Nichiko (Nhật Hưng: 1245 - 1332) là một trong năm vị trưởng lão khai sơn chùa Daisekiji (Chùa Đại Thạch) dưới chân núi Fuji (Núi Phú Sĩ) và Nichison (Nhật Tôn) đệ tử của Nichiko (Nhật Hưng) khai sơn chùa Yoboji (Chùa Yếu Pháp) ở Kyoto (Đông Đô). Nichiju (Nhật Thập) khai sơn chùa Myomanji (Chùa Diệu Mãn) ở Kyoto (Đông Đô) và Nichiju (Nhật Thập) trở thành tổ khai sơn tông Kempon-Hokkeshu (Hiển Bổn Pháp Hoa Tông). Như vậy giáo nghĩa tông Nichirenshu (Tông Nhật Liên) đã được truyền bá khắp nước Nhật-bản, đặc biệt trong giới quần chúng. Ngày nay tông Nichirenshu (Tông Nhật Liên) là một trong những tổ chức Phật Giáo lớn nhất ở Nhật.

4. Những đặc điểm của Phật Giáo Kamakura (Liêm Thương)

Mọi Tông Phái như tông Jodoshu (Tịnh Độ Tông), Jodoshinshu (Tịnh Độ Chân Tông) và Jishu (Thời Tông) đều phụng thờ chung Đức Phật A-di-đà nhưng cũng thờ thêm các vị tổ khai sơn như Honen (Pháp Nhiên), Shinran (Thân Loan), và Ippen (Nhất Biến). Trong Jodoshinshu (Tịnh Độ Chân Tông) thì Nagarjuna (Long Thọ) và Vasubandhu (Thế Thân) của An-độ; Donran (Đàm Loan), Doshaku (Đạo Xước), và Zendo (Thiện Đạo) của Trung Hoa; Genshin (Nguyên Tín) và Honen (Pháp Nhiên) của Nhật-bản; được gọi là “Thất Đại Tổ Sư” có công truyền thừa giáo lý tông Jodoshu (Tịnh Độ Tông) đến thời đại của Shinran (Thân Loan). Thái Tử Shotoku (Xứng Đức) cũng được tôn sùng như một vị Tổ Sư đã gieo hạt giống Phật-đà vào mảnh đất Nhật-bản. Người con Phật Nhật-bản sáng chiều đều lễ bái những vị tổ sư trên để tưởng niệm công đức hoằng truyền chánh pháp phổ độ chúng sinh mà các chư lịch đại tổ sư đã làm được. Trong các tự viện của Rinzai (Dòng Thiền Lâm Tế) và Soto (Dòng Thiền Tào Động) người ta tôn trí phụng thờ tượng Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, vị tổ sư khai sơn cùng với lịch đại tổ sư của từng Tông Phái riêng biệt. Tông Nichirenshu (Tông Nhật Liên) lại thờ cúng thêm Monji-Mandara (Văn Tự Mạn-đà-la) ngoài vị tổ sư khai sơn cùng lịch đại chư vị tổ sư theo từng ngôi chùa.


[1] Chỉ cho Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm mà người tu phát nguyện để được vãng sanh Tịnh độ. Tương đương với Chí tâm, Tín nhạo tâm, Dục sanh tâm của điều nguyện thứ 18 trong 48 điều nguyện của đức Phật A-di-đà. (chú thích của ND)

[2] là một thành phố hải cảng quan trọng của Nhật-bản (chú thích của ND)

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: