CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Lược sử Phật giáo Nhật Bản - Chương 7

     

 

LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN

GS. Shinsho Hanayama

Tiến sĩ Thích Minh Thành dịch

            Nhà xuất bản TP.HCM - 2001  

Lời nói đầu

Lời người dịch

Chương 1: Phật Giáo Nhật-bản thời du nhập

Chương 2: Hoàng tử Shotoku (Xứng-đức)

Chương 3: Cuộc cải cách Taika

Chương 4: Phật Giáo thời Nại-lương

Chương 5: Phật Giáo Thời Bình An

Chương 6: Phật Giáo triều đại Liêm Thương

Chương 7: Thời cận đại và hiện tại

Chương 7: THỜI CẬN ĐẠI VÀ HIỆN TẠI

Vào năm 1334, năm đầu tiên của Triều đại Kammu (Hoàn Vũ), hoàng đế Godaigo (Hậu Đề-hồ) là vị thiên hoàng thứ 96 đã lật đổ Chính phủ Tướng quân thời Kamakura (Liêm Thương) khôi phục lại quyền lực cho nhà vua. thiên hoàng đã trao chính quyền cho giai cấp quí tộc để thay thế cho giai cấp tướng sĩ. Nhưng có một số người chống đối chính quyền mới; việc này đưa đến một thời kỳ phân hóa Nambokucho (Nam Bắc Triều) với những đảng phái đối lập nhau kéo dài khoảng 60 năm. Nam Triều đóng đô ở Yoshino (Cát-dã) gần Nara (Nại-lương), thiên hoàng đã thiên đô về đây mang theo Sanshu-no-Jingi (Tam Chủng Thần Khí) là kính báu, gươm báu và dây chuyền báu biểu trưng cho uy quyền trị vì nước Nhật-bản. Bắc Triều đóng đô ở Kyoto (Đông Đô) được sự hổ trợ của một nhóm tướng sĩ khác. Hai đảng phái này đều sử dụng Phật Giáo vì vậy mà các chùa chiền, tự viện cũng không thể đứng ngoài những hổn loạn của cuộc nội chiến nầy. Sự ra đời của chính quyền Ashikaga (Túc Lợi) ở Muromachi (Thất Đinh), Kyoto (Đông Đô), đã khiến cho những phe phái kết hợp lại với nhau dưới sự lãnh đạo của một vị thiên hoàng.

1. Từ thời Muromachi (Thất Đinh) đến thời Toyotomi (Phong Thần Tú Các):

Chính quyền Muromachi (Thất Đinh) tồn tại được 180 năm, trong thời gian nầy có nhiều vị thiền sư du hành qua lại giữa Nhật-bản và Trung Hoa. Soseki (Sơ Thạch) khai sơn chùa Tenryuji (Chùa Thiên Long) ở Saga (Ta-nga), Kyoto (Đông Đô). Ngôi chùa nầy do Ashikaga-Takauji (Túc Lợi Tôn Thị) xây dựng để tưởng nhớ Hoàng Đế Godaigo (Hậu Đề-hồ). Để nhang khói cho linh hồn những chiến sĩ trận vong thuộc cả hai phe nội chiến, người em trai của Takauji (Tôn Thị) tên là Naoyoshi (Trực Nghĩa) cho xây dựng những ngôi chùa Ankokuji (Chùa An Quốc) – chùa mang lại sự bình an cho tổ quốc, và những tháp thờ Rishoto (Tháp Lợi Sinh) – tháp ban rải phước lành cho dân khắp 66 tỉnh thành và 02 hòn đảo với mục đích là hoằng truyền giáo nghĩa của nhà Thiền. Đồng thời cũng có nhiều chùa Rinza (Chùa Lâm Tế) được xây dựng. Ashikaga-Yoshimitsu (Túc Lợi Nghĩa Mãn) xây dựng chùa Kinkakuji (Chùa Kim Các) trong điền trang của mình ở Kitayama (Bắc Sơn), Kyoto (Đông Đô). Ashikaga-Yoshimasa (Túc Lợi Nghĩa Chính) xây dựng chùa Ginkakuji (Chùa Ngân Các) trong điền trang của mình ở Higashiyama (Đông Sơn), Kyoto (Đông Đô). Họ đã thu nhỏ những kiến trúc Phật Giáo mang nét đặc trưng của lục địa và đưa vào đời sống bình thời. Giữa rừng cây và hồ nước là những ngôi nhà đơn sơ thanh tú với những bức tranh thủy mặc trắng đen. Trong gian chashitsu (trà thất) nho nhỏ một người nào đó đang ngồi nhìn một góc nhỏ của cảnh trí u tịch nơi đây mà tiếp nhận cảm quan mênh mông của vũ trụ; trong một cành nhỏ mà thấy được cái đẹp viên mãn của trăm hoa. Đó chính là tinh túy của Kado (Hoa Đạo), nghệ thuật cắm hoa của Nhật-bản. Nghệ thuật cắm hoa không chỉ đơn thuần là sự sắp xếp sắc màu và hình dáng sao cho thanh tú và vui mắt. Có cái gì đó khác hơn những cái mà người ta đang thấy bằng mắt, một phong cách sống trầm lắng chìm vào trong tĩnh lặng và thanh thản, sâu thẩm và tinh tế. Mảnh vườn yên ả ở chùa Tenryuji (Chùa Thiên Long), chùa Saihoji (Chùa Tây Phương)[1], và chùa Ryuanji (Chùa Long An) ở Kyoto (Đông Đô) đều là tác phẩm của những thiền sư. Trong thời đại đó những ngôi chùa trên đều là những trung tâm văn hóa với những nhà sư không những uyên bác về giáo nghĩa của Phật Giáo Thiền mà còn biết vận dụng kiến thức mà mình có được để hổ trợ cho triết học của Khổng Giáo đời Sung (Tống) cho được phát triển. Rất uyên bác về thơ phú, văn chương, thư pháp và hội họa, những nhà sư nầy đã biên soạn về Phật Giáo cũng như về những tác phẩm cổ điển của Trung Hoa. Sesshu (Tuyết Châu: 1420 - 1506) còn gọi là Tuyết Châu Đẳng Duơng, thuộc dòng Rinzai Zen (Dòng Lâm Tế) người làng Bị Trung nay là huyện Cương Sơn là một điển hình của thời đại Muromachi (Thất Đinh). Vào đời Minh, sư đến núi Thiên Đồng, Trung Quốc tu học rồi trở về Nhật-bản trú ở Am Vân Cốc, Yamaguchi (Sơn Khẩu). Tranh thủy mạc của Sư tạo thành một trường phái riêng, gọi là Phái Vân Cốc với nét bút mạnh mẽ nhất là các bức tranh vẽ hoa và chim. Học trò của Sư rất đông. Các bức tranh do chính Sư vẽ như Thích Tôn Xuất Sơn Đồ, Quán Âm Tượng, Huệ Khả Đoạn Tý Cầu Pháp Đồ rất nổi tiếng.[2] Kiến thức về nghệ thuật cắm hoa và trà đạo dần dần trở nên hoàn thiện và phổ biến trong dân gian và nối truyền cho đến ngày nay.

Những tông phái khác xuất hiện trong thời kì Kamakura (Liêm Thương) cũng tỏ ra tích cực trong đó có Nhật Liên Tông, đặc biệt là giáo lý của Shinran (Thân-loan: 1173 - 1262) được Rennyo (Liên Như: 1415 - 1499) nhiệt tâm tận lực truyền bá rộng khắp nước Nhật. Trong khi Rinzai Zen (Thiền Lâm Tế)phổ biến trong giới quí tộc và giới samurai (hiệp sĩ), tức là giai cấp thượng lưu, thì Thiền Soto (Tào Động) được truyền bá cho quảng đại dân chúng.

Nhưng chính quyền Muromachi (Thất Đinh) ở Kyoto (Đông Đô) lại không đủ thế lực như những chính quyền trước nó. Nhiều lãnh chúa xuất hiện và tìm kiếm cơ hội để thống nhất toàn bộ đất nước để làm bá chủ. Chiến tranh loạn lạc khắp nơi. Và dĩ nhiên là Thiền đến với giai cấp tướng sĩ trong tình cảnh mà mạng sống hiện tại của họ trở nên bèo bọt và một tương lai mù mịt không có gì hứa hẹn. Cũng trong tình cảnh đó thì quần chúng lại tìm đến với Tịnh Độ Tông tìm kiếm một nơi cư trú an ổn hơn vì hiện tại của họ quá đổi bấp bênh. Tình trạng như vậy kéo dài một thời gian khá lâu, kết cuộc Oda-Nobunaga (Chức Điền Tín Trường: 1534 - 1582) nắm được quyền lực, chẳng bao lâu sau đó quyền lực về tay Toyotomi-Hideyoshi (Phong Thần Tú Cát: 1536 - 1598), rồi đến Tokugawa-Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang: 1542 - 1616) nổi lên nắm lấy quyền bính. Đây là thời của bạo lực, lý lẽ phải nhường chổ cho bạo lực. Bạo lực giải quyết mọi vấn đề. Thiên Thai Tông (Tendaishu) ở núi Hiei (Núi Tỷ-duệ) và Chơn Ngôn Tông (Shingonshu) ở núi Koya (Núi Cao-dã) và núi Negoroyama (Núi Căn-lai) đã dùng tăng binh để giữ gìn đất đai; tông Jodoshinshu (Tịnh Độ Chân Tông)[3] và tông Nichirenshu (Tông Nhật Liên) lại được dân chúng ủng hộ. Sau đó, Oda-Nobunaga (Chức Điền Tín Trường: 1534 - 1582) và Toyotomi-Hideyoshi (Phong Thần Tú Cát: 1536 - 1598) dần dần chế ngự được những cuộc nổi dậy và bạo loạn dù vậy nhiều ngôi chùa đã bị hỏa thiêu một số chùa khác thì bị chiếm đoạt bằng thủ đoạn. Cuối cùng cũng đến thời kỳ không còn tăng binh và các cuộc bạo động của dân chúng nữa.

2. Thời Tokugawa (Đức Xuyên)

Năm 1606, Tokugawa-Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang) xây dựng một tòa lâu đài ở Edo (Giang Hộ), tức là Tokyo (Đông Kinh) ngày nay và bắt đầu thực thi quyền lực thì nền hòa bình mới được vãn hồi. Các chùa chiền phải tự tồn tại dựa trên những mảnh đất cằn cỗi được chính phủ cho phép. Oda-Nobunaga (Chức Điền Tín Trường: 1534 - 1582) ra tay bảo vệ con chiên của Gia-tô Giáo[4] và đàn áp Phật Giáo. Nhưng vào năm 1587, Toyotomi-Hideyoshi (Phong Thần Tú Cát: 1536 - 1598) ra tuyên bố cấm chỉ Gia-tô Giáo vì ông thấy dấu hiệu của thái độ bài Nhật trong hàng ngũ của con chiên. Tín đồ Gia-tô Giáo đã phản ứng cực kỳ mạnh mẽ chống lại lệnh cấm nầy. Biện pháp cuối cùng của chính phủ Edo (Giang Hộ) là chính sách bế quan tỏa cảng, không giao thương với thế giới bên ngoài. Mặc khác, mọi tộc họ khắp nước Nhật bị bắt buộc phải theo một ngôi chùa nào đó. Họ được gọi là danka (đàn gia), có nghĩa là người ủng hộ cho nhà chùa, và mọi thủ tục dân sự của họ như khai sinh, giá thú, khai tử, ma chay, đi lại đều phải đăng ký với nhà chùa. Như vậy, nhà nước bảo hộ chùa chiền và tham vấn nhà chùa mỗi khi có những chính sách đối với Phật Giáo. Những tên tuổi tiêu biểu cho thời đại nầy là Suden (Sùng Truyền: 1569 - 1633) thuộc Tông Lâm Tế và Tenkai (Thiên Hải: 1536 - 1643) thuộc Tông Thiên Thai. Suden “người Kyoto (Đông Đô), họ Nhất Sắc, tự Dĩ Tâm, xuất gia từ thuở nhỏ, thờ Tây Tiếu Thừa Đoài, Chùa Tướng Quốc làm thầy, sau học Mật Giáo 3 năm tại Viện Tam Bảo, Daigo. Năm 1608, Sư được Đức Xuyên Gia Khang mời đến Sunshu phụ trách về việc ngoại giao văn thư. Sau đó, Sư thường lui tới giữa Sunshu Edo Kyoto để tham dự các cuộc hội nghị về sự lãnh đạo của tự xã. Năm 1616, Sư vâng mệnh khai bản Quần Thư Trị Yếu 50 quyển, đồng thời ấn hành bằng chữ in rời, người đời gọi là Khánh Trường Ngự Hoạt Tự Bản, Tuấn Hà bản. Năm 1626, Sư được ban hiệu Viên Chiếu Bản Quang Quốc Sư. Sư thị tịch vào tháng 01 năm 1963, thọ 65 tuổi. Sư từng mặc áo đen tham dự quốc sách và các việc ngoại giao nên các sử gia Nhật-bản gọi Sư là Vị Tể Tướng Áo Đen. Sư có soạn Đồng Giáo Ký 1 quyển, Ngữ Lục 4 quyển”[5]. Tenkai (Thiên Hải: 1536 - 1643) thuộc Tông Thiên Thai “là khai tổ của chùa Khoan Vĩnh, người ở Hội Tân, hiệu là Nam Quang Phường. Sư xuất gia từ thuở còn trẻ, đến Tỷ Duệ Sơn, chùa Viên Thành, Nam Đô, nghiên cứu tu tập Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Duy Thức, Mật Giáo, Thiền Học. Sư được Đức Xuyên Gia Khang trọng dụng, mời dạy học trong cung, được vua ban hiệu Nhật Quang Sơn. Sau khi Gia Khang qua đời, Sư lại được sự tín nhiệm của Tú Trung Gia Quang, lần lượt làm các chức cố vấn chính trị. Về sau, Sư ấn hành Đại Tạng Kinh, suốt 11 năm mới hoàn thành Thiên Hải Bản Tạng Kinh bằng Mộc Hoạt Tự. Sư thị tịch năm 1643, thọ 108 tuổi. Quang Minh thiên hoàng ban hiệu Từ Nhãn Đại Sư.”[6] Chính sách của chính quyền Edo (Giang Hộ) là cai trị nước Nhật bằng cách dựng lập ra các daimyos (Đại Danh) tức là các danh thần quân sự khắp nơi trong đất nước để trị an và kiềm tỏa lẫn nhau. Chính quyền cũng có hệ thống sankin-kotai (Tham Cần Giao Đại) theo đó cứ hai năm một daimyo (Đại Danh) phải trở về lại Edo (Giang Hộ) triều phục một lần để đảm bảo lòng trung thành của họ đối với chính quyền trung ương. Để làm yếu đi sức mạnh của Phật Giáo và giữ vững chủ quyền của chính phủ nên hệ thống hatto (Pháp Độ) được hình thành cho các tông phái để quy định những bổn phận đối với nhau giữa tự viện gốc và các tự viện chi nhánh. Quyền thế của mỗi tông phái cũng phải được chia hai giữa Kyoto (Đông Đô) và Edo (Giang Hộ). Thí dụ, quyền thế của Thiên Thai Tông (Tendaishu) được chia cho núi Hiei (Núi Tỷ-duệ) ở phía tây và núi Toeizan (Núi Đông Duệ) của Edo (Giang Hộ)[7] mới được thành lập; đối lại với Chion’in (Tri Ân Viện), Kyoto (Đông Đô) thì lại có hai quyền lực mới là chùa Zojoji (Chùa Tăng Thượng) và chùa Denzuin (Phật Thông Viện) ở Edo (Giang Hộ); đối lại với chùa Nishihonganji (Chùa Tây Bổn Nguyện) ngôi tổ đình duy nhất cho đến thời điểm nầy thì giờ đây lại xuất hiện chùa Higashihonganji (Chùa Đông Bổn Nguyện) để chia xẻ quyền thế của Shinshu (Chơn Tông); chùa Gokokuji (Chùa Hộ Quốc) được thành lập ở Edo (Giang Hộ) để thuyên chuyển bớt quyền lực của Shingonshu (Chơn Ngôn Tông) sang Kanto (Quan Đông). Như thế những tổ chức Phật Giáo bị nằm trong vòng cương tỏa của chính trị và được sử dụng để cai trị đất nước. Vòng cương tỏa nầy cũng đã tước đoạt khả năng chống lại chính quyền của Phật Giáo. Kết quả là sự ì ạch, tu sĩ sa đà vào việc yên thân và vụ lợi. Ngay cả trong lĩnh vực nghiên cứu, các tổ chức Phật Giáo cũng bị kiểm soát. Điều nầy đã làm nẩy sinh ra cái gọi là shujo (tông thừa) tức là nghiên cứu kinh viện về giáo nghĩa của mỗi tông phái, đi chuyên sâu vào các tông chỉ mang tính chất lý thuyết suông của mỗi tông phái. Điều nầy đã không gây nhiều bất ổn đối với chính quyền. Học thuyết Khổng Tử do các tăng sĩ thiền tông thời Muromaji (Thất Đinh) đưa về Nhật-bản bây giờ lại được bảo hộ mạnh mẽ vì học thuyết nầy rất thích hợp cho việc duy trì trật tự xã hội của thời đại. Khổng Giáo phát triển hưng thịnh và thực sự đã đứng thế vào chổ của Phật Giáo, một tôn giáo mà ngay từ thời du nhập đã giữ vai trò trụ cột trong đời sống tâm linh của đất nước nầy. Các cuộc nội chiến tàn lụi dần, hòa bình bắt đầu được vãn hồi. Dân chúng đổ xô tìm kiếm những niềm vui vật dục và bị cuốn hút vào việc làm ăn mua bán. Thế là trong nhà chùa bắt đầu xuất hiện những dạng tín ngưỡng nông cạn hời hợt với mục đích là có thêm tín đồ, có thêm lợi lộc. Tình trạng nầy kéo dài cho đến ngày nay.[8]

Thời trước chùa chiền vốn là những trung tâm văn hóa nơi mà tu sĩ Phật Giáo và Thần Đạo dạy vở lòng cho trẻ em từ phố thị đến thôn quê làng xả biết viết chữ và làm toán. Những trung tâm như vậy được gọi là Terakoya (Tự Tiểu Ốc); trong thời đại Edo (Giang Hộ) có hàng ngàn Terakoya (Tự Tiểu Ốc) như vậy. Các Terakoya (Tự Tiểu Ốc) này thực sự đã gánh vác nền giáo dục phổ cập vở lòng của thời đại. Trước tiên là học viết mẫu tự i-ro-ha, tức là mẫu tự tiếng Nhật-bản. Những mẩu tự Nhật-bản căn bản nầy được dùng để dệt nên những bài ca tuyệt vời nhằm nói cho chúng ta biết những giáo lý nền tảng của Đạo Phật như “Tất cả các pháp đều vô thường”, “Niết-bàn là chơn hạnh phúc”... Như vậy chúng ta có thể nói rằng những giáo lý căn bản của đạo Phật đã được lồng trong hệ thống giáo dục theo cách rất tự nhiên ngay từ thời học phổ thông. Đồng thời những tu sĩ Phật Giáo cũng vận dụng những từ ngữ thật đơn giản để dạy cho các thương nhân về đạo đức ở đời như siêng năng và cần kiệm...

Vào thời kỳ Edo (Giang Hộ) các tăng sĩ thuộc tông Rinzai (Tông Lâm Tế) như Takuan (Trạch Am: 1573 - 1645), Bankei (Bàn Khuê: 1622 - 1693) và Hakuin (Bạch Ẩn: 1685 - 1768); các tăng sĩ thuộc tông Soto (Tông Tào Động) như Tenkei (Thiên Quế: 1648 - 1735) và Menzan (Diện Sơn: 1683 - 1769); các tăng sĩ thuộc tông Shingon (Tông Chơn Ngôn) như Jiun (Từ Vân: 1718 - 1804); tất cả đều truyền bá giáo nghĩa riêng của tông phái của mình. Ingen (Ẩn Nguyên: 1592 - 1673) một thiền sư Triều Minh đưa về Nhật-bản một giáo phái mới thuộc tông Rinzai (Tông Lâm Tế). Ingen (Ẩn Nguyên) đến trú tại chùa Mampukuji (Chùa Vạn Phước) ở Uji (Vũ Trị) cùng với việc hoằng truyền tông Obakushu (Tông Hoàng Bá). tông Obakushu (Tông Hoàng Bá) là sự dung hợp giữa giáo nghĩa của Thiền Tông và pháp môn niệm Phật. Đệ tử của Ingen (Ẩn Nguyên) là Tetsugen (Thiết Nhãn: 1630 - 1682) là vị nổi danh về việc cứu tế chẩn bần, giang rộng đôi tay giúp đở người nghèo khó. Vào năm 1681, Tetsugen (Thiết Nhãn: 1630 - 1682) đã hoàn thành một nhiệm vụ vĩ đại là ấn loát bộ Tam Tạng Kinh Triều Minh, một bộ sưu tập thánh điển Phật Giáo được thực hiện trong thời đại Nhà Minh, Trung Quốc, gồm 3 phần: 1)Sutra (Kinh), 2)Vinaja (Luật), và 3)Abhidharma (Luận). Trước đây, Tenkai (Thiên Hải) cũng đã thực hiện việc ấn loát Tam Tạng trong suốt 12 năm dài và hoàn tất vào năm 1648. Nhưng, ấn bản của Tenkai (Thiên Hải) được thực hiện bằng phương pháp in rời và có nhiều lỗi. Hơn nữa, về phương diện phục vụ rộng rãi cho giới Phật Giáo thì ấn bản của Tenkai (Thiên Hải) chỉ in một số lượng nhỏ nên không sánh được với ấn bản Obaku (Hoàng Bá) được thực hiện bằng phương pháp khắc gổ theo từng trang trong nguyên bản.

3- Thời kỳ hậu Meiji (Minh Trị)

Vào năm 1868 chính quyền của đất nước này lại trả về cho hoàng gia và một chính phủ theo mô hình Tây phương bắt đầu cai trị. Người ta gọi đó là Cuộc Phục Hưng Meiji (Minh Trị). Đây là một cuộc cải cách lớn trên mọi khía cạnh. Chính quyền Shogunate (tướng quân) đã bị miển nhiệm, quyền cai trị đất nước lại thuộc về nhà vua.

Từ trước chính quyền đã từng kiên định theo đuổi chính sách tự lập, bế quan tỏa cảng nhưng giờ đây đã nhảy sang chính sách mở cửa rộng rãi và trào lưu văn minh Phương Tây tự do tràn vào Nhật-bản. Người ta cảm thấy rõ ràng ảnh hưởng của nó đối với nếp suy tư và tôn giáo. Shintoism (Thần Đạo) và Phật Giáo đã từng sinh hoạt thân thiết với nhau giờ đây đã chia tay. Hoàng triều giờ đây đã bỏ những nghi lễ, niềm tin và những pháp khí phụng thờ của Phật Giáo, đồng thời chuyển sang tôn thờ các vị thần hóa hiện của Shintoism (Thần Đạo). Phật Giáo bị tách rời khỏi chính quyền và không còn can dự vào việc giáo dục. Quyền tự do tín ngưỡng được thiết lập trong hiến pháp. Song song với việc nền khoa học hiện đại cùng với lối tư duy mới được tự do phổ biến, Thiên Chúa Giáo cũng bắt đầu quảng bá. Thần Đạo khi đã tách biệt hẳn với Phật Giáo thì các đạo sĩ đã có thái độ thù nghịch chống lại tăng sĩ Phật Giáo. Khi mà sự tìm về nguồn gốc lịch sử của nước Nhật là động lực mạnh mẽ để tiến hành cuộc cải cách Meiji (Minh Trị) thì lúc đó phong trào haibutsu-kishaku (phế Phật – hủy Thích) bùng lên. Vì thế mà nhiều ngôi chùa Phật Giáo bị phá hủy, nhiều bảo tượng Đức Phật cùng với kinh điển giá trị bị thiêu đốt thành tro bụi. Biết bao nhiêu tăng sĩ bị cưỡng bách hoàn tục. Đây là một thời kỳ khủng hoảng mà Phật Giáo chưa từng gặp phải kể từ khi du nhập vào nước Nhật.

Dù khủng khiếp thế nào đi nữa thì ngọn sóng thù hận cũng tan đi, Phật Giáo lại được nghiên cứu về mặt học thuyết và văn hóa. Là một đối trọng của triết học Tây Phương, Phật Giáo được xem như là biểu trưng cho Triết Học Đông Phương; là một nền đạo đức tôn giáo, giáo lý của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni được xem như là đối trọng của giáo lý Gia-tô. Những sinh viên và những học giả du học ở Âu Châu không những mang về những triết thuyết của Anh, Đức, Pháp... mà còn mang về cả những kiến thức về Sanskrit và Pali và phương pháp nghiên cứu theo phong cách hiện đại. Tình thế hiện tại của Nhật-bản là có nhiều tông phái Phật Giáo khác nhau tự do nghiên cứu rộng rãi và đánh giá lại những giá trị lâu đời mà tổ tiên đã truyền xuống cho họ như vô số ảnh tượng Phật và Bồ-tát, vô số kinh sách, họa phẩm, và pháp khí thờ cúng. Những nghi lễ theo cổ tục nghiêm trang ngày xưa và những khóa tụng kinh được thực hiện theo sắc thái khác biệt của mỗi tông môn, những thành viên vân tập lại và những nghi lễ hàng năm được cử hành. Mọi việc cứ diễn tiến như thế.

Nói chung những trí thức ở thành thị hiếm khi tới lui chùa chiền; khi nào có tang lễ thì họ mới tới. Chỉ một số ít người nhiệt tình quan tâm đến những vấn đề của cuộc sống thì mới đến nghe thuyết pháp. Tình thế của tăng sĩ Nhật-bản bây giờ không được trọng vọng như các nhà sư ở Tích-lan, Miến-điện và Thái-lan, những nơi mà nhà sư được sự kính trọng vô tư trong đời sống hằng ngày. Có thể có nhiều lý do nhưng không quá đáng khi nói rằng chính quyền Tokugawa (Đức Xuyên) trong 300 năm cầm quyền hầu như đã hủy diệt lòng nhiệt huyết của tăng sĩ. Mặc khác thì nền giáo dục hiện tại lại được tự do phát triển. Về phương diện kiến thức và nghiên cứu thì tăng sĩ ngày nay không bằng những lão tăng thuộc thế hệ trước. Ngày xưa những lão tăng từng có một thời là những người trí thức hơn dân chúng, từng có một thời là thầy của dân chúng về mọi phương diện. Ngày nay thời huy hoàng đã qua rồi. Tăng sĩ Phật Giáo giờ đây không còn hưởng được nền giáo dục và sự kính trọng như những ngày xưa. Họ bị sức mạnh và tốc độ của một tình thế mới áp đảo. Tình thế nầy nói chung là một hố sâu mà họ không vượt qua được, khác xa với những nước Phật Giáo ở Phía Nam, những nơi mà tăng chúng mặc nhiên giữ vị trí lãnh đạo dân chúng.

Ngày nay học giả Phật Giáo Nhật-bản có được kinh sách Phật Giáo bằng tiếng Bắc Phạn, Nam Phạn, Tây Tạng, Mông Cổ và Trung Hoa. Họ được tự do xữ dụng những phương pháp hiện đại để thực hiện việc nghiên cứu. Nhưng những gì đang diễn ra chỉ có tính chất sách vở. Những người Phật tử nhiệt tâm đều mong rằng những công trình nghiên cứu sẽ tìm ra được những phương pháp dung thông để kết nối phạm trù tâm linh với phạm trù trần tục và làm cho giáo lý Đạo Phật tươi trẻ lại để có thể đối mặt với khuynh hướng chung của thời đại và nền văn minh càng ngày càng gia tốc. Vấn đề cụ thể là làm thế nào để những niềm tin của Shinran (Thân-loan), Nichiren (Nhật Liên)... những giáo nghĩa như Soto Zen (Thiền Tào Động) của Dogen (Đạo Nguyên) có thể bước ra khỏi những cái vỏ ốc củ kỷ của mình và có thể bước vào thế giới “thần thánh” của nền văn minh hiện đại.

4. Phật Giáo Thời Hiện Đại

Sau thời kỳ phục hưng Meiji (Minh Trị), chính sách của chính phủ không cho phép thành lập các tông phái mới hay xây dựng thêm tự viện mới. Vì vậy, mọi việc vẫn như củ trong suốt một thời gian dài, không có gì biến chuyển. Đó là lý do tại sao những từ ngữ như 13 tông phái với 56 chi phái được định hình và trở nên quen thuộc mỗi khi người ta đề cập tới những sơn môn Phật Giáo. Hơn thế nữa, trong chiến tranh thế giới lần thứ hai chính sách chuyên chính độc đảng đã liên kết mọi thành phần lại với nhau, làm cho số tông phái giảm xuống còn 13 tông phái với 28 chi phái. Nhưng sau chiến tranh thì pháp chế về tôn giáo củ bị bãi bỏ và một thời đại mới đã bừng lên, những tông phái mới, những tôn giáo mới được tự do thành lập hay chùa chiền mới được tự do xây dựng. Kết quả là những tông phái trước đây liên kết với nhau bây giờ lại tách riêng ra đồng thời xuất hiện thêm những tông phái và tôn giáo mới. Theo khảo sát của Bộ Giáo Dục thì vào cuối năm 1951 đã có tất cả là 234 tổ chức. Người ta cũng nhận thấy những mối liên kết bị tan rã vì sự bất mãn đối với những người điều hành những tổ chức tôn giáo hay vì những tranh chấp nội bộ có nguồn gốc từ vấn đề tài chánh. Vì vậy mà hầu như không có những mối liên kết bị tách ra với lý do là chấn hưng về mặt giáo nghĩa hay về mặt niềm tin. Tuy vậy, có những sơn môn mới phát triển sau nầy không hẳn thuộc vào dạng shinkoshukyo (tân hưng tông giáo) hay những tổ chức tôn giáo mới. Đó là những sơn môn thuộc tông Nichirenshu (Tông Nhật Liên). Trong những tông phái có mối liên kết mạnh như tông Sotoshu (Tông Tào Động) và Shinshu (Chơn Tông) thì hầu như không có tình trạng phân hóa hay mất đoàn kết. Ngoài tông Nichirenshu (Tông Nhật Liên) còn có những tông phái mà sự phân hóa xảy ra khá nhiều như tông Shingonshu (Tông Chơn Ngôn), tông Tendaishu (Tông Thiên Thai) và tông Jodoshu (Tông Tịnh Độ). Mặt khác, lại có một phong trào của những Phật Tử có tâm hồn thông thoáng muốn tạo nên sự hợp tác và đoàn kết cho tất cả những người Phật Tử. Phong trào nầy hướng tới việc thành lập một hội đồng lãnh đạo chung của tất cả những tông phái Phật Giáo; kết quả là Đại Hội Phật Giáo Thế Giới Lần Thứ Hai được tổ chức tại Tokyo (Đông Kinh) vào năm 1952. Đại Hội nầy thu hút các đoàn đại biểu từ những quốc gia như Ấn-độ, Miến-điện, Tích-lan, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, và Châu Âu. Tất cả có 170 đại biểu từ 18 quốc gia khác nhau cộng với 450 đại diện của những tông môn hệ phái khác nhau của Nhật-bản. Đại hội nầy đã xây dựng thành công một tổ chức mới của tất cả những người Phật tử ở Nhật-bản và cũng xây dựng được Hiệp Hội Phật Giáo Nhật Bản thuộc Tổng Hội Phật Giáo Thế Giới. Ngày nay chúng ta có Liên Đoàn Thanh Niên Phật Giáo Toàn Nhật-bản và Liên Minh Những Hội Nữ Phật Tử Toàn Nhật-bản. Trong kỳ Đại Hội Phật Giáo Thế Giới Lần Thứ Ba tổ chức tại Rangoon (Ngưỡng Quang) vào tháng 12 năm 1954 có 68 đại biểu và quan sát viên Nhật-bản tham dự với đại biểu Phật Giáo của nhiều nước khác.

 

[1] Thông thường được gọi là chùa Kokedera (Chùa Rêu) vì mảnh vườn chùa được phủ kín bằng rêu.

[2] Đoạn tiểu sử nầy do ND thêm vào, dựa theo Tự Điển Phật Học Huệ Quang (Cảo bản), tập 8, 1999, tr. 7013.

[3] Vào thời bấy giờ người ta gọi tông Shinshu (Chân Tông) là Ikkoshu (Nhất Hướng Tông) vì những người theo Chân Tông chỉ đặt niềm tin duy nhất vào một đức Phật A-di-đà mà thôi, không quan tâm tới bất kỳ một vị Phật hay vị Bồ-tát nào khác. Duy nhất một niềm tin.

[4] Francisco Xavier truyền đạo Gia-tô vào năm 1549, số lượng con chiên bắt đầu gia tăng.

[5] Phần tiểu sử nầy do ND đưa thêm vào từ Tự Điển Phật Học Huệ Quang (Cảo Bản), tập 7, tr. 6060.

[6] Phần tiểu sử nầy do ND đưa thêm vào, dựa vào Tự Điển Phật Học Huệ Quang (Cảo Bản), tập 9, tr. 8192.

[7] Có nghĩa là Đông Tỷ-duệ Sơn.

[8] Quyển sách nầy hoàn thành vào năm 1960 (chú thích của ND).

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: