ĐẠI GIỚI ĐÀN THANH KIỂM: Trưởng lão Hòa thượng Giác Toàn giáo giới về "tu và sự sửa mình"

Sáng 13/09/2026 (03/08/Bính Ngọ), Trưởng lão HT. Giác Toàn – Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Viện trưởng VNCPHVN, Trưởng ban Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái, Trưởng ban Tổ chức Phân đàn truyền giới Hệ phái PGKS, đã có thời giáo giới và sách tấn dành cho toàn thể giới tử tại điểm truyền giới Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), thuộc Đại giới đàn Thanh Kiểm PL.2570.

Theo đó, trước những giới tử đang bước vào một dấu mốc quan trọng của đời tu, từ Tập sự chuẩn bị thọ giới Sa-di và từ Sa-di chuẩn bị bước lên thọ giới Tỳ-kheo, Trưởng lão Hòa thượng đã ân cần chỉ rõ: "Trong nhà Phật, xuất gia là con đường bình đẳng đối với tất cả người phát tâm. Vậy, xuất gia để làm gì? Và, sau xuất gia rồi thì mình đang thực sự thay đổi điều gì nơi chính mình?".

Trưởng lão Hòa thượng giảng giải, từ giai đoạn Tập sự đến Sa-di là một quá trình “tập tu”, bởi thân tứ đại của mỗi người vốn đã mang theo những tập khí tham - sân - si được tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp. Cạo tóc, khoác Pháp Y đều là hình thức bên ngoài, điều quan trọng nhất với người xuất gia chính là từng ngày nhận diện và chuyển hóa những thói quen, phản ứng và ham muốn vẫn còn hiện diện trong thân tâm.

Trưởng lão Hòa thượng dùng một hình ảnh rất đời thường để nói về tánh tham, như một con kiến nhỏ cũng biết dành phần ăn cho mình; những loài lớn hơn như cọp, beo, sư tử, voi... cũng có những tập tính tranh giành, chiếm giữ theo bản năng; với con người, theo Trưởng lão Hòa thượng, nếu chưa biết tu, tham - sân - si còn có thể biểu hiện tinh vi hơn. "Vì vậy, người xuất gia không thể chỉ nhìn vào chiếc áo đang mặc mà nghĩ rằng mình đã rời đời. Muốn kiểm chứng bản thân đã thực sự đặt chân trên con đường tu học cầu đạo giải thoát hay chưa, thì sau khi rời đời, người xuất gia phải soi xét mình, từ thân, miệng và ý, đã thật sự lắng xuống hay chưa", Trưởng lão HT. Giác Toàn nhận định.

Từ đó, Hòa thượng nhắc đến bài kinh Trú Độ Thọ và hình ảnh chiếc lá úa vàng trên cây Trú Độ của chư Thiên như một thí dụ điển hình. Khi chiếc lá đã úa, tất sẽ rời cành, để rồi nụ mới có điều kiện nảy sinh, tỏa hương thơm. Hình ảnh ấy, theo lời giảng của Trưởng lão Hòa thượng, cũng gợi một cách nhìn sâu hơn về sự xuất gia, đó là muốn bước vào đạo thì phải biết buông đời xuống.

Buông ở đây không chỉ là rời nhà, bỏ công việc, hay thay đổi môi trường sống, như Trưởng lão Hòa thượng khai thị: "Thân đã ở chùa nhưng tâm vẫn còn bực mình khi việc không vừa ý, còn tranh phần nhẹ để tránh việc nặng, còn thấy người khác hơn mình mà khó chịu, thấy mình được khen thì vui, bị chê thì buồn, thì sự 'rời đời' ấy vẫn chưa trọn vẹn. Người tu phải nhận ra những dấu vết ấy trong chính mình và kiên trì làm cho chúng nhẹ dần".

Trưởng lão Hòa thượng nhấn mạnh, trước khi thọ cụ túc giới, hành giả cần tự kiểm soát và dọn dẹp ba nghiệp cũ, bởi người đi tu cũng giống như người đi học, việc quan trọng nhất là lo học và lo sửa mình. Như vậy, người có chí nguyện xuất gia không nên quá bận tâm nhìn sang người khác để xem ai tu nhiều, ai tu ít, ai tinh tấn, hay ai còn sơ suất, thay vào đó, cái cần nhìn kỹ nhất vẫn là chính tam nghiệp của bản thân.

Từ câu chuyện tu học, Trưởng lão Hòa thượng giáo giới chư giới tử về những điều tưởng như rất nhỏ trong đời sống hằng ngày, từ cách đi, đứng, ngồi, nằm, ăn, mặc, nói, làm, cười, tắm rửa, ngủ nghỉ... Những điều tạo nên 16 oai nghi tế hạnh mà người xuất gia phải tập luyện cho đến khi trở thành nếp sống tự nhiên.

Kể lại những ngày đầu tập sự, khi từng bước đi cũng được Sư Thầy chỉ dạy rất kỹ, Trưởng lão Hòa thượng chia sẻ: "Đứng phải thẳng, ngồi phải ngay, không ngã ngớn; nằm phải tập nghiêng bên phải theo tư thế và dáng nằm của sư tử; cười cũng phải biết tiết chế, nhẹ nhàng, không cười hí hửng như thói quen ngoài đời. Ngay cả lúc tắm rửa một mình cũng phải giữ sự trang nghiêm, đến giờ ngủ nghỉ vẫn không buông chánh niệm. Những bài học tưởng chừng đơn giản ấy lại theo người tu suốt cả cuộc đời, bởi oai nghi không phải để làm đẹp hình thức, mà là cách biểu hiện sự có mặt tỉnh thức của một người đã chọn đời sống xuất gia".

Ngoài ra, Trưởng lão Hòa thượng cũng đặc biệt nhấn mạnh sự nguy hiểm của “virus thất tình lục dục”. Theo Trưởng lão Hòa thượng, nếu "ba lão Ma vương" là tham - sân - si thì binh tướng của chúng chính là "thất tình lục dục" (hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục). Trưởng lão Hòa thượng ví mức độ lây lan của loại “virus” này còn nhanh và nguy hiểm hơn tất cả mọi loại virus, bởi nó có thể len vào đời sống người tu mà đôi khi chính người mắc phải cũng không thể nhận ra.

"Nghe người khác khen mà mừng quá mức, nghe chê liền buồn phiền; Phật tử cúng dường nhiều thì vui, ít cúng dường thì không vui; giữa huynh đệ với nhau phát sinh những tình cảm dính mắc cá nhân; hoặc thần tượng hóa Sư phụ, đệ tử bằng thứ tình cảm mang màu sắc thế tục... Tất cả đều là những biểu hiện cần phải được nhận diện. Người tu phải biết mình đang bị điều gì chi phối, bởi nếu không nhận diện được thì rất khó tự tháo gỡ", Trưởng lão HT. Giác Toàn khẳng định.

Theo Trưởng lão Hòa thượng, việc Đức Phật dạy người xuất gia nửa tháng cạo tóc một lần cũng có thể được xem như một lời nhắc nhở sâu xa rằng, cạo tóc bên ngoài cũng phải đồng thời cạo bỏ cả tham - sân - si và những thứ tình cảm, dục vọng đang bám víu bên trong. Người tinh tấn phải biết sám hối, kiểm soát tam nghiệp thân - khẩu - ý mỗi ngày, nhất là trước khi đi ngủ và cao hơn nữa là giữ được sự tỉnh giác trong từng giây phút.

Nói về nghiệp, Trưởng lão Hòa thượng tự nhìn lại chính mình, kể về những tập nghiệp đã từng dấy phạm thời thơ ấu, dẫu là những việc đã qua từ rất lâu, nhưng Trưởng lão Hòa thượng khẳng định, nghiệp không vì thời gian mà tự nhiên mất đi. Những chúng sinh từng bị sát hại, nếu đủ duyên gặp lại, hoàn toàn có thể khởi tâm ghét bỏ, đòi nợ.

Từ sự quán xét ấy, Trưởng lão Hòa thượng nhắc lại lời dạy của Đức Tổ sư trong Chơn Lý "Tu và Nghiệp": “Người tu là người vui đền trả nghiệp quả cũ mà không gây tạo nợ nghiệp mới”. Rõ ràng, đây cũng là một cách nhìn giúp người tu đi qua nghịch cảnh bằng chánh kiến. Qua đó, Trưởng lão Hòa thượng khuyến tấn: "Khi bị người khác vô cớ ghen ghét, chê bai hoặc làm tổn thương, thay vì lập tức phản ứng, hành giả cần biết, có thể đó là món nợ nghiệp đã vay từ nhiều đời, hoặc từ chính những tháng ngày trước khi mình bước vào đời sống xuất gia. Hiểu được như vậy thì sự nhẫn nhục không còn là chịu đựng một cách miễn cưỡng, mà tự nhiên chuyển hóa thành cơ hội để trả một món nợ cũ và quan trọng hơn là không tiếp tục tạo thêm món nợ mới".

Nhân dòng giáo giới này, tên gọi “Thanh Kiểm” của Đại giới đàn PL.2570 lần này, cũng được Trưởng lão Hòa thượng đề cập như một lời nhắc nhở đối với từng giới tử. Tôn hiệu “Thanh Kiểm” được đặt theo tôn hiệu của cố Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Kiểm. Trong đó, “Thanh” là thanh tịnh đạo đức, “Kiểm” là kiểm cử oai nghi. Như vậy, giới tử bước ra từ giới đàn Thanh Kiểm phải biết kiểm soát tâm mình để hướng đến sự thanh tịnh, chứ không chỉ ghi nhớ tên gọi của một kỳ giới đàn.

Trưởng lão Hòa thượng dẫn lại cuộc đối đáp giữa Ngài Xá-lợi-phất và Ngài Đại-câu-huy-la để nhấn mạnh con đường thành tựu chánh kiến và bất hoại tịnh: "Người tu trước hết phải biết rõ điều bất thiện và biết rõ căn của điều bất thiện, tức nhận diện được tham - sân - si đang khởi lên như thế nào để từng bước đoạn trừ. Trong quá trình ấy, lời nói là một nơi rất dễ tạo nghiệp, do vậy, giới tử phải cẩn ngôn, bởi lời nói có thể đưa con người đi rất nhanh vào chuyện sinh tử. Khi thấy huynh đệ có lỗi, cần chọn lúc yên tịnh để nhẹ nhàng nhắc nhở, thay vì quát tháo, hay nặng lời. Sửa một người khác mà làm họ tổn thương thì chưa chắc đã phải là cách sửa đúng".

Hộ trì sáu căn cũng được Trưởng lão Hòa thượng nhắc nhở thông qua lời dạy của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang: “Mũi thường phải ngửi mùi thanh ấy... Lưỡi dầu chẳng nếm vị thô, cũng đừng chê trách thích đồ cao lương...”. Cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm, theo Trưởng lão Hòa thượng chỉ rõ, đều có thể trở thành cửa ngõ để tâm sinh thương ghét, phân biệt và chấp thủ. Bởi vậy, người tu cần tập đến trạng thái “cái thấy sẽ chỉ là cái thấy”, tức thấy sao biết vậy, không vội thêm vào đó thương hay ghét, tốt hay xấu, hơn hay kém. Khi sáu căn được thu thúc, tâm mới có cơ hội đứng yên trước những tác động vốn luôn thay đổi của đời sống.

Cùng với việc giữ giới và hộ trì sáu căn, Trưởng lão Hòa thượng nhắc giới tử về Thất Thánh Tài, tức bảy tài sản mà người xuất gia cần tích lũy thay cho những tài sản thế gian, đó là Tín, Giới, Tàm, Quý, Đa văn, Trí tuệ và Xả ly, những giá trị không nằm trong túi áo, nhưng quyết định chiều sâu của một đời tu.

"Có niềm tin sâu thì mới có sức đi đường dài, có giới thì mới có nền tảng, biết Tàm Quý thì biết dừng lại trước lỗi lầm, Đa văn giúp người tu không cạn vốn hiểu biết, Trí tuệ giúp thấy đúng bản chất sự việc, còn Xả ly là khả năng buông xuống những chấp thủ mà mình từng nghĩ rất khó rời. Là người con Khất sĩ, mỗi giới tử cần dành thời gian nghiên cứu Bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang và bộ Phật học phổ thông (12 tập) của Hòa thượng Thiện Hoa, để hiểu rõ hơn về điều này", Trưởng lão HT. Giác Toàn khuyến tấn.

Không dừng ở những lời dạy về tâm, Trưởng lão Hòa thượng còn trực tiếp kiểm tra cách xá, quỳ, lạy của giới tử thuộc Đoàn 1 đến Đoàn 6, yêu cầu chư vị Giáo thọ tiếp tục hướng dẫn để các động tác được đồng đều, trang nghiêm trước khi đăng đàn thọ giới. Theo Trưởng lão Hòa thượng, sự đồng nhất trong nghi lễ không phải là chuyện hình thức đơn thuần, ở một khía cạnh khác, cho thấy người học đạo có chịu nghe, chịu sửa và có đưa lời dạy vào hành động hay không.

Qua đó, Trưởng lão Hòa thượng ban lời khai thị đồng thời cũng là đạo từ khép lại buổi giáo giới: "Muốn sửa lỗi thì trước hết phải chịu nghe. Người thầy có thể chỉ ra chỗ sai, nhưng người học phải tự mình tập sửa. Một tập thể Khất sĩ vốn có tâm tánh thuần hòa vẫn cần tiếp tục rèn luyện để nghi lễ, oai nghi ngày càng chuẩn mực, đồng nhất. Sự trang nghiêm của một giới trường bên cạnh không khí thanh tịnh, còn được tạo nên bởi ý thức biết giữ mình trong từng động tác, lời nói và cách ứng xử của mỗi giới tử tham dự".

 

Một số hình ảnh được ghi nhận: