Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Đọc Chơn Lý “Bát Chánh Đạo” phần 6

8chanhdaoChánh văn:

Bát chánh đạo cũng là con đường từ đầu đến cuối, mà chư Phật đã đi qua rồi.

1. Chánh kiến là sự nhận xét thấy tỏ rõ lẽ thật đạo pháp, liền xuất gia giải thoát, lìa bỏ sự tà kiến vô minh lầm lạc của đời ác trược bỏ khổ tìm vui.

2. Chánh tư duy là sự chiêm nghiệm, sưu tầm chơn lý, để được trí huệ, phải ở nơi chỗ vắng, núi, rừng, vườn một mình ít lâu.

3. Chánh ngữ là tới lui cõi đời, để nói pháp dắt dẫn dạy khuyên người, sau khi đã thấu lý đạo đắc quả, để cho được cái học tự nơi nghe, nơi suy nghĩ, nơi sự hành động, cùng nơi sự nói luận, giảng giải.

4. Chánh nghiệp là đi xin, ăn một ngọ chay, mặc một bộ áo vá ba cái, ở lều lá gốc cây, bịnh không tự làm thuốc, vật chất không không, không một chỗ, không một vật. Đi khắp nơi học dạy trao tâm. Lấy sự cứu độ người làm nghề nghiệp, không tích trữ của cải, không tự lấy, vì tự lấy là tham, không tự làm, vì tự làm là ác. Ta xin ăn của người mà sống, người xin học nơi ta mà sống; sống lo chuyền nhau, bỏ cái sở chấp ta, và của ta, gian ác. Ở nơi rừng lượm xin trái lá, vào xóm xin thuốc xin cơm, uống nước xin sông xin suối, ngồi nằm xin đất đá; lẽ xin tự người hạp mà cho, là tốt đẹp hơn các nghề nghiệp.

5. Chánh mạng là không có cái sống cho mình, thân là của đạo, của chúng sanh, sống bằng tâm chơn như, thân có không, còn mất chẳng mến, chết trong sạch hơn sống nhơ bẩn.

6. Chánh tinh tấn là sự cố gắng kiên tâm, trì giới nhập định, và đi hành đạo giáo hóa khắp nơi.

7. Chánh niệm là niệm tưởng Phật, niệm tưởng Pháp, niệm tưởng Tăng, niệm tưởng chúng sanh khổ, để tìm phương tiện cứu độ.

8. Chánh định là niết bàn chơn như, hay là sự nhập định, sau khi từ bi trí huệ đã đầy đủ. Cũng gọi hưu trí nín nghỉ, sau khi rồi xong hết việc, của cải có dư.

Khi bàn thảo về yếu tố năng động trong BCĐ như được trình bày trong Chơn Lý, người đọc xin được thưa trước, từ ngữ 'thụ động' hay 'năng động' chuyển tải khái niệm hay cách hiểu phổ thông của thế nhân; chứ trong cõi đạo thì dù có ngồi nhắm mắt tọa thiền quán chiếu vẫn là năng động, thậm chí chỉ ngồi yên nắm giữ hơi thở lại càng năng động hơn nữa, cho đến ngồi yên không nắm giữ cái gì hết, chỉ còn làm một công việc duy nhất là ngồi yên, ngồi yên và ngồi yên thì đó lại là năng động nhất (Đối trị tất đàn). Thật ra cõi đạo là cõi vượt qua các cặp đối đãi: năng và thụ, tích và tiêu, hành và tàng như nhà thơ Trụ Vũ khi viết về Pháp sư Giác Nhiên ở những năm đầu của thập niên 1970 có câu: "Pháp sư ngồi đó dáng an nhiên / Xưa tọa thiền, nay cũng tọa thiền / Cười nói khác gì yên lặng nhỉ / Trăng soi lều cỏ đuốc soi đêm". Trở về với thế giới của phân biệt đối đãi thì yếu tố năng động mà người đọc muốn nói đến thể hiện hầu như ở tất cả các chi BCĐ trừ chi thứ nhất và chi cuối cùng. Cụ thể ở chi thứ hai BCĐ thì khuyên người mới tu nên ở chỗ vắng. Lời khuyên dường như hướng về trạng thái thụ động, lánh đời, không tích cực nhưng ngay lập tức chữ 'ít lâu' được đưa ra có ý bảo người tu hãy sớm chấm dứt chuyện lánh đời, dù trong giai đoạn sơ cơ mới tu. Chánh Ngữ không chỉ là nói lời chơn chánh, không thì giữ sự yên lặng của bậc thánh, mà Chánh Ngữ ở đây chủ yếu lại là 'Tới lui cõi đời để nói pháp'. Nói pháp hay còn gọi là hoằng pháp, một trong những ban ngành quan trọng trong Phật giáo, chỉ nằm sau ngành Tăng sự và Giáo dục Tăng Ni trong cơ cấu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay. Hoằng pháp trong Chơn Lý không dừng lại ở chuyện hoằng pháp mà là để đạt được cái học. Cái học trong Chơn Lý lại liên quan mật thiết tới cái nghe, cái suy nghĩ, cái hành động, cái nói luận giảng giải. Tất cả những cái đó được hòa trộn, được chưng cất, được tinh luyện thành cái học. Như vậy chuyện hoằng pháp đã có chiều hướng trở thành một tông chỉ, hay nói nhẹ nhàng hơn là một phương châm, vì phương châm của người tu trong Chơn Lý là xin và cho, học và dạy, tự giác và giác tha. Tất cả các cặp phạm trù tuy là đối đãi, tuy là hai cái trái chiều nhưng thật ra đều là hai mặt của một chuyện một mà thôi, đó là chuyện sống chung tiến hóa và giải thoát. Vì vậy mà Chánh Ngữ của Chơn Lý là một dạng Chánh Ngữ vô cùng tích cực với ý nghĩa được mở rộng hơn và mang một chiều kích sâu xa hơn.

Tương tự với quan niệm về Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp trong Chơn Lý không còn ở trong phạm vi của thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, mà được mở rộng sang phạm vi của Chánh Mạng theo cách định nghĩa trong sách giáo khoa Phật giáo. Chánh Nghiệp đã mang một nội dung rộng rãi và sâu xa hơn để trở thành một điểm nhấn như đã được trình bày ở trên. Chánh Nghiệp cụ thể là thực hành pháp Tứ y Trung đạo và xả bỏ hoàn toàn sự sở hữu. Tuy được định tính là Trung đạo, tức là mực giữa của hai bờ lề, một bờ lề là khổ hạnh ép xác và bờ lề bên kia là thọ dụng quá nhiều, nhưng thực tiễn của thời đại ngày nay thì thực hành pháp Tứ y Trung đạo là bất khả thi. Đi tìm một Trung đạo trong đời sống ăn mặc ở bịnh vẫn là một thách thức thường xuyên. Chánh Nghiệp trong Chơn Lý thật sự là một phác họa với những nét lớn về cách sống, về mối quan hệ với xã hội cư gia, và về lý tưởng một cuộc sống chung hài hòa được thiết lập trên nền tảng của đạo lý vô ngã. Điểm nhấn trong điểm nhấn là câu kết trong định nghĩa của Chánh Nghiệp: "lẽ xin tự người hạp mà cho, là tốt đẹp hơn các nghề nghiệp." Các nghề nghiệp hợp pháp trong đời, từ nghề làm nông đến nghề giáo sư, bác sĩ; từ nghề thủ công đến nghề tư vấn tâm lý; từ nghề làm chính trị đến nghề tư pháp cầm cân nẩy mực; nghề nào cũng cao quý, cũng làm ra cuộc sống hay nói nôm na là 'công ăn chuyện làm' hay 'công chuyện làm ăn'. Theo Chơn Lý thì tất cả các 'chuyện làm ăn' đó đều có mức độ cố cượng hay ép buộc từ phía này hay phía kia nên thường tạo ra xung đột, kiện tụng, chiến tranh. Nói rộng ra, từ chuyện ăn cắp vặt đến chuyện tham nhũng lớn hơn, rồi đến chuyện vĩ mô người bóc lột người theo cách nhìn của triết học Mác, từ chuyện giá bán con cá ba sa đến chuyện chiến tranh dầu mỏ, theo Chơn Lý đều xuất phát từ bản chất cố cượng hay ép buộc của việc trao đổi. Người tu thực hành mối quan hệ xin-cho phi cố cượng, "lẽ xin tự người hạp mà cho" theo Chơn Lý là biểu tướng và cũng là một thực tế sống động của sự nỗ lực phục hồi trở lại trạng thái uyên nguyên của diễn trình trao đổi, chí ít là sự nỗ lực làm thăng bằng, làm giảm nhẹ tính cố cượng hay ép buộc tràn lan trong các mối quan hệ lớn nhỏ hiện nay. Thật ra, "lẽ xin tự người hạp mà cho" vốn là bình thường, vốn là chân lý, vốn là đương nhiên, tự nhiên, như nhiên, yên ổn, khoan hòa nhưng con người nói chung đã tập nhiễm, đã bị ám ảnh, và đã đồng nhất bản thân với dạng trao đổi bằng tiền, bằng quyền, bằng sức mạnh cơ bắp... đến nỗi một số người xem pháp khất thực truyền thống của nhà Phật là cái gì bất thường, bất ổn.

Khi Chánh Nghiệp đã được mở ra bề rộng và nâng lên bề cao như đã được trình bày thì hệ quả tương ứng trực tiếp là Chánh Mạng cũng phải thăng hoa theo. Chánh Mạng không còn là tránh các nghề nghiệp nuôi mạng làm tổn hại chúng sinh, làm các nghề nghiệp chơn chánh đúng pháp, người tu thì phải đi khất thực nuôi mạng. Chánh Mạng ở đây đã mang một tầm vóc khác. Sinh mạng này không còn của cái ngã cá nhân nào nữa mà là của cõi đạo, của chúng sinh. Tự sinh mạng đã buông xả chính nó: "thân có không, còn mất chẳng mến". Như vậy, Chánh Mạng ở đây bao hàm cả nội dung buông xả sự cố cượng duy trì, cố cượng kéo dài sinh mạng, một sự cố cượng mang tính bản năng hình thành từ vô lượng kiếp, nói theo ngôn ngữ hiện đại, bản năng cố cượng này đã hình thành từ khi con người tự tách mình ra khỏi thế giới tự nhiên cách nay nhiều triệu năm. Con người tổng thể chưa bao giờ có ý định quay lại cái tính bản nguyên chơn chất. Chẳng những không quay lại mà con người còn tăng tốc độ kinh khủng, chạy xa hơn cái nguồn cội với trợ giúp của con ngựa khoa học kỹ thuật để có kết quả mà chúng ta thấy là những 'xác người còn sống' trong những bệnh viện hiện đại với đủ loại máy tim, máy phổi. Từ cảnh giới bình thản với sống chết, từ cảnh giới siêu phóng thênh thang "không có cái sống cho mình, thân là của đạo, của chúng sanh, sống bằng tâm chơn như, thân có không, còn mất chẳng mến", Chơn Lý đã trở lại thế giới của thực tế trần gian có một chút gì đó khá trần bụi là vinh và nhục, cụ thể là sạch và dơ. Chạm vào thực tế trần trụi này, Chơn Lý đã có một lựa chọn sanh tử "chết trong sạch hơn sống nhơ bẩn". Quả thật, tâm cảm của người đọc Chơn Lý vừa phiêu diêu lãng đãng của cảnh giới siêu phóng thênh thang vừa đối diện với thực tế cơm áo gạo tiền sạch dơ, vinh nhục. Cõi đạo và cõi đời như quyện chặt vào nhau, lồng vào nhau, thực ra là một chỉnh thể duy nhất mà con mắt phàm nhân có thể biện biệt ra hai mặt mà thôi. Rõ ràng, cụm từ sau cùng trong định nghĩa của Chánh Mạng "chết trong sạch hơn sống nhơ bẩn" có trọng lượng của một mệnh lệnh, một 'quân lệnh như sơn', hay một 'mệnh lệnh của trái tim', còn trong Chơn Lý thì nó mang tính chất đúc kết, tính phương châm và tính quyết định. Tuy có vẻ như đang nói đến cái chết nhưng thật sự cụm từ đó đang nói về cách sống một cách tích cực quyết liệt nhất.

Định nghĩa Chánh Tinh Tấn ở đây không có tính chất cần cù tỉ mẫn của giáo khoa, hay tính chất bác học chi ly của khía cạnh học thuật, mà đi thẳng vào việc tu tập Giới-Định-Tuệ với mục đích chủ yếu là chuyên cần tự tu và hành hoạt giúp đời. Cũng như trường hợp Chánh Mạng, tính chất tích cực của Chánh Tinh Tấn trong Chơn Lý thể hiện rõ ra là một điểm nhấn qua ý nghĩa của cụm từ kết luận mang tính đúc kết, tính phương châm và tính quyết định: Đi hành đạo giáo hóa khắp nơi.

Về chi phần Chánh Niệm, định nghĩa của Chơn Lý ở đây không nghiêng về khía cạnh tỉnh giác hay tỉnh thức an trú trong hiện tại, làm cơ sở cho Chánh Định mà trong phần đầu nghiêng về cách định nghĩa chuẩn mực truyền thống liên quan đến ngôi Tam Bảo Phật-Pháp-Tăng. Phần còn lại của Chánh Niệm chuyển sang hướng khác. Cũng như trường hợp Chánh Tinh Tấn, tính chất tích cực của Chánh Niệm trong Chơn Lý thể hiện rõ ra là một điểm nhấn qua ý nghĩa của cụm từ kết luận mang tính đúc kết, tính phương châm và tính quyết định: Niệm tưởng chúng sinh khổ để tìm phương cứu độ.

Chi phần cuối là Chánh Định, ở chi phần này Chơn Lý không nói đến tứ thiền bát định với những thuật ngữ Phật học kinh điển mà diễn tả cái chỗ đến của một đời người. Đó là cảnh giới, sau khi con người trải qua tất cả những giai đoạn trước, tất cả những giai đoạn khác trong diễn trình của kiếp sống. "Chánh định là Niết-bàn chơn như... nín nghỉ, sau khi rồi xong hết việc" làcâu Chơn Lý gợi cho người đọc nhớ lại một đoạn quan trọng trong tạng kinh truyền thống nói về vị A-la-hán: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui lại trạng thái này nữa". Như vậy trong cách nhìn của Chơn Lý thì Chánh Định được xem là đồng nhất với quả vị đồng đẳng cao nhất của kinh tạng. Nói thận trọng hơn, Chơn Lý không xem thiền định, dĩ nhiên phải là chánh định và quả chứng là hai phạm trù riêng biệt. Hai phạm trù này theo Chơn lý có hoàn toàn đồng nhất hay không là điều có thể nói là quá sớm để chúng ta có thể xác định ngay bây giờ.

Mặt khác, Chánh Định theo tinh thần của Chơn Lý là cảnh giới già nhất về mặt tuổi tác. Quan trọng và ý nghĩa hơn, đó là cảnh giới già dặn nhất của trí khôn, xong xuôi hết mọi việc, viên mãn nhất của thành tựu. Tất cả được biểu trưng bằng hình tượng 'của cải có dư'. Khi nghe Chơn Lý nói của cải có dư người đọc thấy thấp thoáng bóng dáng của một Khổng Tử an bang tế thế, không thích cách nói chuyện trừu tượng xa vời, mà nghiêng về cách nói chuyện cụ thể với những hình tượng cụ thể. Nói cách khác, đó là dạng ngôn ngữ cận nhân tình của cách tư duy thực nghiệm Á Đông, khác với khuynh hướng tư duy trừu tượng trong nền tư tưởng Ấn Độ.

Ở đoạn cuối này, người đọc Chơn Lý xin được nói thật, những khái niệm như sáng tạo, năng động, hay điểm nhấn chỉ là những khái niệm tạm đặt ra để làm khung cho việc bàn luận. Thật ra, những khái niệm đó không thể chuyển tải bao biện hay lột tả được tất cả tinh túy của Chơn Lý. Khái niệm năng động, nếu hiểu theo nghĩa thông thoáng nhất thì tất cả tám chi phần BCĐ được Chơn Lý trình bày đều mang tính năng động, tất cả tám chi phần đều có những điểm nhấn rất riêng của Chơn Lý; và tất cả tám chi BCĐ đều mang tính sáng tạo. Dĩ nhiên, mức độ và liều lượng của từng tính chất nơi từng chi BCĐ có biến hóa, có đậm nhạt và sâu cạn khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều là sản phẩm của một tâm thái thông đạt, quán xuyến và thuần chất. Chất ở đây là chất giác ngộ, giải thoát, tiến hóa. Ba chất này thực ra là một. Cái một đó là cái có thể được gọi là ĐẠO, một chữ ĐẠO viết hoa.

    Chia sẻ với thân hữu: