Đạo Phật Khất Sĩ

Panner Web HPKS  002a 980x165

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tính nhân bản của Đức Phật

Tìm hiểu lịch sử các vị giáo chủ của các tôn giáo lớn, chưa có vị nào chủ trương nhân bản như Đức Phật. Đức Phật đã đề cao năng lực của con người vì con người có khả năng thực hiện mọi điều tốt đẹp và được thừa hưởng mọi kết quả tốt đẹp đó. Đồng thời, Ngài cũng nói rằng mỗi người đều có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về mọi hành vi tội lỗi, xấu xa của mình và phải gánh chịu mọi hậu quả đau khổ của việc làm tội lỗi đó, không có bất cứ một ai có quyền định đoạt cả, dầu đó là một vị thần linh. Trong suốt thời gian hiện hữu trên cuộc đời, Đức Phật dạy cho con người biết tìm lại năng lực của chính mình mà đã có một thời gian khá dài bị một số tôn giáo thiên về thần linh vô hiệu hóa. Nhân kỷ niệm Phật đản sinh lần thứ 2.634, chúng ta thử tìm hiểu tinh thần nhân bản của Đức Phật qua những lời dạy của Ngài được ghi chép trong kinh điển.

1. Những lời dạy mang tính nhân bản của Đức Phật

Mặc dầu tìm nương tựa nơi Đức Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo vô thượng, là thầy dắt dẫn trên con đường trong sạch, người Phật tử không nên qui phục mù quáng như kẻ nô lệ. Người Phật tử không nên tin rằng chỉ qui y Tam Bảo hay chỉ có đức tin suông nơi Tam Bảo mà mình có thể trở nên trong sạch. Không ai, dầu là Đức Phật đi nữa, có đủ năng lực để gội rửa bợn nhơ của người khác. Nói một cách chính xác, không ai có thể rửa sạch cũng không ai có thể làm hoen ố người khác.

“Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm

Chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta

Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.

Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.

(Kinh Pháp Cú, 145).

Ngày nọ, dân xứ Kesaputta, thường được gọi là Kàlàma, hoang mang bạch với Đức Phật rằng có nhiều tu sĩ và nhiều vị Bà-la-môn đến đây giảng đạo, người nào cũng khuyên dụ dân chúng chỉ nên tin giáo lý của mình, không nên tin lời các tu sĩ khác, khiến cho người dân không còn biết tin vào ai.

Phật dạy: “Hãy đến đây: người Kàlàma, không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghe nói lại, vì nghĩ rằng ta đã nghe điều này từ lâu. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì tập tục cổ phong truyền lại như thế. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì có lời đồn đãi như vậy. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy đã được ghi chép trong kinh sách. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì mình đã ức đoán như vậy. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì mình suy diễn như vậy. Không nên chấp nhận điều gì theo bề ngoài. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với thành kiến mình. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hình như có thể chấp nhận được. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghĩ rằng vị tu sĩ thốt ra điều này đã được ta kính trọng từ trước.

Tuy nhiên, khi tự các con hiểu rõ rằng những điều này không hợp luân lý; những điều này đáng được khiển trách, những điều này bị các bâc thiện trí thức cấm đoán, nếu thực hiện những điều này sẽ bị phá sản và phiền muộn, thì hẳn các con phải từ bỏ, không làm điều ấy.

Khi tự các con hiểu rõ rằng, những điều này hợp luân lý; những điều này không bị khiển trách, những điều này được các bực thiện trí thức tán dương, nếu thực hiện những điều này sẽ được an vui hạnh phúc---thì hẳn các con phải hành động như vậy”(Anguttara Nikàya quyển 1).

Mặt khác, khi người Phật tử lễ bái để tỏ lòng tri ân đối với Đức Phật, Ngài thường không chấp nhận hình thức như vậy mà Ngài dạy: “Ai thương Như Lai hãy thực hành lời dạy của Như Lai một cách thiết thực”.

                                                                                             (Buddhist Legends, quyển 3).

Như vậy lời dạy của Đức Phật rất nhân bản, Ngài không bao giờ đặt Ngài ở một vị trí tối cao có đầy đủ quyền năng như những vị thần linh khác, mà Ngài hoàn toàn tôn trọng khả năng hành động của con người và chính con người tự làm cho cuộc đời tốt đẹp hay đau khổ mà thôi. “Là cùng đinh, không phải do sanh trưởng. Là Bà-la-môn, không phải do sanh trưởng. Do hành động, người nầy là cùng đinh. Do hành động, người kia là Bà-la-môn”(Vasala Sutta).

Trong chuyện tiền thn Bhuridatta, Đức Phật đã lên án vai trò thần linh mà thời bấy giờ con người khép nép sợ sệt: “Người có mắt ắt thấy cảnh đau thương của đời sống, tại sao Brahma không tạo một vũ trụ hoàn toàn tốt đẹp, nếu oai lực của Ngài là vô hạn? Tại sao ít khi Ngài nâng tay lên để ban phước lành, tại sao tạo vật mà chính Ngài đã sanh ra lại phải bị đọa đày trong cảnh khổ? Tại sao Ngài không ban hạnh phúc cho tất cả, tại sao đời sống lại đầy dẫy những sự giả dối lừa đảo, si mê? Tại sao gian tham được toàn thắng, chơn thật và công lý lại thất bại? Như vậy ta liệt Brahma vào hạng bất công, đã tạo nên một thế giới hư hỏng”.

Quả thật, Đức Phật và lời dạy của Ngài đượm nhuần tinh thần nhân bản và quảng đại. Lời dạy của Ngài rất cởi mở và đầy thiện cảm, Ngài kêu gọi những ai đi tìm chân lý không nên để cho mọi thế lực bên ngoài tác động, mà phải cân nhắc kỹ càng trước khi hành động. Câu chuyện sau đây chứng minh điều đó. Một hôm nhà triệu phú Upàli thuộc tín đồ của phái Ni-kiền-tử đến tham vấn Đức Phật và rất thỏa thích trong lời dạy của Ngài, ông phát nguyện nương theo tu học. Phật dạy: “Nầy Upàli, ông hãy suy nghĩ cặn kẽ, một người lỗi lạc như ông nên suy tư cẩn thận trước khi quyết định làm điều gì”. Một lời dạy quá bất ngờ khiến Upali càng kính phục, ông bèn quỳ xuống bạch Phật: “Bạch hóa đức Thế Tôn, nếu con đến một vị đạo sư nào khác và xin đi theo để tu học, thì các đệ tử của vị ấy sẽ kiệu con lên và đi cùng khắp đường phố reo hò, công bố rằng vị triệu phú nầy đã từ bỏ tôn giáo mình để đi theo đạo sư kia. Bạch đức Thế Tôn, Ngài thì trái lại, khuyên con hãy đi về suy nghĩ lại, khiến con càng thêm thỏa thích với những lời vàng ngọc ấy. Lần thứ nhì, con xin quy y Phật, Pháp và Tăng”.

2. Tinh thần nhân bản của Đức Phật trong việc tôn trọng sự sống

Tinh thần nhân bản của Đức Phật không chỉ nhắm đến loài người mà còn bao hàm cả vạn vật. Khi còn là Thái tử, một hôm dạo chơi trong vườn, bỗng Ngài thấy con ngỗng trời bị Devadatta bắn rơi xuống trước mặt, Ngài vội chạy đến ôm con vật vào lòng, vuốt ve như thông cảm và chia sẻ sự đau đớn, Devadatta sai người đến đòi lại, Ngài trả lời: “Mạng sống đáng quí đáng tôn trọng, ai biết tôn trọng mạng sống thì con vật nầy thuộc quyền sở hữu của người đó”. Câu chuyện được ghi nhận, sau khi nhờ các vị trưởng thượng phân xử, con vật bị thương đó thuộc về Thái tử. Tương tự như vậy, Vua A-dục thấm nhuần tinh thần từ bi của Đức Phật, nên một đoạn văn sau đây nhà vua đã khắc trên trụ đá để giáo huấn người dân không nên sát hại: “Không nên lấy sự sống để nuôi sự sống, cho đến rơm rạ, nếu có côn trùng còn sống ở trong ấy cũng không nên đốt”.

Như vậy, Đức Phật không những tôn trọng mạng sống và quyền lợi của loài người mà Ngài còn nâng giá trị sinh mạng của loài vật lên một tầm quan trọng không kém loài người. Nếu chỉ dừng lại ở đây cũng đã cho chúng ta thấy rằng tinh thần nhân bản của Đức Phật quả thật là vô tiền khoáng hậu, so với những tôn giáo khác ít khi tinh thần nầy được nhắc đến.

Nhân kỷ niệm ngày Đản sanh của Ngài, chúng tôi chỉ ôn lại những lời dạy cao quí để xác định lại niềm tin của chúng ta đối với Đức Phật cho thật đúng đắn.

Cuối cùng, người viết xin bày tỏ:

“Tôi tin Phật không phải vì quyền lực.

Cũng không là sự cứu rỗi, ban ơn

Tôi tin Phật qua tinh thần nhân bản

Đã giúp tôi thăng tiến giữa cuộc đời”.

    Chia sẻ với thân hữu:
     
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 (0 Votes)

Các bài viết liên quan

Về trang trước     Về đầu trang      In bài      Gửi Email