Đạo Phật Khất Sĩ

Panner Web HPKS  002a 980x165

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Sự trưởng thành của Thái tử Tất Đạt Đa

Sự trưởng thành của Thái tử Tất Đạt Đa - 3.0 out of 5 based on 2 votes
Sự trưởng thành của Thái tử Tất Đạt Đa - 3.0 out of 5 based on 2 votes

 

Ngày nay, Phật giáo phát triển khắp thế giới và trở thành một tôn giáo lớn của nhân loại, đó là nhờ sự truyền đạo của đức Thế Tôn và Tăng đoàn Phật giáo. Thế nhưng phải tính đến khi đạo sĩ Cồ Đàm tu tập chứng quả toàn giác thì bấy giờ Phật giáo mới thực sự xuất hiện. Thời điểm ấy chúng ta gọi là ngày Phật thành đạo.

Trong suốt quá trình sống đời thái tử, đến khi xuất gia và thành đạo, đức Phật có một đời sống vô cùng mẫu mực. Đời sống đó thể hiện sự trưởng thành của Ngài cả khi còn tại gia cũng như xuất gia. Nhân ngày kỷ niệm Phật thành đạo, người viết xin nhận định đôi nét về sự trưởng thành của đức Phật khi còn là thái tử, ngõ hầu làm lợi ích cho đời sống tu học ngày nay của hàng Tăng Ni sinh trẻ.

Ngay từ ngày ra đời, thái tử Tất Đạt Đa đã thể hiện tính siêu phàm nhập thế: Ngài bước trên bảy đoá sen biểu lộ sự vào đời bằng đôi chân thiện pháp. Cho nên, suốt trong cuộc sống, dù ở khía cạnh nào Ngài cũng có sự nổi trội hơn hẳn mọi người. Sự nổi trội đó chính là sự trưởng thành của bậc Thánh nhân.

1. Hoàn thiện về tri thức

Thái tử có một sự thiên phú về khả năng học tập cho nên học bất cứ môn học nào Ngài cũng thông suốt và nhiều môn thông thái hơn cả thầy dạy của mình. Theo sử liệu thì Ngài thông suốt ngũ minh, tức là hiểu biết hầu hết các lĩnh vực khoa học, văn hoá, y học, chính trị và tôn giáo thời bấy giờ.

Chúng ta biết rằng tri thức đóng vai trò chủ đạo trong đời sống con người. Người có tri thức mới có sự hiểu biết về thế giới quan và nhân sinh quan. Việc thái tử thông suốt tất cả các lĩnh vực sống cho thấy rằng tri thức của Ngài đã thăng hoa lên một tầng cao của xã hội đương thời, một xã hội mà triết học Bà-la-môn luôn đề cao vai trò của tri thức. Nhờ hoàn thiện về tri thức nên thái tử hiểu giá trị con người, hiểu về mối quan hệ giữa người và người. Từ đó Ngài nhận ra sự bất công trong một xã hội có giai cấp. Ngài nhận ra các luồng tư tưởng tôn giáo bấy giờ không giải thoát được cho con người. Phải chăng đó là những thao thức, trăn trở, suy tư hướng đến nguồn tri thức mới có thể giải thoát cho con người trong lòng thái tử Tất Đạt Đa, góp phần vào động lực cho chí nguyện xuất gia của Ngài sau này.

Để hoàn thiện tri thức, bên cạnh khả năng thiên phú, chúng ta thấy ở Ngài còn có sự cầu tiến không ngừng. Khi đến tham vấn và cầu học với các vị đạo sư nổi tiếng, thái tử tiếp nhận tri thức ấy nhưng không hoàn toàn chấp nhận. Bằng chứng là việc tu học với A La Lam và Uất Đầu Lam Phất. Khi đó, A La Lam va Uất Đầu Lam Phất lần lượt giới thiệu cho thái tử kiến thức về lối tu thiền định đạt được các tầng thiền vô sắc. Nhưng khi đạt được các tầng thiền đó, thái tử vẫn không thoả mãn tri thức cuối cùng. Vì tri thức mà Ngài hướng đến là tri thức phải giải thoát cho con người chứ không dừng lại tận hưởng sự an lạc trong một cảnh giới cao siêu nào. Cuối cùng không đạt được mục đích Ngài ra đi tự mình tìm ra nguồn tri thức cao hơn.

2. Nhận thức hướng thượng

Mục tiêu sống của chúng ta bao giờ cũng hướng đến chân, thiện và mỹ. Đó là mục tiêu chung của toàn nhân loại trên thế gian này. Nhưng mục tiêu đó phải thông qua nhận thức hướng thượng mới có thể thực hiện được.

Bên cạnh một tri thức hoàn thiện, nhận thức sống của thái tử Tất Đạt Đa cũng vô cùng sâu sắc. Nhận thức của Ngài bắt nguồn từ những thực tế khách quan qua sự chứng kiến các mối quan hệ xã hội. Nhận thức đó bao giờ cũng hướng đến hạnh phúc của chúng sinh, nhất là con người.

Theo quyển Đức Phật và Phật Pháp của Trưởng lão Narada, khoảng 8 tuổi, thái tử cùng vua cha tham dự buổi lễ hạ điền truyền thống. Trong khi mọi người vui chơi ca hát, thái tử bắt gặp hình ảnh những con trùng bị loài ếch ăn thịt, rồi ếch bị rắn tha và sau đó rắn bị diều hâu sà xuống quắp. Thái tử nhận ra đó là sự đấu tranh sinh tồn của chúng sanh luôn mang đến cho chúng sanh sự đau khổ. Trưởng lão Narada đã nhận định: đây là một sự kiện lạ lùng đã xảy ra trong thời thơ ấu của thái tử. Sự kiện ấy là một kinh nghiệm tinh thần sẽ giúp Ngài thật nhiều khi Ngài quyết tâm tìm chân lý. Sự kiện ấy cũng là chìa khoá mở đường cho Ngài tiến đến đạo quả Chánh Giác.[1]

Nhận ra sự đấu tranh nghiệt ngã đã cho thái tử một động lực cứu giúp muôn loài. Ngài đã mạnh dạn bảo vệ một chú chim bị thương khỏi tay Đề Bà Đạt Đa bằng quan điểm: con chim thuộc về người biết tôn trọng sự sống.

Nhìn xa hơn về xã hội bấy giờ, Ngài thấy rằng giá trị con người bị chà đạp xuống tận cùng của đau khổ. Giai cấp thấp không được tự do, bị thống trị cùng cực từ vật chất đến tinh thần. Mâu thuẫn xã hội thực chất chỉ là sự đấu tranh sinh tồn của mạnh được yếu thua, sống trên sự sống của nhau mà thôi. Nhận thức này đưa đến một tư tưởng xoá bỏ giai cấp, tìm ra một lối đi cho con người biết tôn trọng nhau, thương yêu nhau và không làm cho nhau đau khổ. Phải chăng nhận thức này là tiền đề cho lời dạy của Ngài sau này khi thành Chánh Giác: không có giái cấp trong dòng máu cùng đỏ và giọt lệ cùng mặn?

Nhưng nhận thức cao tột hơn hết chính là việc thái tử nhận ra quy luật sinh diệt của nhân sinh. Qua các lần dạo chơi ngoài thành, Ngài nhận ra con người phải chịu sự chi phối của tuổi già, bệnh hoạn và cái chết. Nhận thức này là sự thúc đẩy mạnh mẽ nhất vào chí nguyện xuất gia tầm chân lý giải thoát của Ngài. Kinh Thánh Cầu diễn tả tâm trạng của Ngài lúc bấy giờ: chính Ngài phải chịu sự già chết, phiền não và nhiễm ô. Vì chịu sự chi phối của già chết, phiền não và nhiễm ô nên phải chịu sự bất lợi của chúng. Hay là đi tìm cái chưa thành đạt, cái tối thượng và tuyệt đối châu toàn là Niết bàn.[2]

3. Chiến thắng bản chất khát ái

Sinh trưởng trong hoàng cung, thái tử được dưỡng nuôi và cung phụng với đầy đủ sự thụ hưởng của ngũ dục lạc. Ngài nhận rõ bản chất khát ái là một bản năng hưởng thụ rất nặng nề của con người. Chính bản năng này thôi thúc và xô đẩy con người đi vào luân hồi đau khổ. Theo tư tưởng của Trưởng lão Rahula trong quyển Đức Phật đã dạy những gì? phân tích rằng: bản chất khát ái là khuynh hướng tìm cầu sự thỏa mãn trong các giác quan. Việc tìm cầu đó làm mất sự cân bằng giữa bản năng và lý trí, con người khi ấy không định hướng được lý trí mà sống bằng bản năng nên đánh mất chính mình. Khi lập gia đình, gánh nặng của ái dục đã tăng lên trong đời Ngài. Ngài than: lại thêm một trói buộc, lại thêm một gánh nặng.[3]

Vào một đêm sau buổi yến tiệc linh đình, thái tử choàng tỉnh giấc, thấy các cung nữ nằm ngủ la liệt, Ngài chợt tỉnh thức nhận ra rằng đằng sau sự sướng vui dục lạc là cả một đêm dài mệt mỏi đầy khổ luỵ. Ngài đã dạy: đời sống tại gia rất tù túng chật hẹp, là chỗ ẩn náu của bụi trần ô trược, nhưng đời sống của bậc xuất gia quả thật là cảnh trời mênh mông bát ngát.[4]

Từ sự nhận thức về bản chất khát ái, thái tử phần nào thông suốt về nguyên nhân của sự đau khổ nên Ngài vượt qua bản năng hưởng thụ này, cắt bỏ mái tóc xanh, lìa cha già, vợ đẹp, con ngoan và cả ngôi vị thái tử để dấn thân tìm ra con đường giác ngộ cho mình. Đây là một chiến thắng bản thân vĩ đại mà chỉ có bậc thánh nhân mới có thể làm được.

 Dù tại bãi chiến trường

Thắng ngàn ngàn quân địch

Không bằng tự thắng mình

Chiến thắng ấy tối thượng.

 4. Sự giác ngộ hoàn toàn

Trưởng thành nhất trong cuộc đời thái tử Tất Đạt Đa có lẽ không gì khác hơn là lối tu đầy sáng tạo do tự Ngài tìm ra và đưa đến giác ngộ hoàn toàn. Do sự khát khao mãnh liệt con đường giải thoát, bằng nhận thức hoàn mỹ và tri thức tuyệt vời thái tử dấn thân tu tập tất cả các trường phái tôn giáo trong suốt 5 năm. Trong suốt qua trình đó, tuy không thoả mãn được mục đích nhưng thái tử rút ra được những kinh nghiệm quý báu để xây dựng riêng cho mình một lối tu đúng đắn. Lối tu ấy chính là con đường Trung đạo.

Ngài nhận thấy rằng lối tu khổ hạnh không đưa đến giải thoát vì cơ thể quá tiều tuỵ, sức khoẻ và tinh thần không đủ để tư duy và thâm nhập các cảnh giới thiền. Lối tu này gồm 4 pháp:

-         Hạn chế tối đa sự ăn uống.

-         Hạn chế tối đa mặc quần áo, dùng vỏ cây làm y phục hoặc loã thể.

-         Ở giữa rừng núi, không vào làng xóm.

-         Bệnh không dùng thuốc.

Ngài cũng nhận ra lối tu dung dưỡng quá bồi bổ cơ thể cũng không mang đến lợi ích cho sự tu hành. Gồm bốn pháp:

-         Ăn uống sung mãn.

-         Mặc đồ đẹp đẽ.

-         Ở nhà cao sang.

-         Bệnh dùng thuốc tốt và thuốc bổ.

Ngài dạy rằng:

"Hỡi này các Tỳ-khưu, có hai cực đoan mà hàng xuất gia phải tránh:

Sự dể duôi trong dục lạc là thấp hèn, thô bỉ, phàm tục, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhơn, và vô ích.

Sự thiết tha gắn bó trong lối tu khổ hạnh là đau khổ, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhơn, và vô ích.

Từ bỏ cả hai cực đoan ấy, Như Lai đã chứng ngộ con đường Trung Ðạo, là con đường đem lại nhãn quan và tri kiến đưa đến an tịnh, trí tuệ cao siêu, giác ngộ và Niết-bàn.[5]

Bốn pháp Trung đạo đó là:

-         Ăn đồ khất thực một bữa ngọ.

-         Mặc y phấn tảo.

-         Ở qua đêm dưới cội cây, cốc lá.

-         Dùng phân bò làm thuốc khi bệnh.

Nhờ sáng tạo con đường tu tập đầy trí tuệ rất phù hợp với con đường giải thoát nội tâm nên sau 49 ngày đêm thiền định, cuối cùng thái tử Tất Đạt Đa chứng quả Toàn Giác. Bấy giờ Ngài là Phật, một vị Như Lai giữa cõi đời này. Đây là sự trưởng thành tối hậu của Ngài khi đắc quả Phật.

Tóm lại, sự trưởng thành là kết quả qua một quá trình học tập dài lâu từ kiến thức cho đến kinh nghiệm sống. Với hàng xuất gia đó là pháp học và pháp hành. Chúng ta học tập ở Đức Phật khi Ngài chưa chứng quả một đời sống rất mẫu mực thể hiện trong cách sinh hoạt của Ngài. Bằng sự hiểu biết và sự nhận thức hướng thiện Ngài ứng xử hài hoà với mọi người. Ngài sẵn sàng chia sẻ nỗi khổ niềm đau trong xã hội, quên mình cứu giúp chúng sanh khi chúng sanh gặp nạn. Hơn hết, sự trưởng thành trong lối tu của Ngàì là một bài học rất quan trọng cho người học Phật ngày nay. Điều ấy cho chúng ta một bài học rằng: kiến thức ngày nay dù tiến bộ vượt bậc và thông suốt hầu như tất cả các lĩnh vực sống cũng chỉ cung cấp cho tri kiến mà thôi. Nếu không áp dụng kiến thức ấy vào sự tu tập hàng ngày thì chúng ta chỉ đạt sự trưởng thành trên lý luận chứ thực chất không thể trưởng thành trên con đường giác ngộ. Chẳng khác nào học vẹt nói suông mà không bao giờ chứng nghiệm tâm linh hay đạt sự giải thoát cuối cùng nào cả. Chúng ta phải noi gương thái tử hết lòng học Phật song song với hết mình tu Phật, như vậy mới đi đúng con đường giác ngộ mà Ngài đã đi và chỉ dạy lại cho chúng ta. Và như thế mới sống trọn ý nghĩa trong ngày Phật thành đạo vậy.


[1] Đức Phật và Phật pháp, trang 28- Narada.

[2] Kính Thánh Cầu- Trung A Hàm.

[3] Narada, Đức Phật và Phật pháp, tr.32.

[4] Trung A Haøm, “Ñaïi Kinh Saccaka”.

[5] HT. Thiện Châu (dịch), Kinh Chuyển Pháp Luân, Tương ưng Bộ, tr. 420.

 

    Chia sẻ với thân hữu:
     
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 (2 Votes)

Các bài viết liên quan

Về trang trước     Về đầu trang      In bài      Gửi Email