CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Phật giáo Việt Nam, nước Ấn Độ và Thánh Gandhi

PHẬT GIÁO VIỆT NAM, NƯỚC ẤN ĐỘ VÀ THÁNH GANDHI

 

Người viết bài này với tư cách là một Tăng sĩ Phật giáo, nêu một vài nhận xét về Phật giáo Việt Nam, vê nước Ấn Độ và về Thánh Gandhi.

Lý do: Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo ở các nước khác đều có nguồn gốc từ Ấn Độ, đều tôn thờ Đức Phật tổ Thích-ca Mâu-ni. Phật giáo đến Việt Nam từ thời xa xưa, cách đây 23 thế kỷ. Ấn Độ lại là quốc gia đã và đang là quốc gia thân thiện với Việt Nam. Mahatma Gandhi là người đã đấu tranh mang lại độc lập thống nhất cho Ấn Độ, là vị đạo đức, trí tuệ cao vời, được gọi là Từ phụ, là Thánh của nhân dân Ấn Độ. Phương pháp, biện pháp đấu tranh và sự thành công của Ngài rất gần gũi với giáo lý Phật giáo, xứng đáng được cả thế giới khâm phục. Nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Ngài, chúng tôi chọn đề tài này để tôn vinh Ngài, nước Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam.

I/ Phật giáo Việt Nam được du nhập trực tiếp từ Ấn Độ

                    Từ 23 thế kỷ trước, Giao Châu ở châu thổ sông Hồng Hà đã là một vùng đất trù phú, sinh hoạt mạnh mẽ, là nơi giao lưu bằng đường biển của các tàu buôn từ Ấn Độ, Malaysia, Indonesia và các tàu từ Trung Quốc. Về đường bộ thì là nơi gặp gỡ của các thương nhân Trung Hoa, Miến Điện, Tây Tạng,…

Phật giáo được du nhập vào Giao Châu là do các nhà Sư Ấn Độ đi theo các tàu buôn, đến Giao Châu từ 2 thế kỷ trước TL. Khi Trung tâm Phật giáo Luy Lâu được thành lập thì Phật giáo tại Giao Châu đã được thịnh hành, đã có 20 ngôi chùa, 500 Tăng sĩ và 15 bộ kinh đã được dịch từ Phạn ngữ ra Hán ngữ. Phật giáo Ấn Độ còn ảnh hưởng đến Phật giáo Việt Nam từ phía Nam của Việt Nam ngày nay, phía Chân Lạp và Chăm Pa qua ngõ Xiêm La (Thái Lan) và Lão Qua (Lào). Tuy Giao Châu đang bị nhà Hán cai trị, nhưng do thuận lợi địa thế, Luy Lâu được thành lập trước Lạc Dương và Bình Thành ở Trung Quốc.

Màu sắc Phật giáo Ấn Độ còn được thấy ở truyện cổ Man Nương và Chử Đồng Tử. Man Nương có thai khi đang ngồi ở bục cửa và nhà sư Ấn Độ Khâu-đà-la bước ngang qua. Chử Đồng Tử và vợ là Tiên Dung được vị sư Ấn Độ dạy phép tu, được chứng ngộ.

Từ thế kỷ II trước TL đã có nhiều nhà sư Ấn Độ đến Giao Châu như Ma-ha-kỳ-vực, Khâu-đà-la, Chi-cương-lương-lâu, Chi-cương-lương-tiếp; sau đó là Khương Tăng Hội, Đạt-ma-đề-bà… Đến thế kỷ VI, Đại sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền Thiền pháp, khai sáng dòng thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, truyền được 19 đời, Riêng ngài Khương Tăng Hội (gốc người Khương Cư, Trung Á nhưng tổ tiên sống lâu đời ở Ấn Độ), được khá nhiều học giả Việt Nam đề nghị tôn xưng là Thiền tổ của Việt Nam. Ngài đã dịch Lục độ tập kinh và chú thích, viết tựa cho nhiều bộ kinh khác.

Đến quê hương Ấn Độ của Đức Phật, chiêm bái các thánh tích Phật giáo, học Phật là ước nguyện của các Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Thật không thể kể hết những trường hợp người theo Đạo Phật đã đến Ấn Độ tu học và chiêm bái các Thánh tích Phật giáo.

Hiện không có tài liệu ghi việc các nhà Sư Giao Chỉ theo chân các nhà Sư hay nhà buôn để sang Ấn Độ du học. Nhưng sử sách có ghi từ thế kỷ thứ VII, thứ VIII TL đã có 6 nhà sư Việt Nam sang Ấn Độ du học: Vận Kỳ, Giải Thoát Thiền, Khuy Xung, Huệ Diệm, Trí Hành, Đại Thừa Đăng.

Trong gần 20 thế kỷ, do sự quá khích, hẹp hòi và bạo lực của các thành phần chính trị, tôn giáo và một số quần chúng, sự suy thoái đạo đức của một số Tăng sĩ Phật giáo, Phật giáo Ấn Độ bị đàn áp, tàn bạo, nhiều Tăng ni và cư sĩ Phật giáo bị bạo hành, giết chóc, tự viện bị phá tan. Điều này khiến Phật giáo Ấn Độ nhanh chóng suy tàn, gần như bị tiêu diệt. Thế nhưng phong trào phục hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX đã hồi sinh Phật giáo Ấn Độ. Đến nay tại Ấn Độ đã có 2.000 Tăng sĩ, 500 tự viện và 6 triệu tín đồ, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Điều này đã kích thích Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đến Ấn Độ chiêm bái các Thánh tích Phật giáo và học tập giáo lý của Đức Thích-ca. Từ năm 1990 đến nay, đã có hàng trăm Tăng Ni sinh Việt Nam du học Ấn Độ, đã tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ Phật học và đã có hơn chục ngôi chùa do Tăng Ni Việt Nam thành lập rải rác tại các Thánh tích Phật giáo.

          II/ Bang giao của Ấn Độ đối với Việt Nam

          Như trên đã nói, quan hệ, ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ và Việt Nam qua các nhà buôn, nhà Sư đã có từ hai thế kỷ trước TL. Đây cũng là quan hệ về kinh tế và văn hóa.

          Ở đây tôi muốn nhấn mạnh về tình hữu nghị, sự thông cảm, sự nhận định đúng đắn về quan điểm chính trị của Ấn Độ đối với Việt Nam, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XX cho đến ngày nay, cụ thể là từ năm 1954 khi Thủ tướng Jawaharlal Nehru viếng thăm Hà Nội năm 1954, chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Ấn Độ năm 1972. Cũng trong thời gian này, vào năm 1958 Chính phủ Ấn Độ đã mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ, hội kiến Thủ tướng Nehru, đồng thời viếng thăm khuôn viên khu lăng mộ Thánh Gandhi và trồng cây sứ lưu niệm tại đây.

          Ấn Độ từng bày tỏ lập trường ủng hộ Việt Nam độc lập khỏi Pháp và phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam và ủng hộ thống nhất Việt Nam. Năm 1975, Ấn Độ công nhận Việt Nam là Quốc gia ưa chuộng nhất. Hiệp định Thương mại song phương được ký năm 1978, Hiệp định bảo vệ và Xúc tiến Đầu tư song phương được ký năm 1997, Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện năm 2003. Ấn Độ lên án mạnh mẽ sự việc Trung Quốc đang nỗ lực bành trướng ra khắp thế giới, lấn chiếm phi pháp vùng Biển Đông, đặc biệt là xâm lấn, chiếm đảo, đe dọa vùng biển và vùng đảo chủ quyền của Việt Nam.

          Trong hoàn cảnh hiện nay, sự hợp tác, giúp đỡ của Ấn Độ đối với Việt Nam là vô cùng có ý nghĩa. Một mặt là để bảo vệ lẽ phải, thực hiện chủ trương tự do giao thông trên các vùng biển và vùng trời quốc tế thuộc Ấn Độ - Thái Bình Dương bao gồm Biển Đông. Mặt khác là tăng cường sức mạnh quân sự để phòng vệ lãnh thổ, đồng thời giải quyết tranh chấp bằng đường lối hòa bình. Cụ thể, Ấn Độ - Việt Nam đã không những tăng trưởng xuất nhập khẩu song phương. Ấn Độ còn bằng nhiều cách giúp Việt Nam tăng cường sức mạnh quân sự, tài trợ, bán vũ khí, huấn luyện sử dụng các khí tài, tập trận chung trên biển,…

          Nỗ lực hợp tác của Ấn Độ đã thể hiện rõ nét khi 6 vị Thủ tướng lần lượt đến Thủ đô Hà Nội: Java Harlal Nehru (1954), Rajiv Gandhi (1985 và 1988), Nara Simha (1994), Atal Bihari Vajpayee (2001), Manmohan Singh  (2010) và Narendra Modi (2016).

          Tình hữu nghị, sự hợp tác vững chãi, lâu bền của Ấn Độ đối với Việt Nam thực là đáng trân quý vô cùng.

          III/ Thánh Gandhi, linh hồn của Ấn Độ, xứng đáng được kính mộ

          Như đã nói ở phần đầu của bài, tôi với tư cách là một người theo Đạo Phật, vốn kính ái Ấn Độ vì Ấn Độ là quê hương của Đức Phật. Thánh Gandhi lại là linh hồn, là Từ phụ, nhà tư tưởng, bậc Thánh của Ấn Độ, được cả thế giới kính mộ, tôi cũng bày tỏ sự kính mộ ấy và muốn có vài nhận định về trí tuệ, đạo đức và hành trạng của ngài và mọi người có thể thấy rất phù hợp với giáo lý Phật giáo.

          Là một tín đồ của Ấn Độ giáo, thuộc đẳng cấp thứ ba là Phệ-xá của những người theo nghề buôn bán, Thánh Gandhi tôn thờ Thượng đế là đấng Phạm thiên, kính ngưỡng các bộ Phệ-đà và đặc biệt là triết lý của các bộ Áo nghĩa thư, nhất là tập Chí tôn ca, ngài cũng tôn trọng các tôn giáo khác khi tuyên bố: “Tôi là môn đồ Ấn giáo, tôi cũng là tín đồ Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo và Do Thái giáo”. Ngài tôn trọng Chân lý tuyệt đối mà ngài xem là đồng nghĩa với Thượng đế.

         Hãy xét những điểm nổi bật về bản chất và hành trạng của ngài trong việc nung rèn phẩm chất để đấu tranh giành độc lập và thống nhất cho Ấn Độ thoát khỏi sự cai trị của Đế quốc Anh.

         Phát xuất từ lòng từ bi, ngài thông cảm nỗi khổ của những người mang thân phận nghèo hèn, bị khinh rẻ, áp bức vì sự bất công của xã hội và ách thực dân đế quốc. Ngài đem lại độc lập, tự do cho toàn dân là sự bố thí lớn lao nhất của một nhà chính trị. Ngài nhận thấy cần phải đấu tranh để thoát khỏi khổ nạn ấy. Với trí tuệ cao vời, ngài nhận rõ lẽ phải, con đường đấu tranh, phương pháp và biện pháp hành động và kết quả tốt đẹp của những nỗ lực đấu tranh. Ngài tự trui rèn đức nhẫn nhục, kiên trì trong việc nghiên cứu học tập trong và ngài nước, chịu bị hất hủi tù đày, tận tụy với cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất cho đất nước. Nhẫn nhục là động lực chủ yếu của tinh tấn. Ngài luôn luôn tìm cơ hội để học hỏi, rút kinh nghiệm để nhận rõ tình hình thực tế, tự hoàn thiện phương cách đấu tranh và thúc đẩy nhanh sự thành công. Là một nhà trí thức, một tín đồ thuần thành của Ấn giáo, dĩ nhiên ngài kiên trì với thiền định để có sự thanh thản của tâm hồn và sự sáng suốt của trí tuệ. Cũng lấy gốc từ bi, ngài chọn con đường đấu tranh bất bạo động, một ý nghĩa của bất hại kêu gọi nhân dân không hợp tác, không dùng hàng hóa của chính quyền cai trị, dũng cảm tuyệt thực để đấu tranh cho mục đích chân chính. Ngài là con người đạo hạnh, đức độ cần thiết nhất của một người, nhất là một nhà lãnh đạo. Ngài ăn chay để tránh sát sinh, ngài tuyệt dục, sống thanh bần, giữ im lặng suốt một ngày trong mỗi tuần để giữ cho tâm hồn thanh thản. Tất cả những điều đã nêu cho thấy rõ ràng tư tưởng, bản chất và hành trạng của Thánh Gandhi rất phù hợp với giáo lý Phật giáo, đầy đủ Lục độ vạn hạnh, mang nặng màu sắc giáo lý của Đức Phật.

         Tưởng cũng nêu thêm một nhận định rằng Thánh Gandhi tuy là một tín đồ của Ấn Độ giáo, ngài không ủng hộ việc kỳ thị giữa các đẳng cấp. Ngài từng bảo rằng trận động đất lớn năm 1934 là do hành vi phi đạo đức của các tín đồ Ấn giáo khi ngăn cấm những người thuộc đẳng cấp tiện dân (thủ-đà-la) vào đền thờ. Trong Tự truyện của ngài, ngài đã viết rằng sự kỳ thị tiện dân là một sự hủ bại, một cục bướu. Trong lúc đang đấu tranh giành độc lập, ngài đã từ chối đề nghị của Tiến sĩ B. R. Ambedkar 9 người cải đạo từ Ấn giáo sang Phật giáo và trở thành vị Tỳ-kheo góp công lớn cho Phong trào phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ. Ngài cho rằng cần phải thuận cho những người tiện dân tự do bầu cử như những người thuộc ba đẳng cấp cao hơn. Điều này là hoàn toàn vì lý do chính trị trong lúc ngài cần có sự đoàn kết để chống sự phân chia quyền lực của nhiều nhóm người mà những người thuộc Ấn giáo chiếm đại đa số quần chúng, lại là những người ủng hộ luật Manu, chủ trương bốn đẳng cấp trong xã hội.

IV/ Kết luận

         Bài viết này không phải là một bài nghiên cứu lịch sử hay triết học, chỉ là bài như đã nói, những nhận định của một người theo Đạo Phật về Phật giáo Việt Nam trong việc tu hành giáo lý của Đức Phật, bậc Thế Tôn quê hương Ấn Độ, và sự biết ơn các vị Sư Ấn Độ đã đưa Phật giáo vào Việt Nam. Cũng là nhằm tri ân đất nước quê hương của Đức Phật, và nhằm trân quý mối bang giao thắm thiết Ấn Độ - Việt Nam, nhân kỷ niệm ngày sinh thứ  150, (2/10/1869-2/10/2019) vừa qua, bậc Thánh nhân của Ấn Độ, tôi có vài dòng để tôn vinh ngài. Ngày 2/10 đã được Liên hiệp quốc chọn là ngày Quốc tế Bất bạo động (Global Non-Violent Day).

         Cả thế giới đều tôn vinh ngài. Tượng đài kỷ niệm ngài được xây dựng ở nhiều nơi trên thế giới, tại Hoa Kỳ: San Francisco, Houston, Newyork, Atlanta, Hawaii, Washington DC; và tại rất nhiều quốc gia khác như: Canada, Anh, Pháp, Nga, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Nam Phi, v.v…

                      Tài liệu tham khảo:

-    Viện Triết học, UB KHXHVN, Lịch sử Phật giáo Việt Nam,  Nxb Khoa học Xã hội, 1988.

  • Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập I, nxb Thuận Hóa, 1999.
  • Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo Sử luận, Tập I, nxb Văn học, 1972.
  • Louis Fischer, The Life of Mahatma Gandhi, Amazon, 1950.
  • wikipeda.org, Quan hệ Ấn Độ-Việt Nam.
  • wikivoyage.org, Ấn Độ.
  • britanica.com, Mahhatma Gandhi.
  • gandhi.gov.in , From Mohan to Mahatma.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: