CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Đọc Chơn Lý "Bát Chánh Đạo" - phần 1

Quyển Chơn lý Bát Chánh Đạo (viết tắt là BCĐ) chia làm bảy phần đánh dấu bằng số La-mã từ I đến VI, phần bảy có thể xem là phần kết. Phần II có tiểu tựa "Nhơn duyên của tám đạo" đặt sau một câu dẫn khởi. Phần IV có tiểu tựa "Về các pháp của tám đạo" đặt ngay từ đầu. Phần kết bắt đầu bằng cụm từ "Nói tóm lại", đoạn cuối của phần này lại có một đoạn đính kèm với tiểu tựa là: "Tám đạo và tám quả". Quyển Chơn lý Thập nhị nhân duyên có những mối liên hệ sâu xa tới những phạm trù triết học căn cơ và mênh mông vũ trụ như Bản thể luận, Nhận thức luận, Đạo đức học, Giải thoát luận. Rời khỏi cảnh giới của những phạm trù triết học căn cơ và mênh mông, quyển Chơn Lý BCĐ này ắt sẽ đưa chú tiểu tăng trở về với thực tế của đời sống tu tập và hành trì.  

Chánh văn:

BÁT CHÁNH ĐẠO tức là tám cách hành đạo, theo lẽ chánh của bậc Thánh nhân, cũng kêu là bát thánh đạo, là pháp tự độ độ tha, sống chung với tất cả, để cùng đưa nhau lên đến nơi cùng tột là Niết-bàn. Bát chánh đạo cũng gọi là chánh pháp hay trung đạo, gồm cả sự học và hành. Bát chánh đạo là tám cửa, tám đường vui, tám pháp giải thoát, tám tia sáng… là con đường tiến hóa của chúng sanh, tức là chơn lý của võ trụ, mà muôn loại đều ở trong.

Ở đoạn đầu tiên Chơn Lý đã dùng phương pháp định danh và định nghĩa để giới thiệu về BCĐ. Qua phương pháp định danh, BCĐ có ba tên gọi khác là "Bát thánh đạo", "Trung đạo", và "Chánh pháp". Điều này hàm nghĩa rằng những pháp nào hay những hệ thống nào đi ngược lại BCĐ là Phàm phu đạo, là Cực đoan đạo, và là Tà pháp. Lại nữa, những pháp nào hay những hệ thống nào không thể hiện đầy đủ những phương diện của đời sống tu tập và hành trì như BCĐ thì đó là những pháp khiếm khuyết, thiếu thốn, không viên mãn, không đầy đủ hai phần: học và hành. Qua phương pháp định nghĩa, BCĐ có nghĩa là con đường, là cửa ngõ, là tia sáng, là pháp giải thoát. Cuối đoạn, Chơn Lý như một dấu ấn của Chuyển luân vương đã "KHÂM THỬ" rằng BCĐ có vị thế bao trùm và phủ kín cả không gian vô cùng và thời gian vô tận khi nói rằng: "BCĐ là chơn lý của võ trụ". Một cụm từ khá kỳ bí là: "muôn loại đều ở trong BCĐ". Từ cụm từ này có thể dẫn khởi ra câu hỏi: "Con châu chấu có nằm trong Bát chánh đạo không?" Bỗng dưng màu sắc của một công án thiền xuất hiện. Triệu Châu xuất hiện, Tuệ Trung xuất hiện. Trước đó Ca Diếp đã trả lời, Na Tiên và Long Thọ đã trả lời. Chơn Lý trong đoạn sau sẽ trả lời theo cách rất riêng.

Chánh văn:

Bát chánh đạo là bà mẹ hay khí thở, hoặc như mặt đất, cái nhà, mà người, Trời, không bao giờ thiếu sót, lạc loài. Tất cả chúng sanh đều ở trong đạo bát chánh, cõi đời có cũng do bát chánh đạo. Bát chánh đạo là sự sống, hay tâm hồn của chúng sanh, mà các tông chi giáo lý văn minh, thảy từ đó mà ra cả. Bát chánh đạo không phải riêng của một đạo giáo nào, chính đạo là nấc thang chung của toàn thể.

Câu đã nói ở trên: "Quyển Chơn Lý BCĐ này ắt sẽ đưa chú tiểu tăng trở về với thực tế của đời sống tu tập và hành trì" đã tỏ ra là một câu phán đoán sai. Chơn Lý BCĐ dù sẽ bàn khá tỉ mẫn và cụ thể về đời sống tu tập, nhưng vẫn chưa bao giờ và không bao giờ rời khỏi, hay cắt đứt mối cộng thông với cảnh giới lồng lộng nguy nga của vũ trụ không cùng tận. Chơn Lý tiếp tục dùng phương pháp định nghĩa để dẫn người đọc vào trong cảnh giới trong đó Bát chánh đạo hiện ra bằng hình tượng cụ thể thân thương như "bà mẹ" hay ấm áp êm đềm như "cái nhà"; hình tượng vững chãi dung chứa như "mặt đất" hay dưỡng nuôi bảo bọc như "khí thở". Từ ý nghĩa nền tảng là cụ thể thân thương, ấm áp, vững chãi, dung chứa, dưỡng nuôi, bảo bọc, BCĐ còn có tầng nghĩa sâu xa và siêu hình hơn như "sự sống" hay "tâm hồn". Rồi sau cùng, BCĐ là BCĐ, là "nấc thang chung của toàn thể". Khi nói "nấc thang" tức là gợi lên con đường hướng thượng, nếp sống hướng thượng, cũng có nghĩa là nếp sống tu tập và hành trì. Như vậy, câu "Quyển Chơn lý BCĐ này ắt sẽ đưa chú tiểu tăng trở về với thực tế của đời sống tu tập và hành trì" là câu phán đoán không sai nhưng không đầy đủ để bao quát được tất cả những nội hàm của BCĐ.

Chánh văn:

Tám đường chánh ấy là:

1.         Chánh kiến đạo là con đường thấy chánh.

2.         Chánh tư duy đạo là con đường suy gẫm chánh.

3.         Chánh ngữ đạo là con đường nói chánh.

4.         Chánh nghiệp đạo là con đường làm chánh.

5.         Chánh mạng đạo là con đường sống chánh.

6.         Chánh tinh tấn đạo là con đường siêng năng chánh.

7.         Chánh niệm đạo là con đường tưởng nhớ chánh.

8.         Chánh định đạo là con đường yên nghỉ chánh.

Sau khi định nghĩa tổng thể BCĐ, Chơn lý định nghĩa từng chi phần, cụ thể, chánh kiến đạo là con đường thấy chánh. Lọc lấy ra thuật ngữ chủ yếu, chúng ta có: "Kiến" và "thấy" với mối liên hệ đồng nhất: Kiến là thấy. Theo cách tương tự chúng ta có: Tư duy là suy gẫm; ngữ là nói; nghiệp là làm; mạng là sống; Tinh tấn là siêng năng; Niệm là tưởng nhớ; Định là yên nghỉ. Đặt 8 thuật ngữ vào bảng liệt kê, người đọc sẽ có:

 

 

Chi phần

Định nghĩa

1

Kiến

Thấy

2

Tư duy

Suy gẫm

3

Ngữ

Nói

4

Nghiệp

Làm

5

Mạng

Sống

6

Tinh tấn

Siêng năng

7

Niệm

Tưởng nhớ

8

Định

Yên nghỉ

 

Về mặt dụng từ chúng ta sẽ thấy cột bên trái sử dụng 8 từ Hán Nôm để làm tên gọi cho 8 chi phần BCĐ. Cột bên phải là 8 từ thuần Việt để chuyển tải ý nghĩa. Mở ngoặc, người đọc có thể nói tiếng Việt có nguồn ngữ vựng phong phú và sống động, đảm nhiệm dễ dàng và thông suốt công việc chuyển tải này.

Nói một cách tổng quát, Chơn lý nói về mỗi chi của BCĐ một cách bình đẳng, không phân biệt, không khinh không trọng, nhưng người đọc cảm thấy rằng trong 8 chi BCĐ thì 4 chi giữa gồm chánh ngữ và chánh nghiệp, chánh mạng và chánh tinh tấn tương đối dễ hiểu, dễ nắm bắt. Hai chi đầu và hai chi chót: chánh kiến và chánh tư duy, chánh niệm và chánh định thì liên quan trực tiếp đến những vấn đề cao sâu thuộc cảnh giới của trí tuệ và thiền chứng nên khó lãnh hội hơn, cần nhiều công phu, sách vở và giấy bút mới có thể cặn kẽ, am tường. Có dịp, người đọc sẽ quay lại để trình bày kỹ hơn.

Chánh văn:

Cũng có thể nói như vầy:

1.         Chánh kiến đạo là thấy con đường chánh.

2.         Chánh tư duy đạo là suy gẫm con đường chánh.

3.         Chánh ngữ đạo là nói con đường chánh.

4.         Chánh nghiệp đạo là làm con đường chánh.

5.         Chánh mạng đạo là sống con đường chánh.

6.         Chánh tinh tấn đạo là siêng năng con đường chánh.

7.         Chánh niệm đạo là tưởng nhớ con đường chánh.

8.         Chánh định đạo là yên nghỉ con đường chánh.

Người đọc nhận ra rằng hai đoạn liền kề này có mối liên hệ mật thiết với nhau. Cụ thể, khi đoạn trên nói: "Chánh ki­­­­ến đạo là con đường thấy chánh" thì đoạn này nói: "Chánh kiến đạo là thấy con đường chánh". Kết nối hai câu trên chúng ta có thể trình bày chung như sau:

Chánh kiến đạo là con đường thấy chánh và/hay là thấy con đường chánh.

Chánh tư duy đạo là con đường suy gẫm chánh và/hay là suy gẫm con đường chánh...

...

Chánh định đạo là con đường yên nghỉ chánh và/hay là yên nghỉ con đường chánh.

Chánh văn:

Nghĩa là:

1. Sự thấy chơn chánh, trước khi thấy, đang thấy, và sau khi thấy, sự thấy (bằng mắt trí nhận xét) nghe, hiểu, biết, phải cho hạp lẽ chánh, chơn thật.

Đây là chi BCĐ liên quan với kiến hay sự thấy. Cách diễn giải trong Chơn lý: "Sự thấy (bằng mắt trí nhận xét) nghe, hiểu, biết" tương đồng với cách diễn giải trong Kinh tạng Nguyên thủy: "Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến" (Trung Bộ, Đại kinh sáu xứ). Kinh tạng gọi là "như chơn", Chơn Lý gọi là "lẽ chánh chơn thật".

Giáo khoa Phật học đã thiết lập giáo lý căn bản rằng nội dung của chánh kiến hay chánh tri kiến là nhận thức được Tứ thánh đế. Tuy nhiên, giáo lý nhà Phật có độ lung linh sống động khi kinh tạng Nguyên thủy dùng những hình tượng khác nhau để nói về chánh tri kiến, thí dụ: "Này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước sự giác ngộ như thật bốn Thánh đế, tức là chánh tri kiến..." (Kinh Tương Ưng, Phẩm Ví Dụ Mặt Trời (1) (S.v. 442))

Walpola Rahula có cách giải thích hiện đại hơn: Chánh kiến thuộc về trí tuệ trong bộ ba giới-định-tuệ, là những ý tưởng về xả ly vô ngã, về tình thương yêu và tâm bất hại. Như vậy, trí tuệ đúng nghĩa phải hàm chứa những ý tưởng như vậy trong mọi phương diện của đời sống cá nhân, xã hội và chính trị. Ngược lại, nơi nào có chấp ngã, có thù hận, và có bạo lực, nơi đó thiếu vắng trí tuệ đúng nghĩa.

Mặt khác, sự thấy theo Chơn Lý không đơn thuần là thấy bằng mắt thịt mà là thấy bằng mắt trí; mắt trí cũng không đơn thuần là nhãn thức mà lại liên quan với những quan năng khác như nhĩ thức, ý thức; tức là, nghe, hiểu, biết. Như vậy sự thấy trong chi thứ nhất của BCĐ có mối liên quan rất gần với thức thứ sáu theo cách nhìn của Duy thức tông.

Ngược dòng trở về lại kinh tạng Nguyên thủy, người đọc xin tự ý chọn một đoạn nói về chánh kiến như sau: "Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến? Chánh kiến này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại. Này các Tỷ-kheo, có loại chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y (upadhivepakka); có loại chánh kiến, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi (magganga).

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Có bố thí, có cúng dường, có tế tự, có quả báo các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh; ở đời có các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí tự mình chứng đạt đời này và đời khác lại tuyên bố lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Phàm cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc trí tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, đạo chi của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm. Chánh kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.

Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm" (Trung bộ, Đại kinh bốn mươi).

Chánh văn:

2. Sự suy gẫm chơn chánh, trước khi suy gẫm, đang suy gẫm, sau khi suy gẫm, tầm tòi quán xét, phải cho hợp lẽ chánh, chơn thật.

Đây là chi BCĐ liên quan với tư duy mà Chơn Lý gọi là suy gẫm và diễn giải là "tầm tòi quán xét". Người đọc xin tạm dừng ở mạch chính để đi vào thế giới của chữ nghĩa một chút. Từ "tầm tòi" tạo cảm giác vừa quen vừa lạ, người đọc hiếu kỳ tra cứu một số tự điển và từ điển như Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt của Nguyễn Văn Đạm, Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế đều không tìm thấy dấu vết. Vì vậy, người đọc phải tạm kết luận "tầm tòi" là một từ mà Chơn Lý sáng tạo ra. Đi vào thế giới của chữ Nôm, người đọc mới biết rằng trong thế giới đó từ "tầm tòi" cũng không có mà chỉ có từ "tìm tòi" là một kết hợp của hai từ tầm (尋) và tối (最) và từ này xuất hiện trong một số tác phẩm thuộc hệ Truyện Kiều như Kim Vân Kiều tân tập do Quan Vân Đường tàng bản, Đoạn trường tân thanh do Lâm Nọa Phu sao chép, Thúy Kiều truyện tường chú của Kim Vân Thị và Cổ Tháp Linh Tích khuyết danh. Như vậy người đọc nghĩ rằng về bối cảnh tư tưởng Tổ sư Minh Đăng Quang rất có thể đã từng tiếp cận với một hoặc một số tác phẩm trên, trực tiếp hay gián tiếp. Như vậy "tầm tòi" là từ Nôm đã được Chơn Lý diệu dụng bằng cách đặt bên cạnh "quán xét" là từ Hán để hai từ này bổ sung và thành toàn cho nhau, tạo nên một hiệu ứng đầy đặn nơi người đọc.

Trở về với mạch chính, người đọc thấy rằng cách diễn giải trong Chơn Lý: "Sự suy gẫm... cho hạp lẽ chánh chơn thật" tương đồng với cách diễn giải trong Kinh tạng Nguyên thủy: "Tư duy gì như chơn của vị ấy, tư duy ấy là chánh tư duy". (Trung Bộ, Đại kinh sáu xứ). Kinh tạng gọi là "như chơn", Chơn Lý gọi là "lẽ chánh chơn thật".

Walpola Rahula giải thích rằng Chánh tư duy thuộc về trí tuệ trong bộ ba giới-định-tuệ, là nhận thức các pháp như chúng đang là. Vì vậy cốt lõi của chánh tư duy là nhận thức Tứ thánh đế. Theo Phật giáo có hai loại hiểu biết. Một, hiểu biết thuộc ký ức và suy tư, hiểu được một cái gì đó dựa trên những dữ liệu đã thu thập được (anubodha). Loại hiểu biết này không cao sâu, không chạm được thực tướng của các pháp. Hai, hiểu biết tận căn, nhà Phật gọi là "thể nhập" hay "xuyên thấu" (Pativeda) để thấy được thực tính của một cái gì đó, không thông qua tên gọi hay nhãn hiệu. Khi tâm thức được thanh lọc hoàn toàn và được thiền định làm cho viên mãn, pativeda mới xuất hiện (Thanh tịnh đạo luận).

Ngược dòng trở về lại kinh tạng Nguyên thủy, người đọc xin tự ý chọn một đoạn nói về chánh tư duy như sau: "Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: có loại chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy, như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh tư duy, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Phàm cái gì này các Tỷ-kheo thuộc suy tư, tầm cầu, tư duy, một ngữ hành do sự hoàn toàn chú tâm chuyên tâm của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm; chánh tư duy như vậy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.

Ai tinh tấn đoạn trừ tà tư duy, thành tựu chánh tư duy, như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà tư duy, chánh đạt được và an trú chánh tư duy, như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh tư duy, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm". (Trung Bộ Kinh, Ðại kinh Bốn mươi)

Trong mối liên hệ với cứu cánh giải thoát, chánh tư duy có một vai trò hay tác dụng khởi động và dẫn đạo: "Thế nào là chín pháp có nhiều tác dụng?... Do chánh tư duy, hân hoan sinh; do hân hoan, hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tỉnh; do tâm định tỉnh, biết được, thấy được sự vật như chân; do biết, nhờ thấy như chơn, yểm ly sanh; do yểm ly, ly dục sanh; do ly dục, vị ấy được giải thoát. Như vậy là chín pháp có nhiều tác dụng". (Trường Bộ Kinh, Kinh Thập thượng)

Chánh văn:

3. Sự nói chơn chánh, trước khi nói, đang nói, sau khi nói, lời lẽ phải thiện lành, trong sạch, hạp theo lẽ chánh, chơn thật.

Đây là chi BCĐ liên quan với ngữ hay sự nói mà Chơn lý gọi là lời lẽ. Lời lẽ ở đây "phải thiện lành trong sạch". Không có mức độ trừu tượng và nội hàm nhiều như trường hợp của chánh kiến và chánh tư duy, chánh ngữ tương đối đơn giản và dễ nắm bắt hơn. Chánh ngữ cùng với hai chi BCĐ khác là chánh nghiệp và chánh mạng được xếp vào phạm trù đạo đức, nhà Phật gọi là Giới luật. Về nội dung, chánh ngữ có nghĩa căn bản là tránh bốn loại lời lẽ: Một, tránh nói dối; Hai, tránh nói lời điêu ngoa, mỉa mai, gây chia rẽ, giận hờn, oán thù; Ba, tránh nói lời thô ác; Bốn, tránh nói chuyện phù phiếm, bông lông, bâng quơ. Lời nói đạo đức sẽ làm cho cuộc sống cá nhân và xã hội được hòa thuận, an ổn, và hạnh phúc. Đạo đức là nền tảng không thể thiếu nếu muốn đạt được những tầng bậc tâm linh cao thượng hơn.

Ngược dòng trở về lại kinh tạng Nguyên thủy, người đọc trích một đoạn nói về chánh tư duy như sau: "Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Chánh ngữ, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: có loại chánh ngữ, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh ngữ, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Viễn ly vọng ngữ, viễn ly nói hai lưỡi, viễn ly ác khẩu, viễn ly phù phiếm ngữ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh ngữ, hữu lậu thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly bốn ngữ ác hành, đối với một vị tu tập Thánh đạo, thuần thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh ngữ, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.

Ai tinh tấn đoạn trừ tà ngữ, thành tựu chánh ngữ; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà ngữ, chánh niệm đạt được và an trú chánh ngữ; như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy, ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh ngữ, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm" (Trung Bộ Kinh, Ðại kinh Bốn mươi).

Không chỉ có mối liên hệ gần gũi với chánh nghiệp và chánh mạng vì cùng nằm trong phạm trù đạo đức, chánh ngữ còn có mối liên hệ với chánh kiến và chánh tư duy thuộc phạm trù trí tuệ vì nằm trong một cơ cấu vận hành chung, trong đó chánh ngữ không chỉ nằm trong phạm vi tránh nói chuyện này, tránh nói chuyện khác mà có vai trò lớn hơn, thực hiện chức năng truyền thông, chuyển tải những nội dung triết học lớn như: (1) "Vì rằng có đời sau, nếu ai nói rằng có đời sau thời đó là chánh ngữ"; (2) "Vì rằng có tác dụng (kiriya), nếu có ai nói rằng có tác dụng, thời đó là chánh ngữ"; (3) "Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời đó là chánh ngữ" (Trung Bộ Kinh, Kinh Không gì chuyển hướng). Đây là những vấn đề lớn thuộc thế giới của luận lý và triết học nên người đọc chỉ nêu lên mà không bàn thêm chi tiết.

(Còn tiếp)

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan