CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Suy nghĩ về pháp khất thực

Đức Phật đã từng dạy chúng ta: được thân người là khó, làm người được biết đến Tam bảo là khó, khó hơn nữa là được xuất gia, sống và thực hành theo lời dạy của chư Phật. Thật may mắn khi chúng ta có thắng duyên được dự vào hàng đệ tử xuất gia của Phật, những người vì lòng tin Tam bảo đã từ bỏ đời sống gia đình đầy đủ vật chất mà sống cuộc sống không gia đình với tinh thần thiểu dục tri túc. Cuộc đời xuất gia mênh mông như hư không, sống đơn giản với tam y nhất bát, thảnh thơi chẳng vướng bận. Cũng vì cái đơn giản thanh bần như thế mà chúng ta dần dần thanh lọc được những phiền não nhiễm ô; hàng ngày mỗi buổi sớm đi khất thực, vân du khắp nơi vừa học vừa tu. Nên người xưa có câu:

“Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Kỳ vi sinh tử sự

Giáo hóa độ xuân thu”.

                        Dịch thoát là:

“Một bát cơm ngàn nhà

Thân chơi muôn dặm xa

Mắt xanh xem người thế

Mây trắng hỏi đường qua”.

Cố Ni trưởng Huỳnh Liên cũng có một bài kệ bốn câu ngợi ca đời sống của người Khất sĩ như sau:

“Trì bình khất thực hạnh thanh bần

Lều vắng tàng cây tạm trú chân

Giải thoát cảnh đời xa vật chất

Giản đơn nếp sống nhẹ tinh thần”.

Hình ảnh đó thật đẹp biết bao. Nhưng thật đáng tiếc, trong điều kiện nếp sống tu học của người tu sĩ Phật giáo được đáp ứng đầy đủ như ngày nay, việc khất thực dần dần bị quên lãng, hình ảnh một nhà sư ôm bát trì bình khất thực mỗi buổi sớm dần dần bị phai mờ, chỉ còn được trông thấy ở một vài nơi mà thôi.

Đối với một vị Khất sĩ, đi khất thực là việc không kém phần quan trọng trong việc hành trì Pháp Phật. Bởi vì Khất sĩ là người học trò khó đi xin ăn để tu học, nhưng cái xin ở đây mang ý nghĩa rất cao thượng chứ không phải là sự đi xin bình thường như chúng ta từng thấy những người nghèo khổ đi xin ăn. Cái xin ở đây là sự xin của những con người có chí xuất trần, muốn tìm cầu chân lý giác ngộ cho muôn loài. Trong sách Phật Học Danh Số có định nghĩa danh từ Khất thực mang hai ý nghĩa:

Thứ nhất: Thượng cầu Phật đạo. Nghĩa là trên cầu xin giáo Pháp của chư Phật để nuôi dưỡng Giới thân Huệ mạng của mình cho ngày càng lớn mạnh.

Thứ hai: Hạ hóa chúng sanh. Bên dưới đi xin thức ăn để nuôi sống thân tứ đại giả tạm, dùng những thức ăn đó như vị thuốc chữa lành thân bệnh, nhờ đó được mạnh khỏe để có sức lực tu học rồi đem những giáo lý vi diệu ấy dạy lại cho chúng sanh, giúp chúng sanh cũng được thoát khỏi sự mê lầm.

Pháp Khất thực mang ý nghĩa cao thượng như thế. Khi Đức Phật còn trụ thế, mỗi ngày Ngài đều đi trì bình khất thực trên khắp các nẻo đường. Khi thì đi một mình, lúc thì với chúng Tăng. Im lặng đứng trước cửa từng nhà, không thốt ra một lời nào. Cho đến năm tám mươi tuổi, mặc dầu đau ốm bất thường nhưng Ngài vẫn đi trì bình khất thực trong thành Vesali. Và Ngài còn khuyến khích chư Tăng mỗi ngày phải nên đi khất thực để nuôi thân và tập hạnh tinh cần tinh tấn. Đức Phật cho rằng pháp Khất thực là truyền thống của ba đời chư Phật. Thể hiện qua ý pháp, khi Đức Phật cùng Tăng đoàn trở về Ca-tỳ-la-vệ để thăm hoàng gia, Ngài cùng chư đệ tử lần lượt đi theo đường phố để khất thực. Khi thấy hình ảnh như thế, vua Tịnh Phạn lấy làm bàng hoàng khó chịu và nói: “Này Thái tử con, sao con nỡ làm tổn thương thể thống của hoàng tộc như vậy?” Thế Tôn trả lời: “Thưa Đại vương! Như Lai không hề làm nhục đại vương! Như Lai chỉ hành động đúng theo truyền thống của dòng dõi Như Lai, hàng nghìn vị Phật trong quá khứ vẫn đi trì bình Khất thực”.

Đức Tổ sư Minh Đăng Quang cũng có viết trong quyển Chơn lý “Khất sĩ”, đề cao giá trị của việc đi Khất thực rằng: “Giáo lý ăn xin là sự chan hòa cho nhau, tức là công lý võ trụ, là Pháp bảo, hay chơn lý, triết lý nhiệm mầu.” Ngài còn dạy thêm:“Có đi xin mới có từ bi hỷ xả, trí huệ thông minh, cõi lòng mát dịu, rộng mở bao la, lặng yên sạch sẽ”. Theo sự hiểu biết còn giới hạn, người viết nghĩ rằng Đức Tổ sư muốn nhắn gửi đến những người con Khất sĩ rằng sự đi xin ấy không có sự phân biệt giữa người giàu kẻ nghèo, người đẹp kẻ xấu, ai cho gì nhận nấy không đòi hỏi. Và có đi xin ở khắp nơi, người Khất sĩ sẽ học hỏi được nhiều điều hay lẽ phải từ trường học vũ trụ Ta-bà rộng lớn, từ vạn vật muôn loài để mở mang trí huệ và tu sửa thân tâm cho ngày càng hoàn thiện hơn. Chúng ta thấy lối sống ấy thật là cao đẹp, công bình, giản dị nhưng rất đáng để cho người đời kính ngưỡng học hỏi theo.

Cũng trong Chơn lý “Khất sĩ”, Đức Tổ sư có dạy: “Giáo lý ăn xin để dứt bỏ cái ta độc ác khổ não mà sống theo lẽ vô thường, tiến hóa như vầy: Ta sống giúp cho tất cả và tất cả sống giúp cho Ta…”. Rõ ràng, Tổ sư Minh Đăng Quang đã dạy chúng ta con đường đi chân chánh:

“Pháp khất thực dạy người bố thí

   Cùng dạy mình chơn lý không tham”.

                                    Và:

“Cấy cày trồng tỉa đua bơi

   Ấy là phận sự của người cư gia

     Bậc giải thoát lìa xa nghề nghiệp

       Được nhẹ mình độ tiếp chúng sanh

Hạnh tu Khất sĩ lữ hành

                 Mỗi ngày khất thực trì bình giáo khuyên

Mượn pháp ấy làm duyên tế độ

     Cho thế trần được chỗ gieo nhân

Tập lòng bố thí ra ơn

           Lòng tham dứt bỏ đạo chơn hầu gần”.

Chúng ta đã bỏ hết của cải vật chất, danh vọng ở đời để mà sống một cuộc đời đơn giản thanh bần. Đi khất thực xin thức ăn vừa đầy bát là trở về, không có vật gì quí giá để cất giữ bảo vệ, như thế lần lần sẽ dẹp trừ được lòng tham lam mà từ nhiều đời nhiều kiếp chúng ta đã huân tập.

Người xuất gia đi khất thực nuôi thân, tránh làm những công việc sĩ nông công thương như người đời, là để rảnh thời gian mà tham thiền tu học, chứ phải tất bật làm lụng suốt ngày vì miếng cơm manh áo như người cư sĩ tại gia. Cũng bởi tu sĩ mà chỉ lo làm lo ăn thì làm sao chúng ta còn thời gian rảnh mà tu học để phát triển tuệ lực nhằm giải thoát cho tự thân khỏi vô minh mê mờ, cũng như giúp chúng sanh được giải thoát khỏi biển trầm luân sanh tử.

Các bậc tiền bối đã từng trải qua gian nan khổ nhọc tìm ra được lối đi giải thoát, đã ân cần dạy bảo cho hàng hậu học chúng ta như thế, lẽ nào chúng ta lại nỡ làm ngơ với những lời vàng tiếng ngọc ấy được hay sao?

Trong bối cảnh đời sống bận rộn như ngày nay, không phải ai cũng có đủ duyên đến chùa để học hỏi giáo pháp và cúng dường gieo bòn phước báu. Hơn nữa, có một số người vì mặc cảm mình không có được nhiều tài vật để cúng dường cho nên họ ngại mà chẳng dám đến ngôi đạo tràng. Đối với trường hợp như vậy, việc chúng ta đi trì bình khất thực vào xóm làng, ngõ hẻm khắp nơi là một phương pháp giáo hóa người rất hữu hiệu. Đối với những người đã biết Đạo, ta giúp họ phát triển tâm bồ-đề thêm lớn mạnh. Còn với người chưa biết Đạo hoặc những người không có điều kiện đến chùa thì việc đi khất thực là ta đã tạo duyên cho họ gieo nhân lành với Tam bảo và khuyến khích họ bố thí cúng dường tạo công đức. Dầu là một ít thực phẩm nhỏ như một củ khoai, một viên kẹo… cũng đã giúp cho người cư sĩ gieo được hạt giống thiện lành, làm tiền đề để mai sau phát triển tín tâm của họ đối với ngôi Tam bảo. Việc người cư sĩ tại gia tập lòng bố thí ra ơn cúng dường thực phẩm cho chư Tăng, giúp hộ trì Tam bảo thể hiện sự tiến hóa dần dần trong tâm thức của họ. Từ sự bỏn xẻn tham lam, giờ đây họ biết mở rộng tấm lòng biết học hạnh bố thí cúng dường cung kính đối với ba ngôi quí báu Phật Pháp Tăng, với mọi người xung quanh thì họ biết yêu thương sẵn sàng chia sẻ với đồng loại khi gặp cơn hiểm nghèo hoạn nạn. Đấy là sự tu tập tâm từ quảng đại vô biên, xả bỏ lòng tham vị kỷ mà hướng đến mọi người với tấm lòng thương yêu như tình yêu bao la vĩ đại của chư Phật, Bồ-tát.

Với sự nhận thức còn giới hạn, người viết thấy được một phần nào đó về ý nghĩa của pháp Khất thực, có thể còn nhiều hơn nữa nhưng thiết nghĩ với bấy nhiêu nghĩa trên thôi cũng đã quá rõ ràng để nhận ra giá trị siêu việt của việc Khất thực, một công việc mà ba đời chư Phật đã xiển dương ca ngợi và truyền trao lại cho chúng ta.

Bên cạnh mặt tích cực đó, hiện nay xuất hiện một bộ phận những người giả dạng tu sĩ Phật giáo, lợi dụng pháp Khất thực và lòng tín ngưỡng của người Phật tử để làm những việc sái quấy, làm mất đi nét đẹp truyền thống trong đạo Phật. Họ lợi dụng để mà đi xin tiền, đây là một điều cấm trong giới luật nhà Phật. Người Khất sĩ đi bát chỉ nhận thực phẩm chay tịnh mà thôi, ngoài ra không nhận tiền bạc, vật quý hay gạo thóc… Chính vì những con người mạo danh ấy đã gây nên cái nhìn không mấy thiện cảm về các nhà sư đi khất thực, những người chưa hiểu Đạo đã vội vàng kết luận cho rằng đó là việc làm của những người biếng nhác, trong khi còn đủ sức khỏe mà lại đi xin chứ không chịu làm lụng để có cái ăn. Thật là cái nhìn lầm lạc, ấy là một loại tà kiến của con mắt thế gian. Chúng ta là những người tu sĩ với trách nhiệm hướng dẫn cho mọi người thì cần phải giải thích, hành động để cho họ hiểu và thấy đúng về ý nghĩa cao siêu của đời sống xuất gia, của pháp Khất thực. Như thế là giúp cho họ không bị rơi vào tà kiến, phỉ báng ngôi Tam bảo mà phải bị đọa lạc trong ba đường khổ của sự luân hồi.

Đức Phật ví người tu chân chính như những ruộng phước vô lượng để dành cho chúng sanh gieo vào những hạt giống phước đức. Vậy thì phương pháp đi khất thực cũng chính là cách ta giúp cho chúng sanh gieo trồng thiện căn phước đức, giúp họ từ việc bố thí cúng dường nhỏ dần dần phát tâm bố thí quảng đại như các vị Bồ-tát, mà trong tinh thần Phật giáo phát triển gọi là Bố thí Ba-la-mật.

Tóm lại, chúng ta đừng vì một số nhỏ những người đi khất thực giả mà bỏ quên đi pháp Khất thực truyền thống của ba đời chư Phật, chư Tổ đã truyền trao lại. Chúng ta phải tiếp tục duy trì truyền thống tốt đẹp ấy, nhưng cũng đừng quên chỉ bảo cho hàng cư sĩ tại gia thế nào là cách để bát cúng dường hợp pháp đúng giới luật. Nếu chúng ta thực hành hạnh trì bình khất thực một cách như pháp như luật thì có gì phải sợ bọn giả danh kia nữa, cũng như người xưa có nói: “Vàng thật thì không sợ lửa”. Trên một thân cây bồ-đề đại thọ sẽ có không ít các loại cây chùm gửi hoặc dây leo đeo bám, chúng ta đừng vì các loại cây ấy mà phải đốn bỏ đi cây bồ-đề. Chúng ta chỉ cần vun tưới cho cội bồ-đề phát triển hơn, và chặt bỏ đi những loại dây leo ấy thì kết quả sẽ tốt đẹp hơn, cội bồ-đề sẽ thêm vững vàng và tỏa bóng mát rộng hơn để che chở cho muôn loài vạn vật. Tương tự như vậy, chánh pháp là vị thuốc giúp chúng sanh dứt trừ khổ bệnh, chúng ta là những người tu theo Phật thì cần phải có lòng từ bi thương xót muôn loài, vì thế chúng ta phải duy trì chánh pháp ấy và truyền bá rộng hơn nữa đến với mọi người, không được để cho chánh pháp bị lu mờ. Chánh pháp còn tồn tại thì muôn loại mới có được niềm an vui, những đệ tử Phật phải có trách nhiệm phải giữ gìn và phát huy, có như thế mới đền đáp được công ơn sâu dày của Phật của Tổ, mới xứng đáng là một người tu sĩ chân chính.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan