Đạo Phật Khất Sĩ

Panner Web HPKS  002a 980x165

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tổ sư Minh Đăng Quang với tâm nguyện "Nối truyền Thích-ca Chánh pháp"

DẪN NHẬP

Dõi theo con đường tìm đạo và giác ngộ chân lý của Tổ sư Minh Đăng Quang, chúng ta thấy đó là cuộc hành trình đầy dũng cảm và kiên nhẫn. Như đã huân tập hạnh nguyện thoát trần từ vô lượng kiếp, khi còn ở tuổi thiếu niên (14 tuổi) Ngài đã đem lòng ham thích tìm hiểu giáo lý Phật-đà.

Tinh thần học hỏi, nghiên cứu của Tổ sư Minh Đăng Quang ngay từ buổi đầu đã có khuynh hướng rõ rệt: Tìm hiểu Phật giáo thông qua hai nguồn giáo lý Nam truyền và Bắc truyền. Bên cạnh đó, Ngài đọc quyển Tăng đồ nhà Phật do cụ Đoàn Trung Còn biên soạn, rồi đối chiếu với sở hành của chư Tăng Ni của hai tông phái Phật giáo Việt Nam trong hiện tại, để tìm hiểu nguyên nhân suy thoái của Phật giáo Việt Nam (vào thập niên 40 - 50) nhằm minh định hướng đi tương lai cho chính mình. Điều này xuất phát từ chánh kiến và chánh tư duy của những bậc có căn duyên sâu dày với Chánh pháp trong nhiều đời.

tsmdq42

Tổ sư Minh Đăng Quang với tâm nguyện: “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”

Sau một thời gian tham học và tu tập, Tổ đã thấu triệt chơn lý giải thoát, bao nhiêu bức xúc của cuộc đời giờ đã hoàn toàn rơi rụng, tâm Tổ hoàn toàn yên tĩnh, thảnh thơi. Thông cảm sâu xa nỗi khổ đau của kiếp nhân sinh, luôn thao thức giúp mọi người thoát ra khỏi nỗi khổ đau triền miên ấy, bi tâm của Tổ trỗi dậy mãnh liệt. Nhớ lại khi xưa sau khi thành đạo, Phật đi đến Vườn Nai độ năm anh em Kiều-trần-như và một số đạo sĩ khác, dắt dẫn tất cả đến đạo quả A-la-hán. Sau đó, Ngài khuyến cáo họ nên ra đi, phất cao ngọn cờ Chánh pháp để đem lại lợi ích cho chư Thiên và loài người.

Đối với người tu chân chính, khát vọng giác ngộ giải thoát và hạnh nguyện độ sanh là hoài bão luôn cháy bỏng. Tổ sư Minh Đăng Quang cũng thế. Nhìn thấy tình hình Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Nam Bộ nói riêng lúc bấy giờ đang trong thời kỳ suy thoái, Tăng sĩ ngày càng xa lìa con đường tu hành chân chính, sa vào nếp sống thế tục, làm mất lòng tin Tam Bảo của hàng cư sĩ tại gia, khiến họ chạy theo ngoại đạo tà giáo, rơi vào mê tín dị đoan như sự nhận định của TT. Thích Mật Thể trong Việt Nam Phật giáo sử lược: “Các cảnh chùa trong nước đã trở thành những cảnh gia đình riêng, không còn gì là tính cách đoàn thể của một tôn giáo nữa. Họ sống trong Phật giáo hầu hết chỉ còn dốt và quên. Quên để khỏi biết bổn phận chơn chánh của một Tăng đồ.

Ở trong Tăng đồ thì như vậy, ở ngoài tín đồ cư sĩ thì cũng ngơ ngác, mù lòa, tin bướng theo càn, ít ai là người hiểu đạo lý. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, ta có thể đánh vào đây một dấu than đen to tướng”.

Tổ sư Minh Đăng Quang cũng nhận định:

“Đạo Phật ngày nay không còn giống như xưa nữa, ai cũng cho mình là đệ tử Phật, mà không giữ giới luật của Phật. Tông giáo càng rộng, tín ngưỡng càng nhiều thì giới luật càng mất. Tăng đồ càng suy vi thì vật chất càng thạnh. Tăng là giềng mối tâm hồn, là tinh thần sanh chúng, thế mà Tăng chia lìa thất lạc thì thần vật chất sao chẳng hoành hành, chúng sanh trần thế sao không nguy hại” (Chơn lý “Tông giáo”, tr. 356).

Tổ còn xác quyết: “Đạo Phật ngày nay không còn cao quý là bởi Tăng-già suy kém, vật chất thạnh hành. Đạo Phật rồi đây sẽ gia nhập về theo thế sự và các ngoại đạo khác. Phật Thích-ca sẽ không còn hình bóng tiếng tăm nữa” (Chơn lý “Tông giáo”, tr. 373).

Theo Tổ, chỉ có Chánh pháp mới chuyển hóa được khổ đau của trần gian thành Niết-bàn an lạc, và giới luật Tăng-già mới có thể tháo gỡ được mọi hệ lụy của cuộc đời.

Từ nhận định đó, Tổ cương quyết đem bản thân cũng như động viên hàng môn đệ thực hành triệt để giới điều Phật chế, tuân thủ Bát chánh đạo, Tứ y pháp Khất sĩ, để làm khuôn mẫu, chỉnh đốn giới luật Tăng-già Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ. Đang ôm hoài bão khôi phục chánh pháp tại Việt Nam thì ảnh hưởng của phong trào “Chấn hưng Phật giáo” do các bậc Tôn túc của Phật giáo Việt Nam đã phát động và lan tỏa tới, không một phút trì hoãn, Tổ đứng lên “phất cao ngọn cờ Chánh pháp” như lời dạy bảo của Phật ngày nào.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa Chánh pháp, Tổ tự đặt ra câu hỏi và tự giải đáp như sau:

“Cái gì là Chánh pháp?

Tứ y pháp là Chánh pháp của chư Phật mười phương ba đời, là giáo lý Khất sĩ vậy” (Chơn lý “Chánh pháp”, tr. 311).

Tứ y pháp là bốn chỗ nương tựa thiết yếu, cũng là pháp hành căn bản của người xuất gia, là pháp tu mực trung, không thái quá – khổ hạnh ép xác – không bất cập – hưởng thụ đắm nhiễm – là phương tiện tự độ, độ tha rất hiệu quả, rất tuyệt vời.

Tứ y pháp là:

1. Người xuất gia chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội thuyết pháp, đọc giới bổn được ăn tại chùa.

2. Người xuất gia phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

3. Người tu xuất gia phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá, một cửa thì được ở.

4. Người tu xuất gia phải dùng cây, cỏ, vỏ, lá mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

Tại sao người tu xuất gia phải ăn đồ xin? Bởi vì người tu xuất gia chỉ có một mục đích duy nhất là giác ngộ, giải thoát thành Phật. Cho nên người tu xuất gia không làm các nghề nghiệp thế gian như sĩ, nông, công, thương để sinh nhai, mà chỉ sống dựa vào hảo tâm của bá tánh. Đi xin ăn (khất trực) còn là pháp ngăn ác trừ tham (tự độ) rất hữu hiệu. Tổ sư Minh Đăng Quang nói: “Không tự lấy để trừ tham, không tự làm để tránh ác”. Đi xin là tạo cơ hội cho người tại gia mở rộng tâm từ, biết bố thí. Hơn thế nữa, xin là cách để tạo cơ duyên cho bá tánh gieo duyên lành với Tam Bảo (độ tha), thân cận với người hiền để được học hỏi Chánh pháp.

Trong kệ “Hòa bình”, Tổ viết:

Pháp khất thực dạy người bố thí,

Cùng dạy mình chơn lý không tham.

Bao giờ dứt tánh mê ham

Muôn ngàn phận sự việc làm đều xong”.

Chỉ một khâu “xin ăn” thôi mà “nhứt cử lưỡng lợi” biết bao! Thử hỏi người tu đâu dám lơ là mà không tôn trọng?

Về y phục, chỗ ở và thuốc men, mỗi khâu có một chức năng riêng, bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau, hầu kiện toàn Đạo đế, vững chãi bước vào Diệt đế, hoàn thiện lộ trình tâm linh.

Trong giới “Quán tưởng thanh tịnh” của tỳ-khưu, Phật dạy: Vị tỳ-kheo khi thọ dụng tứ vật dụng (vật thực, y phục, chỗ trú ngụ và thuốc chữa bệnh) phải quán tưởng về nguyên chất, về uế trược và về mục đích thọ dụng:

1. Về vật thực

a. Quán tưởng về nguyên chất

“Vật thực này là một nguyên chất tạo thành ra, tùy theo món vật dụng. Dầu cho ta là người dùng nó, nó cũng chỉ là một nguyên chất, không có sinh mạng, không phải là chúng sanh, có trạng thái không không”.

b. Quán tưởng về uế trược

“Vật thực này chẳng phải uế trược đâu, nhưng đến khi nó đụng vào thân thể hôi thúi này lúc nào thì nó trở nên đáng ghê gớm lắm”.

c. Quán tưởng về mục đích thọ dụng

“Ta thọ thực đây chẳng phải để chơi như trẻ con ở xóm, hoặc say mê sức lực như người võ sĩ, hoặc để điểm trang thân thể như hàng phụ nữ trong đô thị, hoặc để cho có nhan sắc như người hát xướng. Ta thọ thực đây, để duy trì xác thân cho được tồn tại, cho được tránh sự khó chịu, cho được giúp đỡ sự tu hành theo phạm hạnh, cho ta tránh khỏi cái khổ đã qua là sự đói khát, và ngăn ngừa cái khổ sẽ phát sinh vì sự ăn ngủ quá độ. Còn các hành vi trong Tứ oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm thân tâm không biếng nhác và được an vui, cũng do nhờ nơi sự thọ thực nầy ” (Giới bổn Tỳ-kheo-ni).

2. Về y phục

a. Quán tưởng về nguyên chất

“Y phục này là một nguyên chất tạo thành ra, tùy theo món vật dụng. Dầu cho ta là người dùng nó, nó cũng chỉ là một nguyên chất, không có sinh mạng, không phải là chúng sanh, có trạng thái không không”.

b. Quán tưởng về uế trược

“Y phục này chẳng phải uế trược đâu, nhưng đến khi nó đụng vào thân thể hôi thúi này lúc nào thì nó trở nên đáng ghê gớm lắm”.

c. Quán tưởng về mục đích thọ dụng

Ta mặc y phục đây để ngăn ngừa sự lạnh, sự nóng, muỗi mòng, gió nắng, rắn rít, và cho được thân thể tránh điều hổ thẹn”.

3. Chỗ trú ngụ

a. Quán tưởng về nguyên chất

“Chỗ trú ngụ này là một nguyên chất tạo thành ra, tùy theo món vật dụng. Dầu cho ta là người dùng nó, nó cũng chỉ là một nguyên chất, không có sinh mạng, không phải là chúng sanh, có trạng thái không không”.

b. Quán tưởng về uế trược

“Chỗ trú ngụ này chẳng phải uế trược đâu, nhưng đến khi nó đụng vào thân thể hôi thúi này lúc nào thì nó trở nên đáng ghê gớm lắm”.

c. Quán tưởng về mục đích thọ dụng

Ta thọ dụng chỗ trú ngụ đây là để ngăn ngừa sự lạnh, sự nóng, muỗi mòng, gió nắng, rắn rít, cho tránh được sự khó chịu của thời tiết và được nơi thanh vắng để cho ta thực hành thiền định”.

4. Thuốc chữa bệnh

a. Quán tưởng về nguyên chất

“Thuốc chữa bệnh này là một nguyên chất tạo thành ra, tùy theo món vật dụng. Dầu cho ta là người dùng nó, nó cũng chỉ là một nguyên chất, không có sinh mạng, không phải là chúng sanh, có trạng thái không không”.

b. Quán tưởng về uế trược

“Thuốc chữa bệnh này chẳng phải uế trược đâu, nhưng đến khi nó đụng vào thân thể hôi thúi này lúc nào thì nó trở nên đáng ghê gớm lắm”.

c. Quán tưởng về mục đích thọ dụng

Ta dùng thuốc chữa bệnh đây để ngăn ngừa sự đau khổ đã phát sinh và cho được thoát khỏi sự đau đớn ấy”. (Trích “Giới bổn Ni” – cố Ni trưởng Huỳnh Liên biên soạn).

Như vậy, mục đích thọ dụng tứ vật dụng của người xuất gia được đức Phật dạy quá rõ ràng. Để khắc phục cho được những tập khí tiêu cực sâu dày mà con người đã huân tập từ vô lượng kiếp, người xuất gia cần phải siêng năng quán tưởng khi thọ dụng tứ vật dụng để cho thấy đâu là nhu cầu và đâu là tâm tham muốn.

Hơn nữa, những đòi hỏi của 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) là không bao giờ thỏa mãn (được voi đòi tiên). Muốn đi trọn con đường tâm linh, vị tỳ-khưu phải biết giới hạn lòng ham muốn leo thang ấy, thì mới mong an tịnh phiền não, thể nhập chơn như.

Vì lý tưởng giác ngộ giải thoát, người xuất gia phải nương vào tứ vật dụng để duy trì xác thân, vì đó là phương tiện duy nhất để hành giả vượt qua biển khổ sanh tử.

Phiền não đã được an tịnh thì trí tuệ được phát sinh, ngọn đèn chánh kiến, chánh tư duy (tuệ) thắp sáng tâm trí, soi sáng cho chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn (giới) hoàn thiện đức hạnh bản thân, làm cơ sở vững chãi cho chánh niệm và chánh định (định).

Phật chế giới Tứ y pháp để điều chỉnh lối sống vừa phải – Trung đạo cho giới tu sĩ xuất gia, làm nấc thang cơ bản bước lên lầu đài Niết-bàn, chấm dứt luân hồi sanh tử.

Tứ y pháp là pháp xuất gia giải thoát ra khỏi nhà ăn, mặc, ở, bịnh, cửa hang lầm lạc, sống đúng y theo chơn lý của miếng ăn có sẵn trái rau, sự mặc có sẵn vỏ, lá, chỗ ở có sẵn bộng hang, thuốc uống có sẵn nơi cây cỏ của cổ nhân xưa, người chơn thật không hay vọng động, khổ não. Tứ y pháp là pháp Trung đạo Chánh đẳng Chánh giác, không thái quá, bất cập, nhờ đó mà chư Phật mới đắc tâm chơn thành Phật. Các Ngài khi vào xóm thì đi xin ăn học và dạy lại người. Khi ở rừng thì nhập định chơn như nín nghỉ. Đức Phật nào cũng y như thế. Ngoài Tứ y pháp ra, không còn pháp nào thứ hai để dứt tham, sân, si.

“Tứ y pháp gồm cả tạng Luật nên gọi là Chánh pháp.

Tứ y pháp còn là đạo Phật còn.

Tứ y pháp mất là đạo Phật mất.

Ai hành sai Tứ y pháp là tà pháp

Thấy Tứ y pháp là thấy Phật hiện tại.

Tứ y pháp là đạo Phật” (Chơn lý “Chánh pháp”, tr. 311- 312).

“Tứ y pháp là kho tạng Kinh, kho tạng Luật, kho tạng Luận. Ai có thực hành rồi mới được thấu hiểu”.

Đời nay, nếu có người nào chỉ học mà không tu, không nỡ lìa xa danh lợi, bỏ Tứ y pháp tức là bỏ giới luật, bỏ đạo Phật rồi, thì kinh luận ngoài môi chót lưỡi, có ăn thua gì đâu.

Con đường Khất sĩ đi đến quả Phật, kêu là Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng. Trung đạo ấy là Tứ y pháp. Vậy thì chúng ta nên phải thực hành đúng Tứ y pháp, không nên viện lý lẽ gì mà bác bỏ đi cho được” (Chơn lý “Chánh pháp”, tr. 316).

Trong tam tạng Kinh, Luật, Luận của nhà Phật, Tứ y pháp thuộc tạng Luật. Tứ y pháp là chân giới, một trong ba chân của Bát chánh đạo. Bát chánh đạo còn gọi là Đạo đế, một trong Tứ diệu đế (khổ, tập, diệt, đạo) mà Đức Thích-ca đã chứng đắc và trở thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bát chánh đạo là 8 lối đi, hay 8 phương pháp đưa hành giả đến Diệt đế Niết-bàn. Bát chánh đạo là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

Chánh kiến và chánh tư duy thuộc về chân Tuệ.

Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng và chánh tinh tấn thuộc về chân Giới.

Chánh niệm và chánh định thuộc về chân Định.

Cái vạc Bát chánh đạo có được thăng bằng phải có ba chân Giới, Định, Tuệ đồng đều.

Giới, Định, Tuệ còn được gọi là “Tam vô lậu học”, ba môn học chấm dứt phiền não, đoạn tận khổ đau, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.

Trong Thanh Tịnh Đạo luận, Phật dạy:

“Nầy các Tỳ-kheo, những lời dạy của Như Lai, các ngươi phải học cho thông suốt để nắm vững lý thuyết. Những lời dạy của Như Lai các ngươi phải thực hành để có kinh nghiệm tự thân, và những lời dạy của Như Lai, các ngươi phải thực hành cho đến chứng quả A-la-hán”.

Như vậy, theo ý nghĩa của lời Phật dạy, chúng ta thấy: Học là để nắm vững lý thuyết, nhưng muốn đạt được kết quả thì phải áp dụng việc học vào trong mọi sinh hoạt hàng ngày, chẳng những thế, còn phải thực hành rốt ráo thì mới mong có được kết quả nhất định. Cũng như bệnh nhân, trước khi uống thuốc, phải đọc kỹ toa thuốc, để khi sử dụng thuốc mới không sợ nhầm lẫn. Nhưng hết bịnh là do uống thuốc chứ không phải học thuộc lòng toa thuốc. Đệ tử của Phật cũng như thế. Đức Phật là một Đại y vương, thuốc của Ngài vô cùng diệu dụng. Chúng sanh ví như những con bịnh cần phải được chữa trị. Phật thuyết pháp ra như thầy thuốc ra toa, chúng sanh muốn hết bịnh khổ phải thực hành theo lời Phật dạy, chứ không phải đọc tụng thuộc lòng kinh điển của Phật mà hết bệnh khổ được.

Nắm vững chân lý này, Tổ sư Minh Đăng Quang quyết tâm xiển dương Chánh pháp bằng hình thức thành lập “Giáo hội Tăng-già” (danh từ của thời đó), với tâm nguyện “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp” để “dựng lại những gì đã bị nghiêng đổ, khêu tỏ ngọn đèn đã lu mờ”.

Tăng-già Khất sĩ với hình thức “Tam y nhứt bát”, dùng thân giáo, khẩu giáo, vân du khất thực khắp đó đây, đem Chánh pháp đến tận từng người, từng nhà, lấy tự thân giải thoát của mình làm khuôn mẫu cho mọi người thấy được lợi ích thiết thực của Chánh pháp mà tu theo, hành trì theo, để chuyển hóa cuộc đời đầy bất an, khốn đốn mà họ đang lún sâu vào trong đó.

Với bổn nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, Tổ sư Minh Đăng Quang đã làm một cuộc “chấn hưng” Phật giáo Việt Nam đương thời 1947 – 1954. Ngài vận dụng triệt để Tứ y pháp vào sinh hoạt Tăng đoàn Khất sĩ, dựng lại nếp sống của Phật Tăng ngày nào trên đất Ấn, đó là phương cách “nối truyền” chánh pháp thực tế, cụ thể và kịp thời của Tổ sư, đóng góp thiết thực cho cơ đồ Phật giáo Việt Nam giữa thế kỷ 20.

Ngày nay, mặc dầu Tổ đã vắng bóng ngót 60 năm, nhưng nhìn vào cơ đồ hiện tại của hệ phái Khất sĩ, ta thấy đâu đâu cũng có dấu ấn của Tổ - Ngài đã ra đi nhưng tưởng chừng như Ngài vẫn còn mãi đó, vẫn đang đồng hành và soi sáng từng bước cho hàng đệ tử trên con đường Khất sĩ hướng đến Vô thượng sĩ.

KhiemLien

KẾT LUẬN

Trung đạo Tứ y Pháp thể hiện xuyên suốt pháp hành của Tăng đoàn Khất sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang lãnh đạo, và bao quát học thuyết của Ngài, thể hiện qua bộ Chơn lýGiáo pháp Khất sĩ là trung đạo, Tứ y Pháp là trung đạo” (Chơn lý “Chánh pháp”).

“Giáo lý Khất sĩ là trung đạo Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, tất yếu đem lại chữ HÒA cho muôn loại, xin cái CAO để bù vào cái THẤP, để tạo sự thăng bằng cho cõi đời” (Chơn lý “Khất sĩ”).

Tổ sư Minh Đăng Quang dựng lập Đạo Phật Khất Sĩ (nay là Hệ phái Khất sĩ) lấy Tứ y Pháp làm cương lĩnh xiển dương Chánh pháp nhằm mục đích “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”.

Cuộc đời và đạo nghiệp của Tổ sư Minh Đăng Quang là di sản đồ sộ, vô giá, cần được tìm hiểu và nghiên cứu thấu đáo bởi các bậc thức giả cũng như hàng đệ tử ưu tú của Ngài.

Rất tiếc, cho đến nay, bộ Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang vẫn như một kho tàng trân bảo, nhưng cửa vào hầu như còn khép kín, những gì chúng ta tìm hiểu và khai thác từ bộ Chơn lý chẳng qua chỉ là vài hòn cuội cỏn con dưới chân một ngọn núi cao vời vợi.

Lần đầu tiên Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam, tổ chức một cuộc hội thảo khoa học, có quy mô toàn quốc về Hệ phái Khất sĩ, đặc biệt là những khảo cứu về bộ Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang. Đây là một thuận duyên và là một tiền đề vô cùng lợi ích để các bậc thức giả trong và ngoài Hệ phái có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu về tác phẩm này, từ đó sẽ khai thác được những giá trị quý báu và những cống hiến lớn lao của Tổ sư Minh Đăng Quang đối với kho tàng Tam Tạng nhà Phật nói chung và đối với Phật giáo Việt Nam nói riêng, góp phần làm sáng tỏ những giá trị độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc của Phật giáo nước nhà.

***

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý.

2. TT. Thích Mật Thể, Việt Nam Phật giáo sử lược.

3. HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng.

4. Kệ Tổ sư, sưu tầm.

5. NT. Huỳnh Liên (biên soạn), Giới Bổn Ni.

    Chia sẻ với thân hữu:
     
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 (0 Votes)

Các bài viết liên quan

Về trang trước     Về đầu trang      In bài      Gửi Email