CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Khảo sát số liệu của Hệ phái Khất sĩ trong những văn kiện chính quy

I. NHỮNG CON SỐ THỐNG KÊ TỪ NHỮNG VĂN BẢN CHÍNH THỨC:

A. Văn kiện chính thức được chọn lựa gồm:

1. Kỷ yếu Đại hội (1993) Đại biểu toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Lần thứ III (Ngày 3-4 tháng 11 năm 1992 - PL. 2536), Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ấn hành.

2. Báo cáo tổng kết (2001) công tác Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

3. Kỷ yếu Hội thảo (2007) Kỷ niệm 25 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Văn phòng Trung Ương Giáo hội thực hiện)

4. Kỷ yếu Đại hội (2013) Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII Nhiệm kỳ 2012 – 2017, Nhà xuất bản Tôn giáo.

5. Kỷ yếu Hội thảo (2016) Giáo hội  Phật giáo Việt Nam 35 năm hình thành và phát triển, Nhà xuất bản Hồng Đức.

6. Văn kiện Đại hội (2017) Đại biểu toàn quốc Lần thứ VIII Nhiệm kỳ 2017 – 2022.

7. Tài liệu Hội nghị (2019) Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN (28 - 29 tháng 12). 

B. Thông tin số liệu mà những văn kiện cung cấp

1. Kỷ yếu Đại hội (1993) thể hiện rằng số Tăng Ni cả nước là 15.777 vị, trong đó Bắc tông là 11.516 vị; Nam tông 4.016 vị và Khất sĩ 245[1] vị; số tự viện là 8.463 ngôi, Bắc tông 7.658 ngôi, Nam tông 563 ngôi và Khất sĩ 242 ngôi.[2]

2. Báo cáo tổng kết (2001) công tác Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam phần II B 1 Hoạt động của Ban Tăng sự cho biết cả nước có Tăng Ni 33.066 vị, Bắc tông 21.606 vị, Nam tông 9.415 vị (Khmer) 401 vị (Kinh), Khất sĩ 2.045 vị. Tự viện cả nước 14.043 ngôi, Bắc tông 12.977 ngôi, Nam tông 469 ngôi (Khmer), ...[3] 516 ngôi Tịnh xá, 357 Tịnh thất, 413 Niệm Phật đường.  

3. Kỷ yếu Hội thảo (2007) chỉ thể hiện con số chung là Tăng Ni 39.371 vị và tự viện 13.775 ngôi[4].

4. Trong Kỷ yếu Đại hội (2013), Ban Tăng sự Trung ương đã thống kê từ báo cáo của Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo và công bố con số Tăng Ni 46.495 vị: Bắc tông 34.062 vị, Nam tông 805 vị (Khmer), Nam tông 805 vị (Kinh), Khất sĩ 3.054 vị. Tự viện 14.778 ngôi: Bắc tông 12.245 ngôi, Nam tông 527 ngôi, Khất sĩ 541 ngôi. Đồng thời nêu thêm 467 Tịnh thất và 998 Niệm Phật đường nhưng không nói rõ sự hệ thuộc.

5. Kỷ yếu Hội thảo (2016) ghi lại một loạt những con số thống kê khác nhau. Theo thứ tự từ trước đến sau thì chúng ta có những cụm số liệu như sau.

(a) Thích Thiện Minh trích từ Tài liệu Hội nghị kỳ 4 khóa VII Trung ương GHPGVN. Tăng Ni có 49.493 vị gồm: Bắc tông 36.625, Nam tông 8.690 (Khmer) 824 (Kinh), Khất sĩ 3.354; Tự viện 17.376, Bắc tông 14.780, Nam tông 454 (Khmer) 106 (Kinh), 550 Khất sĩ[5].

(b) HT. TS. Thích Thiện Nhơn ghi lại số liệu về Hệ phái Khất sĩ gồm Tăng Ni 3.258 vị, tự viện 550. Đồng thời ghi nhận thêm rằng trong đó có Tiến sĩ 30 vị, Thạc sĩ 30 vị và Cử nhân trên 100 vị[6].

(c) Ban Thư ký Hệ phái Khất sĩ cung cấp số liệu Tăng Ni 3.224 vị[7], tự viện 569 ngôi[8]. Tiến sĩ 41 vị, Thạc sĩ 28, Cử nhân 279. Đang học Tiến sĩ và Hậu Tiến sĩ ở các nước 81[9].

(d) TS. Nguyễn Quốc Tuấn trích dẫn http://anhnhiendang.com số liệu năm 2012 tự viện 500 ngôi; trích dẫn Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN, Nxb Tôn giáo, 2012, tr. 494 cho những số liệu của Ni giới Khất sĩ, Tịnh xá 148, Tịnh thất 33, Chùa 21, Niệm Phật đường 01[10].

(e) NCS. Thái Văn Anh, Học viện Khoa học Xã hội dựa theo báo cáo của Ban Tăng sự Trung ương trong Hội nghị kỳ 4 khóa VII Trung ương GHPGVN cho biết số liệu tính đến năm 2015 như sau: Tăng Ni 49.493 gồm Bắc tông 36.625 vị, Nam tông 8.690 vị (Khmer) 824 vị (Kinh), Khất sĩ 3.354 vị; Tự viện 17.376 ngôi, Bắc tông 14.780 ngôi, Nam tông 454 ngôi (Khmer) 73 ngôi (Kinh), Khất sĩ 550 ngôi Tịnh xá[11].

6. Văn kiện Đại hội (2017) cho biết Tăng Ni 53.941 vị gồm Bắc tông 38.629 vị, Nam tông 8.574 vị (Khmer) và 1.754 vị (Kinh), và Khất sĩ 4.984 vị. Tự viện 18.466 ngôi, Bắc tông 15.846 ngôi, Nam tông 454 ngôi (Khmer), 106 ngôi (Kinh), Khất sĩ 541 ngôi. Ngoài ra còn có 467 Tịnh thất, 998 Niệm Phật đường và 54 ngôi tự viện Phật giáo người Hoa[12]. Trong văn kiện này (trang 226) Phân ban Ni giới đã làm công tác thống kê và công bố[13]. Trong Văn kiện Đại hội (2017) có nơi lập lại Kỷ yếu Hội thảo (2016) nói về thống kê năm 2015: Cả nước có Tăng Ni 49.493 gồm Bắc tông 36.625 vị, Nam tông 8.690 vị (Khmer) 824 vị (Kinh), Khất sĩ 3.354 vị; Tự viện 17.376 ngôi, Bắc tông 14.780 ngôi, Nam tông 454 ngôi (Khmer) 73 ngôi (Kinh), Khất sĩ 550 ngôi Tịnh xá[14].

7. Tài liệu Hội nghị (2019), trong Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2019 của GHPGVN, mục B Hoạt động chuyên ngành Tăng sự và trong Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2019 của Ban Tăng sự Trung ương, mục II, 1. Tăng Ni, Tự viện cho

biết cả nước có Tăng Ni 53.941 vị, Bắc tông 38.629 vị, Nam tông 8.574 vị (Khmer) 1.754 vị (Kinh), Khất sĩ 4.984 vị. Tự viện có Bắc tông 18.446 ngôi, Nam tông 454 ngôi (Khmer) 106 ngôi (Kinh), Khất sĩ 541 ngôi. Có một ước lượng rằng tín đồ khoảng 60% dân số.

C. Biểu đồ minh họa những số liệu được chọn từ 6 mốc thời gian.

II. MỐT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ NHỮNG CON SỐ ĐÃ NÊU

A. Độ khả tín của những con số và những khoảng trống không nên có

Khi chỉ nói đến số lượng Tăng Ni và số lượng tự viện thì chúng ta thấy Kỷ yếu Đại hội năm 1993 có 245 vị và 242 ngôi. Hai con số này cho thấy rằng 90% những ngôi Tịnh xá chỉ có một vị Tăng hay một vị Ni mà thôi[15]. Người viết cho rằng đây là những con số có độ khả tín không cao vì đa số mỗi ngôi Tịnh xá có từ hai vị Tăng hay Ni trở lên. Rất tiếc là chúng ta chưa có những con số nào khác được công bố. Hy vọng trong tương lai những học giả ngành sử học sẽ có cách để tìm ra những con số có độ khả tín cao hơn, trước mắt thì phải tạm chấp nhận. Điều không may, Kỷ yếu Hội thảo năm 2007 không công bố số liệu riêng của mỗi hệ phái mà chỉ công bố những số liệu chung của Phật giáo cả nước: Tăng Ni 39.371 vị và Tự viện 13.775 ngôi và bất khả dụng trong biểu đồ này. Vì vậy mà chỉ dùng sáu mốc thời gian là 1993, 2001, 2013, 2016, 2017 và 2019.

B. Nhận định về quãng thời gian 12 năm (2001 - 2013)

Vì những con số của năm 1993 có độ khả tín không cao nên chúng ta không sử dụng mốc thời gian 1993 mà bắt đầu với mốc thời gian 2001. Quãng thời gian 12 năm (2001 - 2013) Tăng Ni Khất sĩ đã tăng từ 2045 vị lên 3.054 vị, tức là tăng 1.010 vị, tăng gần 50%. Đó hẳn đã là một sự gia tăng rất ấn tượng của quãng đường 12 năm[16]. Tự viện tăng từ con số 515 lên con số 541, tức là tăng 26 ngôi, tăng khoảng 5%, rõ ràng là một sự gia tăng khá khiêm tốn. Trung bình mỗi năm tăng 84 vị Tăng Ni và 2 ngôi Tịnh xá. 

Chúng ta không có thông tin về số lượng cơ sở của Hệ phái Phật giáo Khất sĩ (HPPGKS) trong 357 Tịnh thất và 413 Niệm Phật đường của năm 2001; cũng không có thông tin về số lượng cơ sở của HPPGKS trong 467 Tịnh thất và 998 Niệm Phật đường của năm 2013.

C. Nhận định về quãng thời gian 3 năm (2013 - 2016)

Những con số thống kê của quãng thời gian 3 năm (2013 - 2016) cho chúng ta thấy mức độ gia tăng của số lượng Tăng Ni và số lượng cơ sở như sau. Tăng Ni chỉ tăng từ 3.054 vị lên 3.224 vị, tức là tăng 170 vị; cơ sở tăng từ 541 vị lên 569 ngôi, tức là tăng 28 ngôi. Trung bình mỗi năm tăng 56 vị Tăng Ni và hơn 9 ngôi Tịnh xá. Như vậy sự gia tăng của Tăng Ni đã giảm sút từ từ 84 vị/ năm xuống 56 vị/ năm. Ngược lại sự gia tăng của cơ sở lại tăng lên từ 2 ngôi/ năm lên 9 ngôi/ năm. Biểu đồ trực quan ở trên không thể hiện rõ nét sự tăng giảm này[17].

D. Nhận định về quãng thời gian 12 tháng (2016 - 2017)

Quãng thời gian 12 tháng (2016 - 2017) đã kể cho chúng ta một câu chuyện khác. Tăng Ni tăng từ 3.224 vị lên 4.984 vị, tức là tăng 1.760 vị; cơ sở lại giảm sút từ 569 ngôi xuống còn 541 ngôi, tức là giảm 28 ngôi. Chúng ta lại có cảm giác băn khoăn về độ khả tín của con số. Bỏ qua cảm giác đó chúng ta sẽ thấy trung bình Tăng Ni tăng thêm trên 146 vị/ tháng; đồng thời Tịnh xá giảm trên 2 ngôi/ tháng. Con số vốn rất cơ học và rất vô tình, chúng ta chỉ nên ghi nhận những bất cập và cải thiện năng lực thống kê mà không nên có cảm xúc tiêu cực đối với chúng.

Điều đáng quan tâm là trong 6 mốc thời gian được nêu lên thì chỉ có mốc thời gian 2016 là có được thêm thông tin về học vấn: 429 vị có trình độ từ Cử nhân trở lên. Con số này có thể tạo ra cảm giác tích cực và an tâm. Tuy nhiên, cảm giác của người viết không hoàn toàn tích cực và an tâm khi những chỉ dấu biểu tỏ cho sự phát huy năng lực của con số này còn khá khiêm tốn.

III. THAY LỜI KẾT

Ở bài này người viết không bàn đến chân dung kiểu mẫu hay hành trạng tiêu biểu của một vị Khất sĩ, không bàn đến độ thâm trầm của tư tưởng giáo lý, độ trong sáng của các pháp môn hành trì. Ở bài này người viết cũng không bàn đến độ chuyên cần sống theo chủ hướng giải thoát, độ bền bỉ trong tu tập và rèn luyện những tâm thái thanh lương như tâm thái hài hòa, tâm thái kham nhẫn, thể hiện ra một dạng ngôn hành có nét riêng của một nhà sư Khất sĩ. Tất cả lưu xuất từ nguồn mạch tâm linh “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”. Khi chỉ bàn đến những con số được thống kê và những thông tin đơn giản kèm theo những con số đó, người viết tự nhận định rằng đây là một việc làm rất thiếu sót và phiến diện. Mong rằng sẽ có dịp bổ sung.

Chú thích

__________________________________________________________________________________________

[1 Những con số in đậm sẽ được đưa vào biểu đồ.

[2] Kỷ yếu Đại hội (1993) tr. 16 - 7.

[3] Văn kiện (2001) không thể hiện rõ Khất sĩ và Nam tông kinh, người viết mặc định con số 516 là số ngôi Tịnh xá thuộc Hệ phái Khất sĩ.

[4] Kỷ yếu Hội thảo (2007) tr. 58.

[5] Kỷ yếu Hội thảo (2016) tr. 241.

[6] Kỷ yếu Hội thảo (2016) tr. 290

[7] Kỷ yếu Hội thảo (2016) tr. 306.

[8] Kỷ yếu Hội thảo (2016) tr. 308.

[9] Kỷ yếu Hội thảo (2016) tr. 306 - 8.

[10] Kỷ yếu Hội thảo (2016) tr. 325.

[11 Kỷ yếu Hội thảo (2016) tr. 683.

[12 Văn kiện Đại hội (2017) tr. 20, 66.

[13] Ni giới có 14.211 vị, Bắc tông 12.718 vị, Khất sĩ 1.493 vị; Tự viện 5.692 ngôi, Bắc tông 5.433 ngôi, Khất sĩ 259 ngôi.

[14] Văn kiện Đại hội (2017) tr. 587.

[15] Điều này có thể gây nên một ngộ nhận và một cảm xúc tiêu cực không cần thiết.

[16] Bỏ qua độ khả tín của con số Tăng Ni 245 vị.

[17] Cần một biểu đồ chuyên nghiệp hơn. 
 

    Chia sẻ với thân hữu:

Các bài viết liên quan