Sáng 09/05/2026 (23/03/Bính Ngọ), tại khóa “Sống chung tu học” lần thứ 4 của Ni giới GĐ.IV PGKS, HT. Minh Bửu – Ủy viên Ban Thường trực HĐTS, Phó trưởng ban Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái kiêm Trưởng ban Tăng sự Hệ phái, Tri sự phó GĐ.IV PGKS, đã có chuyến thăm và dành lời sách tấn sâu sắc đến chư hành giả Ni tham gia khóa tu.

Tán thán 4 Phân đoàn Ni trực thuộc GĐ.IV PGKS đã trở về Tịnh xá Ngọc Long (xã Long Hải, TP.HCM), sống chung tu học, HT. Minh bửu khẳng định: "Tuy là Ni lưu, nhưng vẫn thực hiện chí 'xuất trần thượng sĩ', lìa xa cha mẹ, quê hương, dấn thân tầm đạo, bước đi trên lộ trình giải thoát giác ngộ. Cho nên, chư hành giả Ni đừng quên bản tánh chơn tâm giác ngộ sẵn có trong mỗi người, lấy đó mà dõng mãnh tu tập. Dù cho mấy mươi năm sống trong giáo pháp của Phật, của Tổ, thực hiện đời sống của một tu sĩ mà chúng ta không nhận rõ được bản tâm, tánh giác của mình thì thật là uổng phí".
Hòa thượng chỉ rõ, trong kinh điển giáo pháp Đại thừa, có một số danh từ chỉ về Phật tánh như: Tánh không, Bát-nhã, tri kiến Phật, viên giác tánh, chơn tâm, Phật tánh, Như Lai tạng v.v... Tất cả những danh từ đó nhằm chỉ rõ bản tâm giác ngộ sẵn có của mỗi người. Liên hệ trong quyển Chơn lý "Chơn như", Hòa thượng nêu lên sự tương hợp sâu sắc giữa tư tưởng của Tổ sư Minh Đăng Quang với tư tưởng Đại thừa: “Không ai thiếu sót về Chơn như tự tánh. Nhưng ngày nào mà người ta bỏ quên, thì vào lúc đó người ta sẽ bị rối loạn. Chơn như có trong từng niệm. Tất cả sự sống nó nằm trong thể của Chơn như”.

Có thể thấy, sự kết hợp giữa "chơn như" của Tổ sư và "kiến tánh" của Thiền tông, qua lời giảng của Hòa thượng, chính là những giao thoa giữa "sống" và "biết". Trong đó Hòa thượng giảng giải, "chơn như" là bản thể, "kiến tánh" là nhận diện; "chơn như" là trạng thái vắng lặng, chơn thật sẵn có của vũ trụ, còn "kiến tánh" là sự bừng sáng, nhận ra bản thể chơn như đó ngay nơi mình chứ không tìm cầu bên ngoài.
"Vì thế nên, người học Phật phải nắm rõ được, xác chứng được bản tâm thanh tịnh vốn sẵn có của mình. Bản tâm này nếu ở mắt thì là tánh thấy, nếu ở tai thì là tánh nghe. Người ngộ được bản tánh thanh tịnh rồi thì không bị cảnh sắc mắt thấy mà vọng sanh khởi đủ điều, kéo theo nào buồn, vui, mừng, giận, thương, ghét, muốn. Vì đi theo sự phân biệt thì liền rơi vào thủ xả, rơi vào quan niệm đối đãi. Là người xuất gia, tu tập sửa mình, mỗi hành giả chúng ta phải có trí tuệ, đừng để rơi vào cái bẫy của tâm thức, điều đó làm che mờ bản thể nhứt như, tánh thanh tịnh sẵn có. Người không hiểu được mọi tình - thức - tưởng - tư đều là vọng động của tự tánh, thì sẽ sanh ra mâu thuẫn xung đột và không bao giờ có sự bình yên nội tâm. Từ đó trong cách ứng xử hàng ngày, trong cách đối nhân xử thế, chúng ta không xóa bỏ được bản ngã nhỏ hẹp, tự chuốc phiền não vào tâm", Hòa thượng sách tấn.

Với ý nghĩa đó, HT. Minh Bửu nói lên bài thơ kệ thay cho lời nhắc nhở sâu sắc:
“Vọng niệm khởi ý tình sanh
Ý tình sanh tưởng xúc chấp
Tưởng xúc chấp cảnh sắc động
Khéo quán biết phiền não nhẹ”.
Hòa thượng dẫn giải, khi vọng niệm khởi thì ý tình liền sanh, mà ý tình sanh ra thì tư tưởng khi tiếp xúc là chấp cứ vào đó. Một khi tư tưởng tiếp xúc chấp cứ vào rồi, thì cảnh sắc liền động. Ngược lại, nếu tưởng thức vô chấp, hiểu rõ nó chỉ là hiện tượng của bản thể, thì không còn phiền não. Tức bản thể là giống nhau chứ không khác nhau. Như trong kinh dạy, Phật tức là chúng sanh, chúng sanh tức là Phật. Vì Phật và chúng sanh đồng một bản thể.

"Cho nên, người khéo quán biết như thế thì phiền não liền nhẹ. Thiền nói một là một chứ không nói nửa chừng, khổ là khổ chứ không nói khổ ít hay khổ nhiều. Phiền não là phiền não, không phiền não tức bồ đề. Nhưng chúng sanh trong lòng chôn sâu vô minh nhiều kiếp, không dễ gì xóa tan những chủng tử vốn ngủ ngầm quá lâu, nên mới nói khéo quán biết tu tập thì phiền não được nhẹ", Hòa thượng nhận định.
Để chư hành giả Ni hiểu rõ hơn về ý nghĩa "Phật và chúng sanh chỉ đồng một tâm", Hòa thượng dẫn chứng bài thơ về chữ "Tâm":
“Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tợ nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố Phật dã do tha”.

Qua đó, Hòa thượng giảng giải, bài thơ này ví von chữ “Tâm” trong chữ Hán được mô tả có ba chấm như ba ngôi sao (Tam điểm như tinh tượng), còn móc câu nằm ngang như ánh trăng nghiêng (Hoành câu tợ nguyệt tà). Bên cạnh đó, hai câu "Phi mao tùng thử đắc, / Tố Phật dã do tha" lại có ý nghĩa, mang lông đội sừng, tức làm thân trâu, ngựa… là do tâm này, mà làm Phật cũng do tâm này tạo ra.
Hòa thượng khẳng định: "Vạn pháp từ bản tâm thanh tịnh mà lưu xuất. Tất cả vọng niệm, dù thiện hay ác, buồn hay vui, đều không từ bên ngoài mà đến, các pháp từ nơi tâm mà lưu xuất ra. Như trong kinh Pháp Bảo Đàn nêu rõ: 'Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, / Nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt, / Nào ngờ tự tánh vốn không dao động, / Nào ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp'."

Do vậy, theo Hòa thượng, chỉ một chữ "tâm", siêu hay đọa cũng đều từ đây, chánh hay tà cũng ở chữ này, làm Phật làm Tổ thì cũng từ chỗ tâm ấy, đọa làm thú mang lông đội sừng cũng bởi do tâm mà ra. Dẫn lời kinh Pháp cú với câu: "Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác", HT. Minh Bửu khẳng định, tâm chỉ có một bản thể là thanh tịnh, nhưng vì xúc cảnh đối duyên nên sanh vọng động, do đó nếu biết tùy duyên vô sự thì phiền não làm gì có chỗ sanh khởi.
Qua những lời sách tấn ý nghĩa về chơn tâm thật tánh, HT. Minh Bửu giúp chư hành giả Ni nhận ra Phật tánh vốn sẵn có nơi tâm, để quay về tu sửa chính mình, nép mình trang nghiêm trong giới luật, mà không cần tìm cầu bên ngoài. Thời pháp cũng mang lại cho chư hành giả Ni góc nhìn sâu sắc về việc, lẽ thật không phải là sự hiểu biết trên mặt chữ nghĩa, mà là sự bừng tỉnh, giác ngộ, thấy rõ bản tâm thanh tịnh vốn sẵn có nơi mỗi người. Từ đó xác quyết hơn về bản tâm thanh tịnh của chính mình, thấy được con người thật sự của mình. Như HT. Minh Bửu cuối lời khẳng định: "Thấy được tâm mình là thấy được chơn lý, thấy được chơn lý là chúng ta có được ánh sáng giác ngộ, giúp chúng ta tự do giải thoát".
Một số hình ảnh được ghi nhận:

















