Đạo Phật Khất Sĩ

Panner Web HPKS  002a 980x165

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Kỷ yếu Tưởng niệm cố Ni trưởng - kỳ 4

Mục lục[Ẩn]

1. SƯ CÔ THẢO LIÊN

TX. Ngọc Trước, Bến Tre

NI GIỚI HỆ PHÁI KHấT SĨ VÀ NHữNG ĐÓNG GÓP VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

1.Vài nét về sự hình thành và phát triển của Ni giới Hệ phái Khất sĩ

Tổ sư Minh Đăng Quang sau nhiều năm du phương tầm đạo, năm 1944 Ngài trở về Việt Nam ẩn tu tại núi Thất Sơn. Sau bảy ngày đêm thiền định quán xét nhân duyên tại rành mũi Nai - Hà Tiên, “đức Tổ Sư đã ngộ nhập Phật pháp, chứng đạt lý vô thường, vô ngã, cảnh khổ trầm luân đầy vơi, có không còn mất, sống chết, khổ vui của cuộc đời” . Rồi từ đây, với chí nguyện “Nối truyền Thích Ca chánh pháp”, đức Tổ sư đã khai sáng ra Hệ phái Khất sĩ theo truyền thống mà đức Phật đã vạch ra, noi gương Phật Tăng xưa, sống đời phạm hạnh của một “du Tăng Khất sĩ”, đêm tham thiền tĩnh tọa, sáng đi khất thực hóa duyên, trưa về độ ngọ, chiều học kinh, nghe pháp, dạy đạo cư sĩ, tối nghỉ dưới cội cây, không nhà cửa, không gia đình quyến thuộc, không cất chứa vật dụng tiền bạc, không ở một nơi nào nhất định.

Năm 1947, đức Tổ Sư được ông Bảy Tam mời về Linh Bửu Tự ở làng Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) giảng đạo. Tại đây, Ni trưởng Huỳnh Liên (1923 - 1987), hữu duyên gặp đức Tổ sư và xin xuất gia học đạo. Trong cuốn Bút Tích Ni trưởng Huỳnh Liên do Ni giới Hệ phái Khất sĩ biên soạn đã ghi lại việc này một cách rất chi tiết rằng: Những lần đức Tổ Sư giảng đạo, Ni trưởng đều rủ cô em gái và bà con bơi thuyền đến nghe Tổ Sư thuyết pháp. Sau nhiều lần nghe giảng, một hôm, Ni trưởng bước ra quỳ đảnh lễ và bạch rằng:

- Xin đức Thầy nhận cho con xuất gia.

Bạch ba lần Tổ Sư vẫn lặng yên, đến lần thứ tư, Ngài mới hỏi:

- Tín nữ xuất gia với hạnh nguyện gì?

Ni trưởng thưa:

- Bạch đức Thầy, con xuất gia với hạnh nguyện làm chiếc thuyền chở chuyên phái nữ, xin đức Thầy từ bi tiếp độ cho con.

Đức Tổ Sư mới ngó lên khen và nói với Phật tử:

- Đó là hạnh nguyện của Bồ tát, chỉ có Bồ tát mới có hạnh nguyện lớn lao như thế, chứng tỏ người này tiền kiếp có tu, nay xuất gia có thể đảm đương bên phái nữ. Rồi Đức Tổ Sư dạy:

- Tín nữ nên tìm thêm ba vị nữa cùng tu thì Thầy mới nhận.

Ni trưởng tìm đến chùa Sắc Tứ Long Hội mời Ni trưởng Nhị, Ni trưởng Tam (lúc bấy giờ đang tu học tại chùa này theo truyền thống Bắc Tông) và người mợ bà con cùng xuất gia theo giáo pháp Khất sĩ.

Ngày 01.041947, bốn vị được thế phát xuất gia tại Linh Bửu tự, được Tổ Sư thọ ký pháp danh là: Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên và Bửu Liên.

Năm 1948, vì nhu cầu khai lập đạo tràng tiếp Tăng độ chúng, đức Tổ Sư đã thiết lập đàn tràng truyền trao giới pháp y bát Khất sĩ cho hai giới Tăng Ni đệ tử của Ngài. Thế là từ đây ba vị Ni trưởng (bà Bửu Liên vì già yếu nên không bao lâu con bà rước về nhà) đã chính thức bước vào hàng Tăng Bảo của Giáo hội Khất sĩ. Và từ đây, Ni giới Khất sĩ đã được khai sinh cùng có mặt trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Với tư cách là trưởng tử Ni, đứng đầu hàng Ni giới Khất sĩ, Ni trưởng Huỳnh Liên đã được đức Tổ Sư giao trọng trách đảm đương bên phái nữ, trực tiếp hướng dẫn, dạy dỗ Ni chúng tu học.

Cũng năm 1948, đức Tổ Sư thành lập đoàn du Tăng hành đạo đến những vùng lân cận như Long An, Thủ Thừa. Nơi đây đức Tổ Sư đã độ Ni trưởng Chơn Liên, Ni trưởng Quang Liên và Ni trưởng Tạng Liên và rồi thẳng dặm về Chợ Lớn. Ở đây có Phật tử phát tâm xây cất tịnh xá Ngọc Sơn làm chỗ hành đạo cho Tăng đoàn.

Năm 1950, đức Tổ Sư mở rộng hướng hành đạo đến tận miền Tây như Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên... Lúc bấy giờ, hàng Ni chúng lại có thêm Ni trưởng Tuyết Liên, Ni sư Nghĩa Liên. Năm 1952 đến 1953 đức Tổ Sư hành đạo đến Châu Đốc, Thốt Nốt, Ô Môn, Cần Thơ, Trà Vinh, Ngã Bảy, Sóc Trăng, Bạc Liêu rồi đến Biên Hòa, Dầu Tiếng, sau đó về Gia Định rồi trở về lại Sa Đéc. Thời gian này, vâng lệnh đức Tổ Sư, nơi nào đức Tổ Sư chuẩn bị đến hành đạo, thì Ni trưởng Huỳnh Liên đều dẫn đoàn Ni chúng đến trước vài tuần, để đồng bào Phật tử làm quen với nếp sống của Khất sĩ. Sau khi đức Tổ Sư dẫn đoàn chư Tăng đến thì quý Ni trưởng lại bắt đầu cuộc hành trình mới, di chuyển đến nơi khác. Điều này trong quyển Bút Tích Ni trưởng Huỳnh Liên được ghi rất rõ: “Đặc biệt nơi nào đức Tổ Sư định đến thì Ngài dạy Ni trưởng dẫn đoàn quý Ni trưởng đến trước vài tuần, sau đó đức Tổ Sư mới dẫn đoàn chư Tăng đến thuyết pháp giảng đạo và dựng lập đạo tràng, xong lại lữ hành đến nơi khác, đi đi mãi, màn trời chiếu đất, mưa nắng không màng, đói no chẳng quản, chỉ lo hoằng pháp độ sanh”.

Thời gian đầu quý Ni trưởng chịu nhiều gian truân, vất vả, sống nếp sống thanh bần, ăn ngọ, không tiền, đầu trần chân đất, bữa đói bữa no. Hằng ngày, quý Ni trưởng được trực tiếp học đạo nghe pháp với đức Tổ Sư qua những bài Chơn Lý, đêm về nghỉ dưới cội cây hoặc nghỉ dưới nhà mồ của bà con Phật tử. Việc này từng được Ni trưởng Huỳnh Liên thố lộ trong hai bài thơ “Nghỉ chân bên nghĩa địa” và “Nằm nghỉ tại rừng cây”.

Năm 1954, đức Tổ Sư thọ nạn vắng bóng. Lúc này, Tịnh xá khoảng 20 ngôi, Tăng Ni trên 100 vị, trong đó Ni chúng khoảng 53 vị. Với cương vị trưởng tử Ni, bằng hạnh nguyện làm chiếc thuyền chở chuyên phái nữ, kế thừa đạo nghiệp của đức Tổ sư, với phương châm “Nối truyền thích ca chánh pháp”, Ni trưởng dẫn đoàn Ni giới tiếp tục vân du khắp hai miền Nam - Trung nước Việt, thuyết pháp giảng kinh, thiết lập đạo tràng, tiếp chúng độ Ni.

Năm 1958, để thuận tiện trong hoạt động du hóa, Ni trưởng Huỳnh Liên, Ni trưởng Bạch Liên cùng quý Ni trưởng trong hàng Giáo phẩm đã đệ đơn xin phép thành lập Giáo Hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam với Bản Điều Lệ gồm 30 Điều, làm tại Sài Gòn ngày 18.10.1957 được Bộ Nội vụ Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cho phép tại Nghị định số 7/BNV/NA/P5, do Tham lý Nội an Vũ Tiến Huân ký, với danh xưng Giáo Hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam (thường gọi là Giáo hội Liên Hoa Khất Sĩ), trụ sở đặt tại Tịnh xá Ngọc Phương (nay là số 498/1 Lê Quang Định, phường 1, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh). Bản Điều Lệ, điều thứ nhất quy định: Giữa những người nữ tu xuất gia thuộc Phật giáo công nhận Bản Điều lệ này, có thành lập một Hiệp hội tên là: Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam, đặt dưới chế độ Dụ số 10, ngày 6.8.1950. Điều thứ sáu quy định: Giáo hội gồm có hội viên là Ni cô, bất luận quốc tịch, bất luận hạng số, phân ra bốn hạng: Tỳ Kheo Ni và tập sự Tỳ Kheo Ni, Sa di ni và tập sự Sa di ni. Kể từ đó, Ni giới Hệ phái Khất sĩ đã chính thức thành lập với đầy đủ pháp nhân pháp lý.

Từ năm 1960 đến năm 1975, miền Nam bước vào giai đoạn khúc quanh của lịch sử. Với tấm lòng Bồ tát, đau nỗi đau chung của dân tộc, Ni trưởng Huỳnh Liên đã lãnh đạo hàng Ni giới Khất sĩ và tích cực vận động chư Ni cùng tín đồ Phật tử tham gia vào các phong trào đấu tranh cho hòa bình, tự do, độc lập cho đất nước, đấu tranh đòi quyền sống, đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và trường tồn đạo pháp, đòi tự do tín ngưỡng và các quyền dân sinh, dân chủ của Phật giáo, các phong trào của sinh viên học sinh, phong trào phụ nữ đòi quyền sống, phong trào dân tộc tự quyết, ủy ban cải thiện chế độ lao tù, tổ chức biểu tình đòi thả tù nhân chính trị, phối hợp với phụ nữ quốc tế lên án chiến tranh, vận động hòa bình… Và danh hiệu “đội quân đầu tròn” đã sánh vai cùng “đội quân tóc dài” hiên ngang đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc. Trong những ngày tháng chiến tranh, Tịnh xá Ngọc Phương, trú xứ của Ni giới Khất sĩ đã trở thành cơ sở cách mạng, phục vụ cho cách mạng, từng bị cảnh sát phong tỏa. Ni trưởng đã cho dựng một “lò thiêu dã chiến” trước cổng Tịnh xá nếu có bị cảnh sát tấn công, đàn áp thì chư Ni sẽ tự thiêu tập thể để chống đối và đòi sự tự do. Hòa bình lập lại, năm 1994, Tịnh xá Ngọc Phương đã được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là “Di tích lịch sử” theo quyết địn số 2754-QĐ/BT ngày 15.10.1994.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ni trưởng Huỳnh Liên đã tham gia vào Ban Liên Lạc Phật giáo, Ban Vận Động thống nhất Phật giáo hòa mình cùng các tổ chức Phật giáo trong giai đoạn mới cho đến khi thống nhất Phật giáo cả nước. Năm 1981, đã có 92 ngôi Tịnh xá Ni và 500 Ni chúng. Năm 1987, Ni trưởng viên tịch. Để tuyên dương thành tích và công hạnh của Ni trưởng, đạo hiệu của Ni trưởng đã được nhà nước đặt tên đường “Ni sư Huỳnh Liên” thuộc quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay, Ni giới Hệ phái Khất sĩ đã trải qua 4 đời Ni trưởng Trưởng Ni giới: Ni trưởng Huỳnh Liên, đệ nhất; Ni trưởng Bạch Liên đệ nhị, Ni trưởng Tạng Liên đệ tam và Ni trưởng Tràng Liên đương kim đệ tứ. Theo thống kê mới nhất của Ni giới Hệ phái, tính đến năm 2016, chư Ni có 1493, 259 ngôi Tịnh xá, Tịnh thất, Thiền viện và Chùa trải khắp ba miền Bắc - Trung - Nam của đất nước và còn lan rộng đến các nước như Mỹ, Úc, Canada... Qua đó cho thấy, Ni giới Hệ phái Khất sĩ hơn 70 năm qua đã không ngừng phát triển và hòa nhập vào dòng chảy của dân tộc, đồng thời cũng trở thành điểm son cho Phật giáo Việt Nam.

2. Ni giới Hệ phái Khất sĩ với hoạt động xây dựng và phát triển Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

2.1 Tham gia vận động thống nhất Phật giáo cả nước

Năm 1975, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Bắc Nam sum họp một nhà, một ước mơ lớn nhất của dân tộc và Phật giáo hai miền Nam - Bắc, đó là thống nhất Phật giáo. Thế nên ngay sau đó, năm 1976 Ban Liên Lạc Phật giáo ra đời do Hòa Thượng Thích Minh Nguyệt làm Chủ Tịch. Trong đó, Ni trưởng Huỳnh Liên đã tích cực tham gia với vai trò là Uỷ Viên Ban Liên Lạc Phật giáo hòa mình cùng tổ chức Phật giáo, bắt đầu cho công cuộc nối kết Phật giáo cả nước trong giai đoạn mới.

Tiếp theo đó, ngày 12-13/2/1980, chư tôn đức giáo phẩm tiêu biểu Phật giáo khắp ba miền Nam - Trung - Bắc đã có buổi họp tại Thành phố Hồ Chí Minh thảo luận về việc thành lập Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam. Kết quả là Ban Vận động thống nhất Phật giáo đã được thành lập với thành phần nhân sự gồm các vị tôn đức giáo phẩm cũng như các vị một đời tâm huyết cống hiến cho dân tộc và đạo pháp. Thành phần nhân sự gồm có:

Ban Chứng minh: 4 vị

1. Hòa Thượng Thích Đức Nhuận.

2. Hòa Thượng Thích Thanh Duyệt.

3. Hòa thượng Thích Pháp Tràng.

4. Hòa thượng Thích Hoằng Thông.

Ban Thường trực: 8 vị

1. Hòa thượng Thích Trí Thủ, Trưởng ban.

2. Hòa thượng Thích Thế Long, Phó trưởng ban.

3. Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Phó trưởng ban.

4. Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Phó trưởng ban.

5. Hòa thượng Thích Bửu Ý, Phó trưởng ban.

6. Hòa thượng Thích Mật Hiển, Phó trưởng ban.

7. Hòa thượng Thích Giới Nghiêm, Phó trưởng ban.

8. Hòa thượng Thích Thiện Hào, Ủy viên thường trực.

Ban Thư ký : 3 vị

1. Thượng tọa Thích Minh Châu, Chánh Thư ký.

2. Thượng tọa Thích Từ Hạnh, Phó Thư ký.

3. Thượng tọa Thích Thanh Tứ, Phó Thư ký.

Ủy viên : 11 vị

1. Hòa thượng Thích Giác Tánh.

2. Hòa thượng Thích Trí Nghiêm.

3. Hòa thượng Thích Đạt Hảo.

4. Hòa thượng Châu Mum.

5. Thượng tọa Thích Thanh Trí.

6. Thượng tọa Thích Chính Trực.

7. Thượng tọa Thích Giác Toàn.

8. Ni sư Thích nữ Huỳnh Liên.

9. Cư sĩ Nguyễn Văn Chế.

10. Cư sĩ Võ Đình Cường.

11. Cư sĩ Tống Hồ Cầm.

Qua thành phần nhân sự chúng ta thấy, Ni trưởng Huỳnh Liên là thành viên nữ cũng là thành viên Ni duy nhất tham gia trong Ban vận động. Nhiệm vụ của Ban vận động là kêu gọi, vận động các tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo trên cả nước cùng thực hiện công cuộc thống nhất Phật giáo. Qua đó, lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng, băn khoăn, suy nghĩ, lo lắng, khó khăn, quan điểm, tư tưởng của các tổ chức này để cùng trao đổi, bàn bạc, góp ý, sửa chữa, thảo luận các phương thức và đường lối thống nhất để tìm ra giải pháp tốt nhất cho ngôi nhà chung Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Chẳng những thế mà còn phải hoàn chỉnh vấn đề hệ thống và cơ cấu tổ chức của Phật giáo Việt Nam sau khi thống nhất, như chương trình tu học cho Tăng Ni, tính biệt truyền của Hệ phái, quản lý chùa chiền, quản lý Tăng Ni, nghi lễ Phật giáo...

Sau gần hai năm làm việc tích cực, khẩn trương, vận động khắp 3 miền Bắc Trung Nam với các cuộc thăm viếng, hội họp tại các trụ sở của các tổ chức, Giáo hội, Hệ phái Phật giáo…, kết quả là Đại Hội đại biểu thống nhất Phật giáo đã diễn ra tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội từ ngày 4-7/11/1981. Đại hội quy tụ 9 tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo trong cả nước, trong đó có Hệ phái Khất sĩ (gồm Giáo Hội Tăng Già Khất sĩ Việt Nam và Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam) quy về một mối, với danh xưng là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam. Gồm có:

1. Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam.

2. Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.

3. Giáo Hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam.

4. Ban Liên Lạc Phật giáo Yêu Nước TP. Hồ Chí Minh.

5. Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam.

6. Giáo Hội Phật giáo Thiên Thai Giáo Quán.

7. Giáo Hội Tăng Già Khất sĩ Việt Nam.

8. Hội Sư Sãi yêu nước miền Tây Nam Bộ.

9. Hội Phật Học Việt Nam.

Ni trưởng Huỳnh Liên là vị đại biểu đại diện cho tiếng nói của Ni giới Khất sĩ cùng 5 vị đại biểu của Hệ phái trong 165 vị đại biểu Phật giáo Việt Nam, tham gia Đại hội Thống nhất Phật giáo cả nước. Đại Hội đã diễn ra thành công tốt đẹp và từ đó Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trở thành một khối đoàn kết thống nhất, đồng thời cũng là tổ chức đại diện hợp pháp duy nhất của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam và là người đại diện chính thức của Phật giáo Việt Nam trong các quan hệ đối nội, đối ngoại và hoạt động quốc tế. Do vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, Đại hội thống nhất Phật giáo là một điểm son đánh dấu cho việc khai phát tiền đồ Phật giáo, góp phần làm rạng rỡ ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.

2.2 Tham gia hoạt động giáo dục và đào tạo

Là người lèo lái con thuyền Ni giới Hệ phái Khất sĩ, trong sự nghiệp giáo hóa và dắt dìu Ni chúng. Ni trưởng Huỳnh Liên chẳng những đã không chấp nê thủ cựu mà còn dõng mãnh vượt qua những định kiến từ xưa của hạnh Khất sĩ du phương là chỉ chuyên tu giải thoát, chủ trương:

“Tu có học mới rạng ngời Chánh pháp,

Học có tu mới lợi Đạo, ích Đời”.

Do đó, Ni trưởng cho Ni chúng theo học các lớp Phật học, thậm chí Người còn chủ trương cho Ni chúng học thêm văn hóa phổ thông, ngữ văn, sinh ngữ, cổ ngữ, học thơ phú, trau giồi Việt văn, cách viết sách báo... Ngay từ những khóa đầu tiên của trường Cao Cấp Phật học, đã có sự tham gia của Ni chúng Khất sĩ. Trong đó, khóa I có 10 vị tốt nghiệp, khóa II có 12 vị và những khóa tiếp theo đến nay là khóa XI, mỗi khóa đều có chư Ni Khất sĩ tham dự. Ngoài ra, tại các trường Cao Đẳng, Trung Cấp của thành phố Hồ Chí Minh cũng như khắp các tỉnh thành đều không thiếu màu áo vàng của Ni chúng Khất sĩ góp phần tô sắc thêm cho các trường lớp Phật học được đa dạng, phong phú.

Ni sư Tín Liên tốt nghiệp khóa I Cao cấp Phật học đã được nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho phép nhận học bổng về nghiên cứu Phật học tại trường Đại học New Delhi - Ấn Độ do chính phủ Ấn Độ tài trợ theo chương trình trao đổi văn hóa giữa hai nước Ấn - Việt. Hiện Ni sư đã hoàn thành xong chương trình học bổng, từ nhiều năm qua đã trở về nước phục vụ cho Học Viện, Viện nghiên cứu, Hội đồng Trị Sự cũng như các lĩnh vực khác của Giáo hội.

Theo thống kê mới nhất của Hệ phái báo cáo về Ban Tăng Sự, hiện Ni giới Hệ phái Khất sĩ có: 2 Hậu tiến sĩ; 34 Tiến sĩ (học xong: 22; đang học: 12); 20 Thạc sĩ (học xong: 13; đang học: 7); 87 Cao Đẳng; 157 Cử nhân; 21 Cao cấp giảng sư và hàng trăm Ni chúng học tại các trường Trung Cấp, Sơ cấp tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh thành. Phần lớn các vị này đều đang phục vụ giảng dạy và làm việc tại các trường Phật học như Học viện, Viện nghiên cứu, Lớp phiên dịch Hán Nôm, Cao Đẳng, Trung Cấp, Sơ Cấp tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh thành. Ni giới hiện có một lớp Sơ Cấp trực thuộc Phật giáo quận Gò Vấp, lớp đặt tại Tịnh xá Ngọc Phương, mỗi khóa 2 năm, đến nay là năm thứ nhất của khóa thứ 6.

Bên cạnh đó, Ni giới Hệ phái Khất sĩ còn tích cực tham gia vào Hội đồng Trị Sự, các tổ chức Ban ngành của Giáo Hội. Cụ thể là:

Ni trưởng Huỳnh Liên: Ủy viên Kiểm soát Ban Thường trực HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ I, II (1981 - 1987).

Ni trưởng Tạng Liên: Ủy viên HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ IV (1997 - 2002).

Ni trưởng Ngoạt Liên: Ủy viên Ban Thường trực HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ II đến nhiệm kỳ VII (1987 - 2017).

Ni trưởng Tràng Liên: Ủy viên HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ IV, V, VI, VII (1997 - 2017).

Ni sư Tín Liên: Ủy viên HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ VI và VII (2007 - 2017).

Ni sư Hòa Liên (VP2): Ủy viên HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ VII (2012 - 2017).

Ni sư Phụng Liên, Ni sư Tuệ Liên: Ủy viên (Dự khuyết) HĐTS GHPGVN nhiệm kỳ VII (2012 - 2017).

Mặt khác, tại các Ban Trị Sự, Phân Ban Ni giới của các quận huyện tỉnh thành, Ni chúng Khất sĩ đều không quản gian lao, khó khăn tích cực góp phần phụng sự Giáo hội Phật giáo tỉnh nhà, cống hiến sức lực nhỏ bé của mình phục vụ chúng sanh, trang nghiêm Giáo hội.

Về mặt trước tác và dịch thuật, Ni chúng Khất sĩ cũng đã có một số tác phẩm, dịch phẩm góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hóa, văn học Phật giáo Việt Nam. Những tác phẩm, dịch phẩm, hiệu đính, sách báo tiêu biểu được xuất bản:

- Đóa Sen Thiêng, Ni trưởng Huỳnh Liên, nhà xuất bản Hồng Đứcnăm 2012.

- Bút Tích Ni trưởng Huỳnh Liên, Ni giới Hệ phái Khất sĩ, nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2016.

- Kinh Tam Bảo, Ni trưởng Huỳnh Liên biên soạn, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2014.

- Tinh Hoa Bí Yếu, Ni trưởng Huỳnh Liên, nhà xuất bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2014.

- Chuyến Du Hành Miền Trung, Ni trưởng Huỳnh Liên, nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2015.

- Ni trưởng Huỳnh Liên - Cuộc đời và đạo nghiệp, Ni trưởng Khiêm Liên, nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2015.

- Kinh Hoa Nghiêm, TN.Tuệ Liên, TN.Nguyện Liên và TN. Nghiêm Liên hiệu đính, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2015.

- Phật Giáo & Trí Thức Ngày Nay, tập I&II, TN. Nguyện Liên và TN.Thoại Liên dịch, nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2015.

- Tâm Và Đạo, Hiểu sâu tâm mình và Con đường tâm linh, Liên Trí dịch, nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2014.

- Cảm Ngộ Triết Lý Chân Không, Nguyện Liên dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2010.

- Từ Bi Cứu Nhân Độ Thế, Nguyện Liên dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2010.

- Trí tuệ, Thiện nghiệp, Đoạn sắc dục, Nguyện Liên dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2010.

- Liễu ngộ Phật pháp qua thành ngữ Phật học, Nguyện Liên dịch, nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2011.

- Bí quyết dưỡng sinh theo nhà Phật, Nguyện Liên dịch, nhà xuất bản Thời Đại, năm 2012.

- Phật sự tâm tuệ đạo, Thích Nữ Thoại Liên dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2010.

- Quan điểm về tâm của Lục tổ Huệ Năng và Tổ sư Minh Đăng Quang, Thích Nữ Thảo Liên, Khất sĩ Phật Việt, nhà xuất bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2015.

2.3. Ni giới Hệ phái Khất sĩ với việc gìn giữ và phát huy những nét đặc thù của Hệ phái

Năm 2014, nhân đại lễ kỷ niệm 70 năm (1944 - 2014) thành lập Hệ phái và đại lễ tưởng niệm 60 năm (1954 - 2014) Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng, Hệ phái Khất sĩ đã kết hợp với Viện nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam và Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, lần đầu tiên tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: Hệ phái Khất sĩ - Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập. Hội thảo đã nhận được gần 100 bài viết từ chư tôn đức lãnh đạo Phật giáo, những vị Giáo sư, Tiến sĩ, nhà nghiên cứu, học giả, nhà báo trong và ngoài nước gởi về.

Trong phần này, chúng tôi muốn mượn ngòi bút của các vị này để giới thiệu những nét đặc thù của Hệ phái góp phần làm phong phú, đa dạng cho Phật giáo Việt Nam. Bởi chúng tôi nghĩ, giới thiệu nét đặc thù của Hệ phái qua cái nhìn của các vị tôn túc, các nhà nghiên cứu, học giả, như vậy sẽ mang tính khách quan và khoa học hơn. Thứ đến là thông qua việc gìn giữ và phát huy những nét đặc thù của Hệ phái nói lên sự đóng góp của Ni giới hệ phái.

2.4. Vận dụng linh hoạt những ưu việt của Phật giáo Bắc tông và Nam tông:

TS Nguyễn Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Tôn giáo đã nhận định về sự vận dụng linh hoạt tư tưởng của Bắc và Nam tông qua bài viết Vài Nét Về Lịch Sử Và Đặc Điểm Của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam: “Tư tưởng của toàn bộ các bài giảng là sự dung hòa giữa hai trường phái Phật giáo Nguyên thủy (Nam truyền) và Phật giáo Đại thừa (Bắc truyền). Tổ sư Minh Đăng Quang đã phối hợp được tinh hoa hai trường phái đó theo tôn chỉ: “Việt Nam đạo Phật không phân thừa”. Dung hòa bằng việc kế thừa hình thức mặc y, mang bát và thiền định của Nam truyền: khất thực, ăn ngọ, giảng về y bát chân truyền và đạo quả A la hán; kế thừa việc ăn chay, nhập thế độ sanh và thu nhận Ni giới như Bắc truyền, cùng giảng kinh Pháp Hoa, kinh A Di Đà... triển khai các khái niệm của Đại thừa như Phật tính, Chân như... và kết hợp tinh hoa Nam - Bắc truyền để thành hình Hệ phái Khất sĩ”.

Trong bài viết Sự Bình Thường Vĩ Đại Của Ngài Minh Đăng Quang, TT. Thích Thiện Thống đã viết: “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam hình thành một truyền thống tu học mới, các hình thức tu hành, lễ nghi tôn giáo được cách tân, nhưng vẫn giữ được sự kế thừa gần như hoàn hảo của hai truyền thống Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông... Khất thực là truyền thống của Phật giáo Nam tông, Hệ phái Khất sĩ xem đây là việc “Nối truyền Thích Ca chánh pháp”; kinh điển và giới luật thì áp dụng theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông được sử dụng bằng thơ lục bát và ngôn ngữ thuần Việt”.

HT. Thích Như Niệm đã nói đến sự kết hợp hai truyền thống Phật giáo của Hệ phái trong bài viết Những Điểm Nổi Bật Của Hệ phái Khất sĩ: “Một điểm sáng của Tổ sư Minh Đăng Quang là chiếc y cách thể, tuy mang màu giống Bắc tông nhưng đắp y theo kiểu Nam tông, do vậy làm cho không gần mà cũng không xa với dân chúng để họ nhìn ra và cảm thông đây là vị tu hành theo Phật giáo xưa nay. Khất thực theo lối Nam tông nhưng nhận thực phẩm không phải tùy thí tùy thực, mà toàn nhận thực phẩm chay tịnh”.

Hình ảnh những vị Sư, Sư Cô với bình bát trên tay, cùng tấm y bá nạp, đầu trần chân đất, từng bước đi chậm rãi, ung dung, trang nghiêm từ nhà này sang nhà khác, từ đường này đến đường kia... khất thực hóa duyên không phân biệt tôn giáo, giai cấp, địa vị xã hội, giàu hay nghèo, tất cả đều tùy lòng hảo tâm của thí chủ, chỉ trái chuối, chén cơm..., thức ăn chay tịnh, không khen chê ngon dở, nhiều ít, ngày ăn một bữa ngọ trưa. Chính những hình ảnh này đã làm sống lại hình ảnh Phật Tăng xưa trong lòng người dân Việt. Như PGS.TS Nguyễn Công Lý đã nhận xét trong bài viết Sức Hấp Dẫn Của Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam: “Về vật dụng tùy thân, Tổ sư Minh Đăng Quang đã chọn hình thức “tam y nhất bát”. Hình thức pháp phục và bình bát của đoàn du tăng Khất sĩ Việt Nam giống như hình ảnh tăng đoàn đi khất thực hóa duyên thời Đức Phật còn tại thế”.

Lại nữa, với tấm thân nữ lưu tay yếu chân mềm, các vị Ni Khất sĩ đã không quản gió mưa khắc nghiệt, với bình bát đất, tấm y vá nhiều mảnh, đầu trần chân đất, khất thực hóa duyên, du phương hành đạo, nghỉ dưới cội cây, nghĩa địa, mồ hoang... đã góp phần tạo nên nét đặc thù chỉ có ở Hệ phái Khất sĩ. Hơn nữa, như chúng ta đều biết, chư Ni Phật giáo Bắc tông thường mặc áo tràng lam, đắp y điều. Phật giáo Nam tông thì người nữ xuất gia là các vị tu nữ mặc y trắng. Riêng chư Ni Khất sĩ mặc chăn áo dài vàng, đắp y bá nạp. Đây là một nét rất riêng của Ni giới Khất sĩ, không lẫn vào đâu được. Và hình thức này chỉ có Hệ phái Khất sĩ, thành viên của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam.

Đặc biệt hơn nữa là đối với các nước phương Tây cũng như các nước châu Á khác chưa hiểu gì về nguồn gốc, sinh hoạt cũng như sự ra đời của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam. Hình ảnh chư Ni Khất sĩ đắp y, mang bát, chân đất, đầu trần trước tiên đã đập vào mắt họ một ấn tượng đặc biệt, gợi cho họ một sự hiếu kỳ và không khỏi thắc mắc: pháp phục của các vị Ni này sao không giống chư Ni Bắc tông, cũng chẳng giống Nam tông, vậy các vị này tu theo phái nào? Đến từ đâu? Thế rồi họ sẽ tìm hiểu. Mặt khác, trong các công cụ truyền thông, thông tin, như ngôn ngữ, sách báo, phim ảnh, trong đó phim ảnh là công cụ truyền thông dễ đọng lại trong lòng người nhiều nhất, bởi tính hình tượng của nó. Khi đọc một quyển sách chúng ta ít nhớ nội dung của nó hơn là chúng ta xem một một bộ phim, những hình ảnh sống được dựng lên từ cốt truyện trong quyển sách đó. Cũng thế, hình ảnh chư Ni Khất sĩ là một hình ảnh sống động, tạo nét riêng, không những làm nổi bật mà còn góp phần linh hoạt trong quá trình truyền bá Phật pháp đến với bạn bè thế giới một cách ngắn gọn và hữu hiệu nhất. Đặc biệt là hình ảnh này chỉ xuất hiện ở Phật giáo Việt Nam. Cũng như người phụ nữ Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống không thể lẫn lộn vào đâu khi đứng trước phụ nữ quốc tế. Hình ảnh đắp y mang bát của chư vị Khất sĩ cũng là một trong những hình ảnh tiêu biểu không thể lẫn lộn với ai được. Bởi hình ảnh này xuất phát từ một Hệ phái của Phật giáo Việt Nam và chỉ có ở Phật giáo Việt Nam.

2.5. Nét thuần Việt về nghi thức hành lễ, kinh văn đọc tụng:

PGS.TS Phan Thị Thu Hiền, đã nhận xét về hệ thống kinh điển của Hệ phái với những nét riêng: “Phật giáo Khất sĩ là hệ phái có hệ thống kinh điển riêng bằng tiếng Việt chứ không sử dụng kinh điển Ấn Độ trong nguyên bản tiếng Pali, tiếng Sanskrit hay qua các bản dịch”.

TT. TS Thích Đồng Bổn trong bài viết Nét Thuần Việt Ở Một Hệ Phái Phật Giáo Việt Nam đã đưa ra quan điểm của mình về bộ Chơn Lý và Nghi thức tụng niệm của Tổ sư với lời khen ngợi: “Hầu hết giáo lý căn bản của hệ phái nằm trong bộ Chơn Lý do Tổ sư Minh Đăng Quang soạn, ngắn gọn và dễ hiểu. Nghi thức tụng niệm và các bài kệ diễn đạt các giáo lý căn bản đều sử dụng tiếng Việt thuần túy, lại gần gũi và dễ nằm lòng nhờ thể loại văn vần”.

Trong bài viết Tấm gương đạo đức của Tổ sư Minh Đăng Quang, PGS.TS Trần Hồng Liên, người đã nhiều năm gắn bó với Phật giáo, đã nêu lên những đóng góp của Tổ sư qua bộ Chơn Lý về mặt kinh văn đã không còn mang âm hưởng tiếng Hán của văn hóa Trung Hoa và tiếng Phạn của kinh sách Ấn Độ. Giáo sư đặt tên cho phần này là giải Ấn hóa và Hoa hóa: “Việc tự mình trải nghiệm, học hiểu và thực hành Phật pháp, rồi sau đó xiển dương nền đạo, thông qua bộ Chơn Lý là một đóng góp lớn trong quá trình giải trừ những yếu tố, những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, cũng như văn ngữ Phạn, thông qua kinh sách, qua văn tự của Tổ sư Minh Đăng Quang”.

PGS.TS Nguyễn Công Lý thì lại cho rằng những lời thuyết giảng của Tổ sư trong 69 bài Chơn Lý không hoa mỹ, cầu kỳ mà giản dị, mộc mạc nhưng cũng không kém phần mạch lạc, rõ ràng theo kiểu Tam đoạn luận phù hợp với tâm lý của người dân Nam bộ, nơi đạo Phật Khất sĩ ra đời: “Bộ Chơn lý là sự tập hợp những bài thuyết giảng của Ngài đã giảng dạy cho hàng đệ tử với 69 bài giảng chứa đựng nội dung về Kinh, Luật và Luận... Những bài thuyết giảng của Ngài được giảng bằng một ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, rõ ràng, cụ thể, không dùng ẩn ngữ. Với phương pháp diễn giải trực tiếp và lập luận rõ ràng vững chắc theo kiểu Tam đoạn luận, phù hợp với tâm lý và tính cách mộc mạc, giản dị của người dân Nam bộ nói riêng, của người Việt Nam nói chung”.

TT.TS Thích Nhật Từ trong Lời giới thiệu về quyển kỷ yếu hội thảo, Hệ phái Khất sĩ - Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập đã khẳng định rằng Tổ sư Minh Đăng Quang đã dùng chính văn hóa của người Việt làm cơ sở truyền bá Phật pháp cho người Việt. Điều này được thể hiện rõ nét qua các bài kinh thuần Việt trong Nghi thức tụng niệm của Hòa thượng Giác Nhiên và Ni trưởng Huỳnh Liên. Và tất nhiên sự linh động ưu việt này đã đi vào lòng người dân Việt một cách tự nhiên và không thể thiếu như chính hơi thở của họ: “Tổ sư Minh Đăng Quang lấy văn hóa Việt Nam làm cơ sở truyền bá Phật pháp cho người Việt Nam... Tổ sư Minh Đăng Quang đã mạnh dạn sử dụng các bài kinh thuần Việt với ngôn ngữ bình dân, dễ hiểu đi vào lòng người. Việt hóa nghi thức tụng niệm và hoằng truyền Phật pháp bằng tiếng Việt dễ hiểu không chỉ là chủ trương của Hệ phái Khất sĩ mà còn là con đường độ sinh thiết thực và hữu hiệu... chủ trương này đã được Hòa Thượng Giác Nhiên và Ni trưởng Huỳnh Liên chuyển thể qua hai ấn bản “Nghi thức tụng niệm” sau khi Tổ sư vắng bóng... Vượt qua hàng rào cản ngôn ngữ Hán Việt, các nghi thức tụng niệm thuần Việt, đậm chất thi ca của Hệ phái đã trở thành thực phẩm tinh thần không thể thiếu đối với các Phật tử tại miền Nam Việt Nam”.          

Nhắc đến Ni trưởng Huỳnh Liên nói riêng và Ni giới Khất sĩ nói chung mà không nhắc đến các bài kệ tụng, các bài kinh, các bài thơ ca thuần tiếng Việt thì quả thật là một điều thiếu xót. Bởi đây là nét riêng của Ni giới Khất sĩ. Và chính nét riêng này cũng đã góp phần tạo nên một Hệ phái Khất sĩ thuần Việt làm phong phú đa dạng thêm cho đạo Phật Việt Nam. Vốn có thiên phú về thơ ca văn học, Ni trưởng Huỳnh Liên đã diễn dịch gần 2000 bài thơ và hơn cả 1000 bản văn xuôi. Tập thơ Đóa Sen Thiêng của Ni trưởng đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận kỷ lục là tập thơ được viết theo nhiều thể loại nhất: lục bát 46 bài, song thất lục bát 50 bài, song thất biến thể 37 bài, thất ngôn bát cú 202 bài, thất ngôn tứ cú, tứ tuyệt 70 bài, phú 5 bài, văn tế 17 bài, thi điếu 18 bài, ngũ ngôn 28 bài.

Ngoài ra, một số kinh như Kinh Di Đà, Kinh Phổ Môn, Kinh Vu Lan, Kinh Báo Hiếu, Bát Nhã Tâm Kinh, Kinh Vô Ngã Tướng, Kinh Pháp Cú, Kinh Di Giáo, Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Kệ Trích Lục, Kệ Chơn Lý... với các thể loại khác nhau như lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, ngũ ngôn... đã được lấy làm nghi thức tụng niệm hằng ngày cho Ni chúng Khất sĩ được xuất bản với tựa đề Kinh Tam Bảo và Kinh Xưng Tụng Tam Bảo. Qua đây chúng ta thấy Ni giới Hệ phái Khất sĩ chẳng những đã góp phần làm đặc sắc thêm cho văn học Phật giáo Việt Nam mà còn truyền bá Phật giáo với những nét riêng của Hệ phái với những bài kinh theo các thể thơ khác nhau dễ nhớ dễ đọc.

Qua lời trích dẫn trên chúng ta thấy rất rõ, một Hệ phái Khất sĩ thuần Việt đã để lại một ấn tượng sâu sắc và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Việt. Nhưng liệu nét đặc thù này có làm phân phái trong nội bộ Phật giáo Việt Nam hay không? Đây là câu hỏi được đặt ra trong bài viết Sự Bình Thường Vĩ Đại Của Ngài Minh Đăng Quang của TT. Thích Thiện Thống, Uỷ Viên Thư ký HĐTS GHPGVN. Qua phân tích, Thượng tọa cho rằng sự xuất hiện của Hệ phái Khất sĩ là một gạch nối giữa truyền thống và đổi mới trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo nước nhà và tạo cho bức tranh tổng thể của Phật giáo nước nhà thêm phong phú, đa dạng: “Sự xuất hiện của ngài Minh Đăng Quang và Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam không chỉ có vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ mà còn góp phần quan trọng làm phong phú văn hóa Phật giáo, văn hóa dân tộc, làm phong phú thêm sự nghiệp chấn hưng Phật giáo nước nhà trong giai đoạn này, là một gạch nối giữa truyền thống và đổi mới trong hành đạo. Chính từ những yếu tố này đã tạo nên một bức tranh tổng thể về sự thống nhất trong đa dạng, đồng thuận các Phật sự của các tổ chức, hệ phái trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại và mai sau”.

Cuối cùng Thượng tọa đã đưa ra kết luận rằng Hệ phái Khất sĩ với những nét đặc thù đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại, đã phát huy những gì tinh hoa nhất, tích cực nhất của văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc, rồi biến nó thành chất men hội tụ và làm chất xúc tác chẳng những làm cho Phật giáo Việt Nam phát triển một cách đa dạng mà không hề tạo thành bất cứ một sự phân phái nào trong nội bộ: “Ngài Minh Đăng Quang đã vận dụng, phát huy văn hóa Phật giáo, văn hóa dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn những truyền thống có sẵn, đổi mới và sáng tạo một truyền thống mới để làm nền tảng trong việc lập giáo tu hành, chứ không tạo thành một sự phân phái trong nội bộ Phật giáo Việt Nam... Ngài Minh Đăng Quang đã kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống và hiện đại, phát huy văn hóa Phật giáo và dân tộc với tất cả những gì tinh hoa nhất, tích cực nhất, phù hợp nhất với hoàn cảnh lịch sử, địa lý của Nam Bộ bấy giờ, biến nó thành chất men hội tụ và làm chất xúc tác để Phật giáo Việt Nam phát triển đa dạng, hội nhập bằng chính sự đoàn kết trong nội bộ Phật giáo Việt Nam, làm cho mỗi Tăng Ni, đồng bào Phật tử Hệ phái Khất sĩ trên những cương vị khác nhau, luôn phát huy cao độ trí huệ và dũng khí của chính mình để cống hiến cho đạo pháp và dân tộc”.

3. Lời kết

Là thành viên của Giáo hội, Ni giới Khất sĩ đã không ngừng đổi mới tự thân và giữ gìn phát huy những truyền thống tốt đẹp cùng với Hệ phái hòa mình vào dòng chảy của Phật giáo Việt Nam. Hơn 70 năm qua, Ni giới Hệ phái Khất sĩ đã từng bước từng bước khẳng định tự thân và đem sức lực nhỏ bé của mình tham gia vào các hoạt động chung của Phật giáo làm cho ngôi nhà chung Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ngày càng phát triển và giữ vững vị trí trong lòng dân tộc cũng như bạn bè trên thế giới.

Và để thay lời kết, chúng tôi xin mượn lời của tác giả bài viết Nét thuần Việt ở một Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, TT.TS Thích Đồng Bổn đã viết: “Hệ phái Khất sĩ đã tạo nên chỗ đứng vững chãi trong quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam thời cận đại. Một hệ phái dù mới phát triển thời cận đại, chưa có lịch sử dài lâu, nhưng là một hệ phái Phật giáo có xuất phát điểm từ Việt Nam, mang tính cách Việt Nam, đã hòa cùng bao thăng trầm của dân Việt trong những cuộc đấu tranh chống áp bức bất công. Bằng giáo lý văn vần thuần Việt của mình, Tổ sư Minh Đăng Quang và các đệ tử của Ngài đã đi chung con đường lịch sử với Phật giáo, góp phần mình cùng với Phật giáo Việt Nam chung tay hóa giải nỗi đau, xây dựng một xã hội nhân văn bằng từ bi và trí tuệ của người con Phật, xứng đáng là một hệ phái chính danh trong ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam vậy.”

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Chơn Lý, Tổ sư Minh Đăng Quang, NXB Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2016.

2. Hệ phái Khất sĩ - Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, Hệ phái Khất sĩ, NXB Hồng Đức, năm 2016.

3. Đóa Sen Thiêng, Ni trưởng Huỳnh Liên, NXB Hồng Đức, năm 2012.

4. Bút Tích Ni trưởng Huỳnh Liên, Ni giới Hệ phái Khất sĩ, NXB Hồng Đức, năm 2014.

5. Kinh Tam Bảo, Ni trưởng Huỳnh Liên biên soạn, NXB Tôn giáo, năm 2014.

6. Tinh Hoa Bí Yếu, Ni trưởng Huỳnh Liên, NXB Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2014.

7. NT. Huỳnh Liên - Cuộc đời và đạo nghiệp, Thích Nữ Khiêm Liên, NXB Hồng Đức, năm 2015.

8. Tìm hiểu về Hệ phái Khất sĩ, Thích Giác Duyên, NXB Phương Đông.

9. Báo cáo Tăng Sự của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2016, Ni trưởng Ngoạt Liên.

2. SƯ CÔ HIỆP LIÊN

Trụ trì Tịnh xá Ngọc An, Vĩnh Long

KÍNH NIỆM DI HUẤN CỐ NI TRƯỞNG LÀ PHÁP TU GIỚI ĐỊNH HUỆ

Kính lạy Đức Tổ Sư, Tổ khai sáng Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Kính lạy Giác linh Đệ nhất Cố Ni trưởng

Kính bạch Ni trưởng đương kim Trưởng Ni giới, Quý Ni trưởng Giáo phẩm Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Quý Ni sư, Sư Cô, cùng toàn thể chư nam nữ Phật tử.

Hôm nay, ngày 19 tháng 3 năm Đinh Dậu, DL 2017, ngày tưởng niệm Đệ nhất cố Ni trưởng Niết Bàn.

Kính lạy giác linh Ni trưởng! Ngày này 30 năm trước, nơi tịnh xá Ngọc Phương:

“Người đã đi vào cõi tịch nhiên,

Nghìn thu tứ chúng nhớ thầy hiền.

Tháng ba mười chín ôi đau xót !

Mây xám phủ mờ chốn chơn nguyên”.

Dòng thời gian trôi mãi không ngừng, pháp hữu vi vô thường sanh diệt, có bao giờ có hợp mà không tan? Đã là định luật thì không trường hợp nào ngoại lệ, ngày hôm nay sẽ đi vào quá khứ, vì thời gian xóa nhòa tất cả bởi hai chữ “Vô thường”. Nhưng vô thường không biến diệt được trí: “Đại Giác Ngộ của bậc xuất trần thượng sĩ”. Lời Di huấn cuối cùng của Đệ nhất Cố Ni trưởng vẫn còn trong tâm tưởng của đệ tử, của pháp hữu môn đồ từ bây giờ cho đến mãi mãi ngàn sau:

“Ngày đã cận cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa.

Định Huệ không thiếu không thừa,

Lợi ích dân chúng, đúng vừa khả năng”.

Bốn câu thơ ấy, sau những thời khóa công phu tu tập của các Tịnh xá Ni, đảnh lễ Phật và Tổ xong, Chư Ni cùng Phật tử đọc lên bài tưởng niệm này, rồi đảnh lễ di ảnh Cố Ni trưởng.

Từ lâu, con đã thuộc làu làu lời dạy ấy, vậy mà, cho đến ngày mùng 10 tháng 3 năm Tân Mão, DL 2011, khóa tu Giới - Định - Huệ lần thứ nhất được tổ chức tại Tổ đình Ngọc Phương. Con mới thật sự nhận chân giá trị, cảm nhận sâu sắc lời Di huấn khế hợp với pháp tu truyền thống Khất sĩ, được xác chứng con đường tu tập là GIỚI - ĐỊNH - HUỆ.

Trong bốn câu thơ, GIỚI - ĐỊNH - HUỆ đặt trọng tâm ở giữa của bài thơ là hai câu:

GIỚI giữ sao trong sạch như xưa,

Trong lời Di huấn Đệ nhất Cố Ni trưởng đã dạy:

Ngày đã tận cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa.

Định - Huệ không thiếu không thừa…

Như vậy cho thấy Giới - Định - Huệ là tôn chỉ, là pháp tu của Hệ phái Khất sĩ, nối truyền Thích Ca Chánh Pháp.

Hơn ba mươi năm về trước, Đệ nhất Cố Ni trưởng đã thấy rõ pháp tu chơn truyền của Đức Tổ Sư. Ni trưởng dạy chúng ta, Giới giữ sao trong sạch như thuở ban đầu, Giới có giữ được trong sạch mới năng sanh Định, do Định mà sanh Huệ. Tu Giới, tu Định, tu Huệ được tròn đủ, không thiếu không thừa, ở mức Trung đạo sẽ đem lại lợi ích cho chúng sanh bằng con đường tuệ giác mà Ni trưởng đã thể nhập và chứng nghiệm. Chúng ta không thể dùng tri thức thế gian để suy lường, nếu chúng ta có đầy đủ thiện căn, thấu triệt Chơn lý, với sự thâm tín, thực hành rốt ráo Giới - Định - Huệ nhiệt tâm tinh tấn, một ngày nào đó, khi Ba la mật tròn đầy, chúng ta sẽ đạt được chỗ của Tổ Thầy đã trao truyền và chứng đắc.

Chúng con không dám phạm thượng đánh giá về các bậc “Đại Giác Ngộ”, bởi chúng con còn là kẻ phàm phu, sự hiểu biết còn trong vòng giới hạn. Lịch sử nhân loại cũng đã cho chúng ta biết rằng những tuyên bố của các bậc vĩ nhân, phải trải qua hàng bao thế kỷ, loài người mới theo kịp, mới biết được là đúng. Một vị cao Tăng miền Nam đã nói: “Đánh giá về một bậc chơn tu, không chỉ nhìn vào hiện tại của Vị ấy, mà phải nhìn vào hậu duệ của họ nữa. Và sự phát triển của đệ tử sau này, chính là thước đo tầm vóc về đạo đức của bậc Tổ Thầy”.

Trong bối cảnh phức tạp của xã hội vào những năm bảy mươi lăm, những áng văn thơ tuyệt tác của Cố Ni trưởng mang đầy ý nghĩa với nội dung chuyển tải bốn vô lượng tâm trong mọi thời duyên, không ngoài mục đích hoằng pháp lợi sanh. Qua bài thơ “Nếp Sống Vân Du”, Người đã thể hiện:

“Đường giải thoát gồm ba y một bát,

Đi, đi, đi học khắp bốn phương trời.

Hé túi khôn châu ngọc chứa muôn lời,

Tùy duyên tốt mà tuôn rơi pháp báu”.

Với hạnh nguyện Bồ Tát, Ni trưởng xả thân hành đạo, từ Nam ra Trung, làng mạc, vườn rừng, khắp chốn, mọi nơi đều in dấu chân Người Khất sĩ.

Bởi khuynh hướng của Người rất gần gũi với quần chúng khổ đau, chớ không phải riêng lớp người trưởng giả. Với sứ mạng thiêng liêng đem ánh sáng trí huệ giác ngộ cho đời, diệt trừ những dục vọng và nguyên nhân dẫn đến mọi khổ đau. Bằng tâm nguyện ấy Người đã không ngại thả thuyền từ, xuôi ngược bến Ta bà, đưa rước kẻ trầm luân sang bờ giác, được nêu lên trong bài thơ “Cát Ái” Người đã thổ lộ tâm tư của mình:

“Ta đã là người của chúng sanh,

Người nuôi ta để học gương lành.

Sống đây, ta sống cho muôn loại,

Ta có quyền đâu sống lấy mình”.

Đức độ Ni trưởng cao siêu vời vợi, nặng với tinh thần vị tha, lo cho Đạo, gánh vác Đời. Với hoằng nguyện ấy, Người đã được Đức Tổ Sư thọ ký:

“Người căn xưa, duyên trước vốn sâu dày,

Nối nguyện lành chuyển kiếp độ trần say,

Soi đuốc huệ, sáng tương lai nữ giới…”

Đệ nhất Ni trưởng 65 năm thị hiện, gương hạnh sáng chói với thời gian, độ sanh không ngừng nghỉ, đến lúc viên tịch mới thôi. Những lời dạy của Người chính là cội gốc tinh hoa, cho đàn hậu tấn nối thạnh dòng pháp mãi mãi trường lưu. Trước lúc Niết Bàn, bậc “Thượng Trí” kim ngôn Di huấn:

“Ngày đã cận cần tu gấp rút,

GIỚI giữ sao trong sạch như xưa.

ĐỊNH HUỆ không thiếu không thừa,

Lợi ích dân chúng, đúng vừa khả năng”.

Bốn câu thơ bao gồm GIỚI - ĐỊNH - HUỆ. Con xin thành kính đảnh lễ Giác Linh. Mong Người thùy từ minh chứng.

Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.

3. SƯ CÔ CẦU LIÊN

Tịnh xá Ngọc Long

Ý HÒA TRONG THƠ KỆ CỦA ĐỆ NHẤT NI TRƯỞNG

Gia đình, đoàn thể, xã hội, loài người, tất cả đều phải có tinh thần hòa ái, kính trọng lẫn nhau thì sự an vui, đoàn kết mới được vững bền trong cuộc sống tập thể. Thấy được sự lợi ích và cần thiết như thế nên Đức Phật, chư vị Tổ sư đều đưa ra những phép hòa kính dạy cho hàng đệ tử xuất gia và cư sĩ tại gia thực hiện trong đời sống hằng ngày.

Đệ nhất Cố Ni trưởng của Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam (nay là Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam) cũng không ngoài hoài bão làm cho Đạo pháp trường tồn, vững tiến và chúng sanh hết khổ đau, khi thực hiện chữ hòa một cách nhuần nhuyễn, hợp lý.

Sống trong tập thể, trước hết, mỗi người phải tự kiềm chế bản thân cho hòa đồng từ thân, khẩu, ý, giữ giới luật tinh nghiêm và nhất là phải có lòng từ bi, độ lượng, san sẻ nỗi khổ niềm đau với chúng bạn về mọi mặt. Ở đây, chúng ta sẽ tìm hiểu tinh thần “Ý HÒA” qua hai câu thơ của Cố Ni trưởng dạy trong bài “Đường Giải Thoát”.

“Ý thanh tịnh cùng nhau vui vẻ,

Sớt đắng cay san sẻ ngọt bùi”.

Ý ở đây là lời nói êm ái, hiền từ được thốt ra từ trong tâm hồn của người có lòng từ bi, khoan dung, hiền hòa, độ lượng, khiến cho người bớt đi đau khổ trong cuộc sống, đem lại hạnh phúc an vui. Cho nên trong Kệ Trích Lục Cố Ni trưởng dạy rằng:

“Địa ngục, Thiên đường cũng tại tâm,

Nhơn nào, quả nấy há sai lầm.

Từ bi ban rải, tiêu oan trái,

Hỷ xả hoà đồng, dứt hận sân”.

(Kệ Chơn Lý)

Làm thiện lành, phước đức, cứu giúp người hay tạo điều độc ác, tội lỗi, tất cả đều do tâm ý tạo tác, xui khiến, dẫn đường:

“Trong các pháp do tâm làm chủ,

Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên…”

(Kinh Pháp Cú)

Khi tâm ý hướng đến điều chánh chơn thì tâm hồn được an lành, sung sướng, nhẹ nhàng, trái lại, nếu tìm kiếm mưu sâu, chước quỷ, làm điều tội ác, tâm hồn sẽ lún sâu trong biển khổ, thế mới biết:

“Cũng tâm là Phật, cũng tâm ma,

Tâm chánh chơn hay hướng vọng tà.

Giải thoát luân hồi non Pháp bảo,

Trôi lăn sanh tử biển phù hoa”.

(Kệ Chơn Lý)

Sống chung trong đoàn thể, tâm ý của mình nên có tính khiêm nhường, nhẫn nhịn, luôn lắng nghe ý kiến của người khác trong mọi công việc để rút tỉa cái hay, cái tốt mới mong đưa đến kết quả hoàn thiện trong tinh thần đoàn kết, nghĩa là:

Đừng lòng cố chấp riêng tây,

Đừng lòng dung dưỡng ý này ý kia.

Ta, người, đừng tính phân chia,

Có, không, đừng tính đoạn lìa hai bên.

(Ý - Kinh Tam Bảo)

Là người con Phật, cần phải hiền tử, bao dung, dầu có bị hàm oan cũng không vì thế mà thù oán, hiềm hận, miễn sao mình trong sạch, không cần phân trần, cứ nhẫn chịu rồi “Thời gian sẽ trả lời”, hãy tin tưởng vào “Ngày mai trời lại sáng” cho tâm hồn mình được thanh thản, nhẹ nhàng trên đường tu tập, vì có nhiều lúc:

Bị nhục mạ không gây nhục mạ,

Bị oán thù không trả oán thù.

Ví như đất mẹ lặng lờ,

Âm thầm chịu đựng sạch nhơ sá gì.

(Kệ Trích Lục)

Trong cuộc sống, không làm sao tránh khỏi sự phê bình, mặc dù vua quan hay người có quyền thế trong xã hội, nếu không giữ tâm ý của mình thì sẽ không tránh khỏi sự tạo ác nghiệp. Người xuất gia chúng ta cũng thế, phải giữ tâm mình như đất:

“Dầu ai bình phẩm thế nào,

Dầu sai dầu đúng, dầu sao mặc dầu.

Giữ lòng trong sạch cần tu,

Tâm từ mở rộng suối từ chảy tuôn.

Niệm lành bao quát càn khôn,

Thương trùm vạn vật độ luôn muôn loài”.

(Kệ Trích Lục)

Riêng bản thân mỗi người hãy sống vui, sống đúng, sống lợi ích cho đạo và đời.

“Vui mà sống, dù đời đầy đau khổ,

Buồn làm chi, bạn hỡi thở than chi.

Và sầu lo nghĩ lại có ích gì,

Hãy can đảm sống những ngày hiện tại.

Đời tan vỡ, ta mau xây dựng lại,

Dù gian lao, cực khổ, chớ than van.

Tập kiên tâm, bền chí chịu nghèo nàn,

Nếu bạn muốn một ngày mai tươi sáng”.

(Vui Mà Sống)

Ý hòa là pháp học, pháp hành rất hữu ích cho tất cả mọi người trong các đoàn thể. Nhờ có ý hòa, ai cũng yêu thương, thông cảm, kính trọng nhau. Không ai còn ngã mạn tự cao, ích kỷ sống riêng mình.

Trong cửa đạo, Ý Hòa còn là điều cần thiết, cơ bản hơn nữa để cho người tu sĩ tu tâm, dưỡng tánh, mới mong trở nên người đạo đức, chơn chánh, giữ sự hòa ái tốt đẹp trong chốn Thiền môn. Có thế, đạo pháp ngày một thăng hoa mới mong đền đáp công ơn Phật, Tổ, Thầy trong muôn một.

“Sống chung Giáo hội hòa Tăng,

Không còn tư ý, mới năng thuận hoà.

Đừng làm trái ý người ta,

Đừng hay tự ý kiêu xa của mình.

Mới mong vui vẻ an lành,

Mới mong Đông độ biến thành Tây Phương”.

(Ý - Kinh Tam Bảo)

Với tâm nguyện đem cả cuộc đời mình phụng sự chúng sanh nên Cố Đệ nhất Ni trưởng đã không từ gian khổ, lèo lái con thuyền Bát nhã vượt qua phong ba bảo táp, cứu vớt kẻ lầm mê lên thuyền từ trở về bến giác. Ngài vận dụng trí lực, tâm lực, tài năng xuất chúng của mình để điều hành giáo hội Ni giới Khất sĩ phát triển về mọi mặt một cách tài tình, tỏ rạng khắp nơi không thể ngờ. Ngoài ra, những vần thơ, áng văn tuyệt tác dễ đi vào lòng người, thể hiện tâm huyết của Ngài về việc giáo dục hàng đệ tử, hoằng dương chánh pháp và giáo hóa chúng sanh thật tuyệt diệu, được lưu truyền cho hậu thế.

Ôi! Công hạnh, tài năng, đức độ của Ngài quá cao siêu tuyệt vời, không ngôn từ nào tả hết được! Con chỉ biết kính cẩn cúi đầu đảnh lễ và nguyện được nương bóng từ bi của Ngài tu học, cứu độ chúng sanh.

NGUYỆN THẮP SÁNG GƯƠNG THẦY

Chúng đệ tử vốn hàng hậu duệ,

Với tấm lòng nguyện thể lời chân.

Nhân ngày Ni trưởng thâu thần,

Vài dòng tâm huyết tri ân biển trời.

Thầy khó nhọc một đời vất vả,

Vững con đường nguyện cả thoát ly.

Hành theo nhất bát tam y,

Ba trăm bốn tám nghiêm trì luật răn.

Hàng đệ tử luôn hằng quyết chí,

Noi gương Thầy thiện mĩ sáng trong.

Kinh văn giáo lý ươm lòng,

Mở mang đạo pháp bẻ cong tánh phàm.

Thềm giới luật trừ tham dưỡng nết,

Vẫn ôn tồn bỏ mệt dồi trau.

Hai mươi bảy khóa thông làu,

Vững vàng kinh nghiệm truyền mau pháp hành.

Vì Ni chúng khai thành giáo phẩm,

Dốc quyết tâm nghiền ngẫm đạo mầu.

Thiện nam tín nữ tin sâu,

Giáo điều chơn lý làm đầu nghĩa nhân.

Các Tịnh xá trong ngần đuốc tuệ,

Ánh quang minh nguyệt quế khai bày.

Đạo đời chung lực đắp xây,

Chiếc thuyền Giáo hội hiệp vầy xương minh.

Hàng đệ tử tâm thành chí nguyện,

Làm sáng tươi đạo chuyển tâm đầy.

Hầu mong sự nghiệp bền xây,

Một lòng mạnh mẽ theo Thầy hiển dương.

 

    Chia sẻ với thân hữu:
     
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 (0 Votes)

Các bài viết liên quan

Về trang trước     Về đầu trang      In bài      Gửi Email