Đạo Phật Khất Sĩ

Panner Web HPKS  002a 980x165

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Kỷ yếu Tưởng niệm cố Ni trưởng - kỳ 5

1. LIÊN CHÂU

Tịnh xá Ngọc An

KINH DI GIÁO QUA THƠ VĂN NI TRƯởNG HUỲNH LIÊN

Kinh Di Giáo là lời dặn dò dạy bảo của Đức Phật để lại cho đệ tử trước khi Ngài Nhập diệt.

Thật ra những lời dạy bảo của Ngài để lại có đến ba Tạng giáo điển gồm: Kinh, Luật và Luận. Tuy nhiên Kinh Di Giáo là lời di chúc cuối cùng của Phật để lại chỉ bảo cho chúng Tăng con đường tu tập. Hay nói cách khác đó chính là những giới luật quan trọng và quý báu nhất mà Đức Phật để lại trước khi Ngài Nhập Diệt.

Tất cả giới luật Đức thế Tôn chế định đều là những chuẩn mực đạo đức làm nền tảng cho sự giải thoát khổ đau, cắt đứt mọi tham ái ràng buộc. Thế nên, giới luật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tu tập giải thoát. Hành trì giới luật là làm theo lời Đức Phật dạy, luôn sống với sự chế ngự của giới bổn như trong Kinh Phật dạy:

Nhơn Giới sanh Định,

Nhơn Định phát Tuệ.

Muốn cầu được trí tuệ tu thiền định và trước hết là phải giữ gìn giới luật được xem là thức ăn, nước uống để bồi dưỡng cho Pháp thân. Giới luật như tròng con mắt của chính mình, hãy thận trọng giữ gìn, nên đức Thế Tôn luôn nhắc nhở rằng: “Giới luật là mạng mạch của Phật Pháp, Giới luật còn là Phật Pháp còn, Giới luật mất là Phật Pháp không thể tồn tại”. Vì vậy chúng ta phải tư duy, xác quyết và trắc nghiệm để mỗi thành viên Tăng hay Ni trong Đạo Phật của chúng ta từng bước hoàn thiện nhân cách phẩm hạnh cho chính bản thân mình, nhằm đem lại đời sống an lạc hiện tại, giải thoát trong tương lai.

Là tu sĩ việc “thượng cầu hạ hóa”, đưa đạo vào đời là hoài bảo, xong việc dụng tâm giữ gìn phạm hạnh không bị đồng hóa bởi thế tục là đều luôn canh cánh bên lòng. Tuy nhiên với một xã hội hiện đại hóa, văn minh và pháy triển như ngày nay thì chúng ta cũng dùng chút phương tiện giáo hóa thế gian, mới hòa nhập vào cuộc sống của mỗi cá nhân, xã hội một cách hợp lý và trí tuệ.

Phật giáo đang phát triển trên khắp năm châu bốn bể, nhưng chúng ta đừng sớm hãnh diện và chủ quan mà phải nổ lực phấn đấu để bảo vệ Phật Pháp ngày càng trong sáng và lành mạnh hơn vì Phật giáo là đạo trí tuệ, đạo bình đẳng, là đạo sống cho nhân loại, không để cho một vết nhỏ làm nhòa cả trang giấy trắng. Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy: “Ma Vương ngoại đạo không ai có thể phá hại được giáo pháp của Ta, chỉ có đệ tử Ta mới làm cho giáo pháp ta bị hủy diệt”. Hoặc một câu khác rất có ý nghĩa: “Chỉ có trùng trong thân sư tử mới ăn được thịt sư tử mà thôi”. Như thế đối với một người tu sĩ, điều quan trọng nhất là phải giữ gìn giới luật, oai nghi mà tiến thân trên con đường đạo. Người mà không chịu giữ giới, oai nghi thì chẳng khác nào là người góp phần phá hoại Phật Pháp.

“Tinh đàng phước huệ xứ an lành,

Giới trải nền già đất tịnh thanh.

Thiền quán kiên trì hoa Bất thối,

Căn trần vắng lặng cõi Vô sanh”.

(Số 11 - Luật Khất sĩ)

Người hành giả tu tập phải ý thức được rằng giới luật là mạng mạch, là nhịp đập con tim, là không khí, là thức ăn, nước uống cho đời sống hàng ngày. Nếu ai không khéo nổ lực, hành trì một cách nghiêm túc e rằng đã không đem lại hạnh phúc an lạc, mà ngược lại nó sẽ trở thành sự trói buộc, đau khổ cho chính bản thân mình và cho cả Đạo Pháp.

Người mà chăm chỉ khéo giữ giới, xem giới luật là thầy dẫn đường đi trong đêm tối vô minh, người đó sẽ ngày càng bước đến sự giải thoát, sớm hoàn thiện được mọi phẩm hạnh và giá trị đạo đức của bản thân. Thân và tâm luôn cảm thấy an lạc và hạnh phúc trong mọi nơi, mọi khoảnh khắc hiện tại của chính mình. Giới luật như trái đất để chứa đựng mọi thứ. Là cái khuôn tròn của trống, để bao phủ lấy cái tiếng đầm ấm thanh tao của nó. Vì thế, chúng ta nên giữ gìn và thực hành giới luật như giữ cho bầu không khí xung quanh ta mãi tươi đẹp và trường tồn bất diệt. Có như thế ta mới làm tròn trách nhiệm của một người tu sĩ, mới giữ được những lời Phật đã truyền thừa.

2. LIÊN DUYÊN

Tịnh xá Ngọc Chiếu - Bình Thuận

ĐỜI - ĐẠO VIÊN DUNG

Thế là đã 30 năm trôi qua, ngôi Tổ đình Ngọc Phương vắng hẳn hình bóng thân thương của đệ nhất Ni trưởng. Chúng con, hàng hậu học chỉ được nhìn thấy từ dung của ngài qua bức di ảnh tưởng niệm trên bàn thờ trong chánh điện. Tuy chỉ là được chiêm ngưỡng gián tiếp nhưng lòng con cảm thấy ấm áp, kính thương và vô vàn ngưỡng mộ, tự hào về Người qua những bài thi kệ mà chúng con được học thuộc lòng từ những ngày đầu tiên cất bước ly gia nhập thân vào cửa đạo. Để rồi con tự thấy mình thật sự có duyên lành vì được làm người con Khất sĩ, được nuôi dưỡng tâm thức bằng nguồn sữa pháp ngọt lành từ lời chuyển dịch kinh văn bằng ngôn ngữ thuần việt theo nhiều thể thơ, phú… của vị Trưởng Ni giới Hệ phái.

Mỗi ngày sau giờ tụng kinh sáng, chúng con lại có cảm giác như bay bổng, như có một luồng khí nóng đang lưu chuyển trong cơ thể của mình, khiến chúng con cảm thấy mình như mạnh mẽ hơn, quyết tâm hơn trên con đường tu học khi được đọc hai câu thơ:

“Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn đạo pháp cho tình quê hương”.

(thơ Đệ nhất Ni trưởng)

Ni trưởng, một vị nữ lưu tay yếu chân mềm như những người nữ trong nhân thế, nhưng người có một sức mạnh vô hình, một ý chí kiên cường bất khuất, nói đúng hơn là Ngài có một tình yêu thương chúng sinh vô bờ, như tấm lòng của người từ mẫu bao dung, người đã dành hết cuộc đời mình cho đời cho đạo, bằng chứng là:

Khi đất nước lâm nguy, người đã đứng lên kêu gọi hòa bình, đấu tranh tư tưởng, thậm chí bằng sức lực, bằng mưu trí, bằng nhiều cuộc tổ chức xuống đường giơ cao khẩu hiệu, đòi lại sự bình yên cho dân tộc thân yêu.

Lòng khát khao hòa bình cho đất nước của Ni trưởng được bày tỏ qua bốn câu thơ:

“Bịnh này bịnh của chúng sanh,

Có hòa bình, bịnh mới lành mà thôi.

Biểu tình chạy quá xa xôi,

Xỉu rồi nằm xuống khỏe thời lại đi”. (Khai Bịnh)

Thế đó tâm hồn người liệt nữ, yêu quê hương, khao khát tự do hòa bình cho nhân loại, Ni trưởng luôn quên mình, dốc toàn tâm toàn lực cho Tổ Quốc Dân tộc thân yêu!

Con luôn nghĩ: Không hiểu sức mạnh nào khiến Người có thể vừa lãnh đạo Ni chúng tiến tu, vừa đấu tranh giành độc lập, tháo củi sổ lồng cho những cánh chim Việt. Có lẽ sức mạnh từ hạnh nguyện từ bi ba la mật của một vị Bồ tát hiện thân giữa đời thường mới có thể phi thường đến thế.

Và rồi trời không phụ lòng người, sau cơn mưa bình minh ló dạng, khắp Việt Nam giải phóng hoàn toàn, lịch sử đất nước bắt đầu chuyển sang trang mới bình yên thì cũng là lúc Ni trưởng gác lại chuyện nước non, chuyên tâm hành đạo, với lòng mong cầu đưa người ra khỏi bến mê:

“Gàu bé nhỏ nhưng lòng cố ráng,

Chí lăm le tát cạn biển trần.

Hỡi ai tâm Đạo xa gần,

Khá toan góp sức tát lần biển khơi”.

(Cầm Gào Tát Nước)

Một tấm lòng vị tha, thương người trọng pháp, Ni trưởng đã lãnh đạo Ni giới hệ phái khất mỗi ngày một phát triển về nhân sự, về học thức cả đạo lẫn đời, thế là Ni trưởng khuyến khích ni chúng đi học với mong mỏi Hệ phái mình sau này có được Ni tài, kiến thức sâu rộng để thuận duyên trong việc truyền bá chánh pháp, tiếp chúng độ sanh, phát triển ngôi nhà Khất sĩ, được vậy Ni trưởng mới an lòng:

“Trong cảnh vườn muôn hoa đua nở,

Ta lẽ nào để lỡ cơ duyên.

Vun phân tưới nước cho bền,

Chọn thêm giống quý trồng bên cây già…”

(Hào Quang Diệu Pháp)

Ni trưởng đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho quê hương nhưng vẫn không quên khêu lên ngọn đèn chánh pháp trong tâm thức hàng Ni chúng Khất sĩ. Để rồi một ngày lòng người mở hội, tâm người nở hoa:

“Đèn pháp hôm nay đã chói loà,

Liên trì đua nở lắm bông hoa.

Tuyên dương đuốc huệ thông cùng xứ,

Nhuận thắm hương sen khắp mọi nhà…”

(Mừng Giáo Pháp)

Dưới sự lãnh đạo dìu dắt của Ni trưởng, dần dần vườn thiền Khất sĩ nở đầy hoa, chư Ni Hệ phái mỗi lúc một thêm nhiều, Ni trưởng mừng vui ngắm nhìn đàn con trẻ.

Nhưng rồi cuộc thế vần xoay, thân giả hợp cũng đến hồi trả về cho tứ đại, Ni trưởng của chúng ta cũng không ngoài quy luật đó, đến lúc người phải rời xa chúng con mà ra đi về cõi Phật.

Nhưng lòng người từ mẫu bao giờ cũng thương yêu lo lắng cho đàn con dại, nên trước khi rời bỏ cuộc hồng trần này, bằng tất cả tấm chân tình, người đã sách tấn chúng con bằng bài kệ:

“Ngày đã cận cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa.

Định huệ không thiếu không thừa,

Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”.

(Lời Di Huấn)

Như một kiếp tằm nhả tơ, đến phút cuối của cuộc đời Ni trưởng vẫn đem tất cả tâm huyết, sản nghiệp tuệ giác của mình nhắn gởi truyền trao cho đàn hậu học chúng con.

Con nguyện xin khắc dạ ghi tâm lời giáo huấn của người, luôn chánh tâm trao giồi giới đức, đem một phần sức lực nhỏ bé của mình kề vai tiếp sức chư vị Trưởng bối mà tiếp tục bước đi trên con đường tu học, hành đạo, giúp đời, đền ơn Thầy Tổ, sáng đẹp Quê hương.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !

3. LIÊN NGUYỆN

TX Ngọc Thường, Vĩnh Long

CẢM TƯỞNG

Những bài kinh văn mà Ni trưởng lưu lại trên cuộc đời này, ngày nay tất cả các Tịnh xá thuộc Hệ phái Ni giới Khất sĩ vẫn thường tụng đọc trong giờ công phu tu tập mỗi thời khóa hằng ngày. Từng câu, từng chữ của lời văn, thơ dễ hiểu, dễ thuộc, giúp chúng con lắng động tâm thức của tự thân, con thấy mình như những con chim non bay lạc từ đâu tìm về được nơi tổ ấm an bình, hạnh phúc, thêm vào đó là những tiếng chuông làm cho con cảm thấy cân bằng hơn, khi mà con nhớ đến lời thơ của Ni trưởng Đệ nhất:

“Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn đạo pháp cho tình quê hương”.

Phải chăng Ni trưởng là vị Bồ tát cứu độ nhân sanh. Ngài đã thị hiện một khoảng thời gian trong những năm tháng loạn lạc chiến tranh nghèo khổ, của đất nước thời quốc nạn. Ngài từ bi như người mẹ hiền thương yêu con trẻ, bằng tấm lòng bao la vô bờ bến, nhớ nghĩ đến quê hương, đất nước, mong cho cuộc sống hòa bình đến tương lai đạo pháp, Ni trưởng đã gởi gắm tâm mình vào lời văn, câu thơ, tuy đơn giản mộc mạc, nhưng thấm nhuần tình cảm đạo vị, được diễn đạt thông qua từng quyển kinh sách do Ni trưởng biên soạn. Đó chính là tài sản mà ngày nay Hệ phái vẫn còn lưu giữ, phụng trì, tu tập. Cứ mỗi lần được mở kho báu ấy ra xem, con lại ngậm ngùi chiêm nghiệm lại mình, thì “tài sản” nào trong quyển kinh văn của Ngài con cũng thấy như một viên minh châu sáng ngời, bài học nào con cũng muốn thọ nhận, vì những lời vàng của Ngài vô cùng quý giá mà suốt đời con không thể nào “sử dụng” cho hết được. Có phải chăng vì cái thân giả hợp này, mà con lại trìu mến tài sản đó, nên con đã tập dừng lại chọn một “tài sản” trí tuệ mà Sư bà viết chủ đề về Thân.

Thân này chưa biết ra chi,

Của kia lại có chắc gì mà ham.

Bao nhiêu cho thỏa lòng tham,

Càng thâu càng đắm, càng làm càng say.

Qua bài kệ nói về Thân, hằng ngày con thường tụng, từng câu, từng chữ ấy thấm vào tâm con, con mới thật sự nhận ra rằng: Mình thật là hạnh phúc khi được xuất gia tu học, không bon chen, giữa cảnh đời được mất hơn thua nữa. Giờ đây con tự nhìn lại được chính tâm mình, và đang dần dần tiến tu trên con đường giải thoát. Con thấy rõ hơn về sự thật cuộc cuộc sống bên ngoài, họ đang đua chen từng cái ăn, cái mặc để cho cái thân nó được ấm no mà khổ vì đã mang cái thân thì ai cũng thương cũng lo cho cái thân, sợ nó đói, sợ nó thua kém người khác… nên phải kiếm tiền nuôi dưỡng, cho nó ăn ngon mặc đẹp, rồi muốn cho cái thân được che mưa, che nắng thì phải xây cho nó cái nhà, muốn đáp được những yêu cầu đó thì bắt buộc lòng tham con người phải làm nên tất cả những mưu mô tính toán, nhiều khi phải gây tạo bao nhiêu là tội lỗi, càng gây tạo lòng tham muốn lại ngày một chồng chất lên thêm. Cuối cùng ta được cái gì, rồi ai cũng chết bỏ lại, phải tuân theo luật vô thường của sự sanh, già bệnh chết, vì đã sanh ra làm người thì ai cũng một lần trải qua cái khổ của sự bệnh, chết. Ngày nay sống còn, ngày mai không biết thân này có tồn tại nữa hay không? Vì một hơi thở ra không thở vào sẽ nghìn thu vĩnh biệt, không biết nghiệp lực sẽ đưa thần thức mình trôi dạt về đâu?

Đời là bể khổ đau thương,

Sáng mai khỏe mạnh, buổi chiều ốm đau.

Tóc xanh thoáng đã đổi màu,

Đời là bể khổ có gì vui đâu.

Khi đã biết rõ thân vô thường, thì tất cả vật chất cũng chỉ là tạm bợ, một ngày nào đó thân này cũng sẽ bỏ nó mà ra đi hoặc nó sẽ bỏ thân này đi qua thân khác, cứ như vậy mà làm cho thân này phải mỏi mệt, vậy thì ngay trong giờ phút này ai ai cũng nương vào ngôi Tam bảo để lắng lòng, thanh tịnh, suy nghiệm những gì mà mình đã và đang trải qua trong một thời gian chưa định tâm ấy. Con vô cùng tri ân Ni trưởng, qua bài kệ “Thân” của Ni trưởng mà con quán chiếu tu tập hạnh xả ly.

Giờ đây trong lời kinh tiếng kệ hòa cùng tiếng chuông đã giúp một ai đó thức tỉnh quay về thực tại và nhận ra lẽ thật trong cuộc đời được, mất này…

Trong tiếng chuông chùa ngân sớm mai,

Gọi ai thức tỉnh giấc mơ dài.

Lời kinh Ni trưởng còn lưu mãi,

Ghi tạc lòng con nguyện chẳng sai.

(thơ Liên Duyên)

4. LIÊN NHƯ - DĨ AN

CHUYỂN HÓA TỰ THÂN

Chơn lý đầu tiên là khổ đế,

Dẫy đầy nỗi khổ cõi trần gian.

Sanh, già, đau, chết thêm phiền não,

Nước mắt nhơn sanh bốn biển tràn.

(NT Huỳnh Liên - Tứ Diệu Đế)

Trong cuộc sống có các mối liên hệ tương quan với nhau, và tất cả mọi việc xảy ra đều là những bài học giúp con người tiến quá và sửa mình trên bước đường tu học. Đôi khi đứng trước một biến cố, một thách đố dù thành công hay thất bại, con cũng tin rằng mọi kinh nghiệm trong cuộc đời đều là những bài học sâu sắc, chung quy lại có bốn điều mà mọi người phải gặp trong cuộc sống, cho dù là Vua chúa, Tổng thống, Thủ tướng, cho đến những kẻ bần cùng, sống đầu đường xó chợ, dù trong thời đại nào tất cả cũng đều: sanh, già, bịnh, chết đó là định luật vô thường, ở giữa dòng đời vạn biến!

Như một đóa hoa hồng đang nở khoe sắc thắm, nhưng khi hoa tàn úa, nhợt nhạt, trông thảm hại xấu xí cực kỳ, giống như vẻ lão hóa của tuổi cuối đời. Chỉ cần nhìn sự sinh trưởng, diệt vong của hoa, chúng ta có thể liên tưởng đến sự chuyển biến, chóng đổi của sắc thân, hình như quy trình sinh diệt của kiếp người, được thu ngắn và thể hiện rõ nét trên loài hoa. Những cảm giác bi lụy, khổ đau vì mất mát đó, nó đến vội vã trong thời gian, rồi có thể sẽ tan tự nhiên. Nhưng, con người không chịu thế, cứ nếu kéo vọng niệm khổ đau, hễ nó vừa phai thì ta liền ôm lại, để khổ cho lâu, để khóc cho nhiều, trong khi mình thừa năng lực để thoát ra.

Có ai trên thế gian khi mới sanh ra mà không cất tiếng khóc đầu tiên, khi phải tiếp xúc với một môi trường hoàn toàn xa lạ, ai cũng muốn mình luôn xinh đẹp vui tươi hấp dẫn. Những ước muốn nầy phần lớn không được toại nguyện. Có ai muốn già mà chết đâu, rồi tuổi già vẫn cứ đến, bệnh tật lại phải mang. Những gì mình muốn mà không được, những gì không muốn lại đến, nhưng phải chấp nhận đều thuộc là khổ. Trong đời mình phải gặp gỡ chung sống với người mà mình không ưa, không yêu mến, điều nầy thật không dễ chịu chút nào. Trong khi những gì mình yêu thương trìu mến, thì lại phải chia xa cách trở. Dù không rơi nước mắt nhưng trong tim cũng nhói đau vì phải xa rời người thân, hay nơi ở, đó là cái khổ của sự chia ly. Lại có những nỗi đau do thay lòng đổi dạ, như từ yêu thành ghét, từ thương thành giận, từ bạn thành thù… Những bịnh khổ, chết khổ, luyến ái khổ, biệt ly khổ, những nỗi khổ cứ chồng chất lên nhau thành một bể khổ!

Cho đến một ngày nào đó hiểu được lý vô thường, thì tự nhiên cuộc đời sẻ trở nên an nhiên tự tại. Nghĩa là mình tìm thấy an lạc thảnh thơi trong lòng là lúc cuộc đời tĩnh lặng nội tâm được bình an, chính là biết buông xả không chấp thủ, vượt qua những yếu điểm của chính mình và của hoàn cảnh, không nhu nhược nản lòng, cũng không hơn thua đấu tranh với người khác, mà phải dám từ bỏ bản ngã ích kỹ hẹp hòi, tu giới, định, tuệ, để thắng tâm vọng tâm. Kinh Pháp Cú do cố Ni trưởng dịch có đoạn:

“Thắng người đâu sánh thắng mình,

Chiến công tự thắng liệt oanh trên đời.

Thắng người đâu sánh thắng mình,

Thắng mình chế ngự dục tình cao siêu.”

Thấy được cuộc đời là vô thường, nên chúng ta phải tránh xa ngũ dục lục trần, không để bát phong nhận chìm, thoát khỏi những bức xúc của dòng đời đảo điên, nhận thức rõ ràng nếu như trên vũ trụ luôn “sinh, trụ, dị, diệt” thì con người cũng “sanh, lão, bịnh, tử” và một năm thì cũng có “xuân sanh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn” bốn mùa đắp đổi thay nhau. Đệ nhất Cố Ni trưởng có dạy:

“Xa rời hào nhoáng đẹp xuê,

Xa rời những chỗ si mê dục tình.

Chú tâm thiền định tịnh thanh,

Vững vàng phát triển hạnh lành quả cao”.

Con thành kính tri ân Ni trưởng đã chuyển những bài Kinh thành những bài kệ ngắn bốn câu cho chúng con dễ học, tu. Nhờ bài kệ Tứ Diệu Đế của Cố Ni trưởng, con quán chiếu được khổ, nguyên nhân sinh khổ, con cố gắng làm tròn bổn phận một Tu sĩ, không chạy theo những ảo ảnh phù du luôn sống trong chánh niệm tỉnh thức, thắp sáng ngọn đuốc tuệ giác tự nơi thân để soi sáng mọi nơi. Nguyện mãi mãi là người con Phật, sống đúng trong giáo lý Phật Đà nương mình trong Chánh pháp, uống dòng nước Pháp, mà “truyền đăng tục diệm” nối tiếp hậu lai, không phụ lòng quý Ngài chỉ dạy, hầu đền đáp phần nào trong bốn ân sâu.

5. LIÊN THIỀN

Tịnh xá Ngọc Lộ

CẢM TƯỞNG THƠ ĐỆ NHẤT CỐ NI TRƯỞNG

Ngược dòng quá khứ cách đây 70 năm, Cố Ni trưởng Đệ nhất Trưởng Ni giới HPKSVN đã góp phần làm vẻ vang đạo pháp, đi theo con đường “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp” của Phật Tăng xưa. Gương hạnh Ni trưởng không những đã ghi vào trang sử Đạo một hình ảnh mang đậm tính dân tộc, mà còn để lại cho hàng hậu học chúng con những bài thơ, bài văn tuyệt tác, toát lên vẻ thoát tục của bậc Nữ lưu Khất sĩ, khiến chúng con ngày nay mãi mãi khắc ghi trong tâm khảm. Đặc biệt là ý chí của người đã được HT Từ Thông đề bút tán dương:

“Chí bất khuất vì Hạnh Phúc Tự Do

chiếc áo Khất sĩ làm vẻ vang trong Ni giới

Nguyện kiên cường cho Hòa Bình Độc Lập

tấm thân Nữ lưu nêu gương sáng chốn Tòng lâm”.

Thật đúng vậy, Cố Ni trưởng Đệ nhất là Trưởng tử Ni của Đức Tổ Sư, Người được Tổ Sư giao phó lèo lái con thuyền Liên Hoa Khất Sĩ, bằng hạnh nguyện làm chiếc thuyền chở che phái Nữ qua sứ mạng kế thừa đạo nghiệp của Đức Tổ Sư. Người đã lãnh đạo Ni đi hành đạo khắp hai miền Nam Trung, từ thành thị đến xóm làng, nơi nào cũng có dấu chân Ni trưởng. Bằng hình ảnh một Sư Nữ thân tướng oai nghiêm, Người thuyết pháp, giảng kinh, khất thực… Người độ cho hàng cư sĩ tại gia tu tập, tạo công đức bố thí, cúng dường, gieo duyên với Phật Pháp.

Những năm chiến tranh, Đệ nhất Ni trưởng đã anh dũng dẫn Ni đoàn xuống đường đòi hòa bình cho dân tộc. Công hạnh viên mãn của Người được gói trọn trong hai câu thơ bất hủ khiến người người đọc đến đều hết lòng khâm phục khi tưởng nhớ về Người:

“Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn đạo pháp cho tình quê hương”.

Với Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Ni trưởng như ánh thái dương soi sáng cả bầu trời, chiếu khắp cả muôn loại. Chúng con được biết, trong những lúc đi hành đạo, Đệ nhất Ni trưởng quán thấy căn cơ chúng sanh bất đồng, người căn cơ cao sâu, kẻ căn tánh thấp kém, sự hiểu biết sai khác, nên Người mới quyết định chuyển dịch Kinh sách từ tiếng Hán và tiếng Pali ra tiếng Việt theo lối văn vần dễ hiểu, dễ đọc tụng, để quần chúng trong mọi tầng lớp đều có thể tụng đọc dễ dàng, qua đó giúp họ thấm nhuần giáo lý Phật Đà, như Kinh Di Đà, Kinh Phổ Môn, Kinh Báo Hiếu, Kinh Vu Lan, Kinh Hồng Danh Sám Hối... Ni trưởng còn viết diễn đạt ý của Đức Tổ Sư thành nhiều bài kệ tụng thật mộc mạc dễ hiểu nhưng ý tưởng thâm sâu, nhờ đó dễ đi vào lòng người, Người cũng để lại cho hàng hậu học hơn ba ngàn bài thơ, bài kệ đủ thể loại. Thơ của Người phần nhiều là do cảm hứng, tức cảnh làm thơ, Người có một tâm hồn nhạy cảm của một người yêu thơ, có thể đặt bút là dòng thơ tuôn trào trong mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng: Thơ trong đấu tranh, thơ trên đường hành đạo, thơ giáo hóa chúng sanh… Có thể nói, thơ văn của Ni trưởng là phương tiện hoằng đạo rất hiện thực. Do vậy, thơ và đạo của Người rất hài hòa, hỗ trợ cho nhau như hình với bóng, điều này đã nêu rõ trong bài Văn Với Đạo:

“Văn có Đạo cội bền cây tốt,

Đạo nương Văn ý tột lý mầu.

Lá cành sầm uất bền lâu,

Văn chương Đạo đức cùng nhau độ đời.

………………………………………..

Pháp thâm diệu Văn từ thâm diệu,

Văn phi thường Pháp hiểu phi thường.

Văn truyền Pháp hiển hoằng dương,

Văn phò lấy Đạo một đường dung thông”.

Hoặc đối với tình thương vạn loài, Người luôn thể hiện bằng tình cảm chân thành, thắm thiết qua bài Hoa Tình Thương:

“Có những việc làm không bao giờ thất bại,

Đó là việc làm ban rải tình thương.

Những đoá hoa đẹp sắc thơm hương,

Những màu da, những tiếng nói, những tình thương gom kết.

Mỗi màu hoa, đẹp ra mỗi nét,

Mỗi tấm lòng, mỗi xúc cảm chân thành.

Mỗi bầu trời, mỗi vẻ đan thanh,

Hội đủ nét hoạ nên tranh lịch sử”.

Lại nữa, để khuyến hóa hàng đệ tử chuyên lo tu tập, đoạn trừ tham, sân, si, ba món kiết sử phiền não làm nhiễm ô người sống đời thoát tục, nên Ni trưởng đã cảnh tỉnh Chúng Ni phải xa rời những lối sống trần tục để đạt đến con đường giải thoát, như trong bài Khuyến Tu:

“Chen lấn dầu ai giữa thị thành,

Riêng mình tự tại cõi vô tranh.

Sông mê sóng bủa cơn rùng rợn,

Biển khổ bèo trôi kiếp mỏng mành”.

Có lúc Người còn khuyên đệ tử trên đường hành đạo, nên hành Tứ Y Pháp, gieo duyên với mọi người để sách tấn cho họ hoàn thiện đạo đức, hầu tiến đến con đường Chân Thiện Mỹ, như trong bài Khất sĩ, Người miêu tả rất sinh động:

“Khất sĩ hạnh ta bà,

Tiêu diêu đường tự tại.

Không danh lợi cửa nhà,

Không của tiền con cái.

Đỡ lòng một bát cơm,

Che thân ba tấm vải.

Đầu đội nón càn khôn,

Chân mang giày thế giới”.

Hoặc trong bài Khuyên Con, Ni trưởng đã ân cần khuyên nhắc:

“Lên đường hành đạo độ sanh,

Những mong phước đức để dành cho con.

Tấm thân chừng đã gầy mòn,

Cõi lòng thêm nỗi héo von khổ sầu”.

Ngoài ra, bằng hình ảnh so sánh, ẩn dụ sinh động, Ni trưởng đã giải thích những vấn đề phức tạp trở thành đơn giản, để cho đệ tử thấy rằng trên bước đường hành đạo sẽ gặp những chông gai, nghịch cảnh, mà người con Phật phải trải nghiệm qua, mới mong thành chánh giác, hình ảnh cụ thể này được diễn đạt rất rõ nét trong bài Sức Chịu Đựng:

“Sức chịu đựng ai bằng quả đất,

Để trần gian chứa chất nặng nề,

Hỡi rừng, hỡi suối, hỡi khe,

Hỡi cây, hỡi đá, hỡi xe, hỡi thoàn.

Cam chịu đựng muôn vàn sức nặng,

Chất bao nhiêu quyết chẳng nản lòng,

Vì đời âu phải ra công,

Vì đời âu phải gánh gồng bọc bao”.

Không những tô bồi, dựng xây cho hàng Ni Chúng sức kham nhẫn vì tha nhân. Với hạnh tu Khất sĩ hòa cùng hạnh nguyện độ sanh, rày đây mai đó, không ở một chỗ, không dừng nghĩ dù chỉ một lần, lấy đời sống của chúng sanh làm niềm vui của mình, bốn phương trời làm nơi trú ngụ, không nhà cửa, cũng không ruộng vườn, sống đời giải thoát, Ni trưởng đã cảnh tỉnh hàng đệ tử hằng tâm niệm, ta sống đây là sống cho nhân loại, ý chí này được thể hiện qua bài Nếp Sống Vân Du:

“Cảnh dầu đẹp, ở hoài cũng hết đẹp,

Người dầu thân, gần mãi cũng thôi thân.

Một tàn cây, không dừng nghỉ hai lần,

Nghe Phật dạy, cho tâm hồn thanh thoát.

Đường giải thoát, gồm ba y một bát,

Đi, đi, đi học khắp bốn phương trời.

Hé túi khôn châu ngọc chứa muôn loài,

Tuỳ duyên tốt mà tuôn rơi pháp báu”.

Người còn nhắc nhở mọi người luôn thấy cuộc sống của mình được an lạc trong nếp sống hóa duyên, nên trong bài Sen Gương, Ni trưởng đã ân cần dạy bảo:

“Thiền trà vị đắng mùi thơm,

Thân tuy khổ hạnh tâm hồn thảnh thơi

Nghiêng vai gánh Đạo vào đời,

Cho đời tỏ Đạo ta người đồng tu”.

Với hình ảnh nhân cách hóa mang tính cách giản dị, lạ thường, kết hợp dòng thơ ngọt dịu, nhẹ nhàng, nhưng đã thấm đượm sâu sắc vào lòng người đọc, Ni trưởng đã khuyến khích chư Ni trong mọi công việc qua bài Bàn Tay Đẹp:

“Bàn tay đẹp là bàn tay trắng muốt,

Ngón búp măng, móng chuốt nhuộm màu son.

Dáng thanh thanh da mát mịn mềm non,

Để dành ngắm, để dành tôn để mộng? ? ?

Không! Bàn tay đẹp là bàn tay “lao động”,

Chuyển đường gân dâng sức sống cho đời.

Hiện khắp nơi và ở khắp nơi nơi,

Như đất nước như khí trời vũ trụ.

Bàn tay đẹp là bàn tay “nông vụ”,

Đem sức người tranh đấu với thiên nhiên.

Biến tấc vàng trong tấc ruộng bùn đen,

Đổi hạt ngọc, mồ hôi chen thánh thót”.

Đối với hàng Phật tử tại gia, Ni trưởng lại khuyên đem tình thương, mở lòng từ bủa khắp đến muôn loài chúng sanh, dù loài nhỏ nhít, côn trùng. Ni trưởng dạy không nên giết hại hoặc xúi người giết, vì sinh mạng của chúng cùng ta đều như nhau, đều muốn sinh tồn, nên trong bài Giới Sát, dạy rất tỉ mỉ:

Muôn loài nào khác chi ta,

Cũng cần sanh sống, lánh xa tai nàn.

Có cha mẹ, có họ hàng,

Kết bè sinh hoạt, hiệp đoàn tương thân.

Ta đừng giết nó mà ăn,

Cũng đừng bắt nó trói trăng giam cầm.

Bẫy câu chước độc mưu ngầm,

Làm cho chúng nó âm thầm đớn đau.

Lạc bầy dớn dác xôn xao,

Lại e cái nạn thớt dao hầu gần.

Mình có thân, nó cũng thân,

Nuôi mình giết nó, nào cân công bằng.

………………………………

Ruột rà ai cắt chẳng đau,

Tình thương ai dứt chẳng xao gan vàng”.

Và thực tế hơn nữa, trong bài Ngũ Phước còn biểu hiện sức cảm hóa cụ thể, đó là Ni trưởng dạy cho chúng sanh biết được tội phước của mình, gieo nhân nào thì gặt hái quả đó, qua năm giới cấm mà người Phật tử tại gia thọ nhận:

“Kẻ không sát sanh,

Được khương minh thọ mệnh.

Kẻ không trộm tham,

Được giàu sang hưng thịnh.

Kẻ không tà dâm,

Được người đời yêu kính.

Kẻ không vọng ngôn,

Được thêm nhiều uy tín.

Kẻ không say sưa,

Được sáng tâm tỏ tánh”.

Đặc biệt là đối với việc bố thí, cúng dường, không nên cầu phước báu, danh lợi, vì cầu như thế là tăng trưởng lòng tham. Thay vào đó, mỗi lần phát tâm cúng dường bố thí, mục đích chỉ mong mình giảm bớt tâm tham để dễ bề tu tập mà thôi, như trong bài Cúng Chùa Không Cầu Phước, Ni trưởng dạy rất rõ:

“Con cúng Chùa không mong phước đức,

Mà chỉ mong tiêu dứt tội duyên.

Tham lam nhiều kiếp vô biên,

Cầu xin hành phạt cho yên tấc lòng”.

Nói chung, Ni trưởng luôn dạy cho môn đồ cũng như hàng Phật tử, muốn tu tập thì phải thực hành Giới, Định, Tuệ. Vì Giới, Định, Tuệ là đạo lộ đưa người đến bờ giải thoát Niết Bàn. Thế nên trong bài Giới, Ni trưởng đã khuyến tấn rằng:

“Nhịn nhường là giới đầu tiên,

Kìa chư Phật vẫn nhắc khuyên ta hoài.

Kẻ mong lìa bỏ trần ai,

Mà còn phiền giận thật ngoài chữ tu”.

Và Người cũng hằng nhắc nhở hàng đệ tử phải cố gắng tu tập để đền đáp công ơn Phật và các bậc Tổ Thầy, như trong bài Nhớ ơn Phật:

“Đời chen lộn ngàn đường tội lỗi,

Ta bước riêng một lối thanh cao.

Đạo vàng quí báu biết bao,

Vừa mình tu tỉnh, vừa trau sửa người!”

Không những Ni trưởng quan tâm, lo lắng cho hàng đệ tử, mà Người còn đồng hành với nhân dân, đất nước kiến tạo nền hòa bình, như trong bài Khúc Thanh Bình:

“Dầu tu sĩ cũng công dân đất nước,

Vì tình thương vì Đạo đức đấu tranh.

Cho Tự do trong Độc lập Hoà bình,

Cho Hạnh phúc trong phồn vinh vĩnh cữu”.

Thậm chí Ni trưởng còn quan tâm đến mọi nỗi khổ đau của người dân trong từng hoàn cảnh, nên trong bài Giọt Sữa Tình Thương, Người đã thố lộ tâm tư cảm thương người dân rất chân tình:

“Giọt sữa tình thương thấm cõi lòng,

Đạo Đời liên kết lý dung thông.

Kẻ đang xót khổ, người đang khổ,

Giọt sữa tình thương biển đại đồng”.

Chính vì ý thức được điều này, nên Ni trưởng luôn thể hiện rõ mình là bậc Thầy mô phạm, soi đường dẫn bước đưa chúng đệ tử đi theo con đường hòa cùng dân tộc, kiến tạo hòa bình, từ bi, vô hại đúng với bổn hoài của Đức Phật, nên trong bài Tôi yêu Phật giáo Việt Nam người đã tâm nguyện rằng:

“Tôi yêu Phật giáo Việt Nam,

Là vì Phật giáo không làm hại ai.

Trên đường du nhập xa dài,

Không khai đường máu, mà khai tâm lành”.

Tóm lại, thơ văn của Đệ nhất Ni trưởng quả là chứa chan một nguồn đạo sống động. Mỗi bài thơ là dòng tuôn chảy vào lòng người như từng giọt sữa cam lồ, làm mát mẻ, thấm nhuần tinh thần “Từ Bi Bình Đẳng” của người con Khất sĩ nói riêng, và người con Phật nói chung. Mạch thơ không những phong phú, mà ý tứ lại càng sinh động sâu sắc hơn. Vì thơ Ni trưởng sáng tác rất linh hoạt, đa dạng. Có thể nói, mỗi ý thơ như dòng chảy quyện vào dòng đời, lại như những cánh nhạn tung bay khắp phương trời. Chính nhờ những vần thơ bất diệt của Người, đã đem lại ánh sáng giác ngộ cho đời, tạo cho nguồn đạo sáng ngời muôn vẻ. Lại nữa, ý thơ của Người như giòng suối trong lành, làm mát mẻ tâm tư vạn loại chúng sanh, như ánh trăng rằm, chiếu rọi đến khắp nơi giúp bao người thoát khỏi bóng mê, tiêu trừ khổ não. Đặc biệt hơn nữa, thơ của Người còn nêu cao đức hạnh phi thường của bậc Bồ tát trên đường độ sanh. Nên nói, cả cuộc đời Cố Ni trưởng luôn cống hiến chẳng biết mỏi mệt, không hề chán nản, sẵn sàng hy sinh cho đạo pháp, cho tổ quốc, quê hương. Người là ngọn đèn trí tuệ soi đường dẫn lối cho đàn hậu bối chúng con tiến bước, Người còn là một nhà tôn giáo yêu nước, góp phần tích cực vào công cuộc lập lại Hòa bình cho dân tộc Việt Nam.

Ngày nay, tuy Đệ nhất Ni trưởng không còn nữa, nhưng những vần thơ bất hủ ấy còn lưu mãi trong tâm khảm chúng con và mãi về sau. Chúng con nguyện cố gắng tu tập, để không phụ công ơn giáo dưỡng sâu dày của Cố Ni trưởng, và cũng không quên công ơn to lớn về sự nghiệp dựng xây hình thành nên một Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam. Kính Bạch Giác linh Đệ nhất Cố Ni trưởng, những lời văn của con hôm nay không sao diễn tả hết được cảm xúc trong con. “Vì rằng hạt cát nhỏ không làm nên sa mạc” con xin thành tâm sám hối Giác linh Người. Cuối cùng con xin thành tâm đảnh lễ Giác linh Đệ nhất Cố Ni trưởng.

6. LIÊN HỶ

Chùa Vạn Hạnh

KHẤT SĨ

Trải qua 2500 năm lịch sử, gót vân du của đức Phật đã in trên con đường sỏi đá Ấn Độ với hạnh trì bình khất thực hóa duyên độ đời, một vẻ đẹp oai nghiêm, thanh thoát với chiếc y vàng ôm bát đi khất thực, đã lưu lại trong lòng nhân loại một hình ảnh nhớ mãi không quên. Và rồi về sau, nét đẹp trì bình khất thực dường như mờ dần theo năm tháng, bởi thời kỳ Phật Giáo phát triển đã hình thành rất nhiều môn phái, nên gương hạnh xưa đã bị lãng quên đi. Nhưng hay thay đức Tổ Sư của chúng ta đã phục hồi trở lại với tông chỉ “Nối truyền Thích Ca chánh Pháp” kết hợp tâm nguyện “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Tiếp bước và noi theo bước chân hành đạo của Đức Phật, suốt quá trình tu tập và hành đạo, Tổ đã để lại cho những người con Khất sĩ nói riêng và cho đời nói chung bộ Chơn Lý thật xúc tích và cô đọng, trong đó đã vạch rõ phương hướng tu tập và hoằng đạo giúp cho hàng hậu tấn chúng con dễ dàng áp dụng trên đường tiến tu giải thoát.

Đặc biệt hơn nữa, trong bộ Chơn Lý từng lời dạy chân tình, thắm thiết đã phản ánh và nêu cao công hạnh người Khất sĩ hy sinh chịu sống cực thân, để lo tô đắp nền đạo cho thế gian. Vậy Khất sĩ là gì? Tổ định nghĩa: Khất nghĩa là “Xin”, lẽ xin là Chơn Lý võ trụ mà chúng sanh kẻ xin vạn vật để nuôi thân, người thì xin Pháp để nuôi trí. Như Chơn Lý Khất sĩ Tổ Sư đã dạy: Đất xin nước, đất mới sống khỏi chết khô. Cỏ cây xin đất nước mới sanh chồi mọc nhánh. Thú xin đất nước cỏ cây mới có đi chạy. Vậy xin như thế nào mới đúng? Tổ cho rằng có hai cách xin: Xin vật chất và xin tinh thần.

1. Xin vật chất (vạn vật) để nuôi thân như cơm, áo, thuốc men, tiền bạc… bất cứ những thứ làm phương tiện giúp cho mình và nuôi sống người gọi là vật chất. Những vật chất mà mình không trộm cắp hoặc tự tay mình làm ra, đó mới là xin đúng cách.

2. Xin tinh thần (các Pháp) để nuôi trí: có đủ thân trí mới sanh tâm là Phật, từ xin để nuôi thân như cỏ, cây, thú, đến lần xin để nuôi trí là người, trời, Phật.

Thí dụ người học trò ngày nào cũng cắp sách đến trường để xin học những kiến thức của ông thầy để nuôi trí, đó cũng chính là xin tinh thần đem lại sự thấy, nghe, hiểu, như thế con người mới nhận định được cái đúng cái sai, cái thiện cái ác nên gọi là nuôi trí. Xin trí thì có trí thiện và trí ác, nếu chúng ta dùng trí thiện để giúp đời và mình thì đó mới là xin tinh thần đúng cách.

Sĩ nghĩa là “Học trò”, nhưng học ở đây không có nghĩa là chỉ học trên sách vỡ, mà còn phải học hỏi rất nhiều trên nhiều phương diện: học về cái gì?

Học là học cái thiện, học cách làm người toàn diện và nhất là học làm Phật, đó mới là thành quả của một học trò. Vì quả Phật là cao nhất viên mãn được mọi người xưng làm thầy, lúc đó gọi là vô học. Vậy Khất sĩ là học trò đi xin ăn để tu học, vì xin ăn mới đặng tránh cái giả dối, tội lỗi: sát sanh, trộm cắp, danh vọng, địa vị…

Không những thế mà còn phải buông bỏ mọi thứ để nuôi sống thân theo tinh thần an phận, tri túc và thiểu dục, vừa lòng với những gì mình có. Đó là chánh nghiệp của người xuất gia bằng cách khất thực chơn chánh.

Vậy khất thực chơn chánh là như thế nào?

Khất sĩ xin ăn mà chẳng bao giờ than vãn, không có gì hết cũng chẳng than nghèo, đầu đội trời, chân đạp đất, sương màn cỏ chiếu mà chẳng hề biết chán nản.

Trì bình khất thực hạnh thanh bần,

Lều vắng tàng cây tạm trú chân.

Giải thoát cảnh đời xa vật chất,

Giản đơn nếp sống nhẹ tinh thần.

(Kệ Chơn Lý - Đạo Phật)

Người khất sĩ xin thức ăn với tâm thanh tịnh và xả bỏ tam độc (tham, sân, si). Tức trong khi khất thực phải giữ cho tam nghiệp thanh tịnh. Thân thanh tịnh với dáng đi thong dong tự tại, đầu trần chân đất với chiếc y vàng cùng bình bát, mỗi bước chân không nhanh không chậm luôn chánh niệm khi đi. Quan trọng hơn nữa, trong Chơn lý Khất sĩ, Tổ còn chủ trương rằng: Đi xin để đem thân làm ruộng phước tốt đẹp cho kẻ mong cầu cúng thí đặng gieo giống Phật, diệt lòng ma.

Đối với khẩu luôn giữ im lặng trong khi đi, không nói lời xin xỏ, không nói lời nịnh hót và giữ cho khẩu luôn thanh tịnh. Tổ cho rằng: Chính sự không nói làm sái quấy là phân chất nước trong tốt đẹp, để cho người xem thấy đó mà nảy phát thiện huệ, chơn tâm, hột giống đặng đem gieo trồng có chỗ tưới vun.

Về ý luôn nghĩ điều tốt và nhớ ơn người cúng dâng, luôn luôn tâm nguyện sống, làm, nói, nghĩ tất cả vì chúng sanh. Trong khi khất thực chúng ta niệm tưởng thức ăn như thuốc chữa bệnh cho cơ thể có sức, thì tâm chúng ta không khởi niệm tham luyến thức ăn. Khi không còn tham luyến thức ăn cho dù người ta có cúng gì cũng không khởi niệm chê bai xấu tốt, cái này ăn được cái kia không ăn được. Như lời dạy của Đệ nhất Ni trưởng:

Khất thực không nài vật uống ăn,

Mặc y phấn tảo hạnh thanh bần.

Tàng cây, nhà vắng, tu thiền quán,

Rễ lá sơ sài, dụng thuốc thang.

(Kệ Chơn Lý - Chánh pháp)

Nói chung, người Khất sĩ trên đường khất thực hóa duyên, trong tâm thức chẳng bao giờ khởi niệm khất thực là người bần cùng xấu hổ, phải luôn tâm niệm đó là phương tiện hành đạo. Thế nên nói, Khất sĩ là bậc tối thượng vô song là pháp môn của bậc Thánh hiền, chứ không phải như những kẻ khất cái ăn xin, gào thét, xin cái để ăn rồi luân hồi nghiệp báo làm trâu ngựa để trả nợ. Chính cái dốt nát, mê muội ấy nên khất cái là hạng mạt lưu. Còn Khất ở đây là hạnh của chư Phật ba đời, hạnh của lòng bao dung, khiêm hạ, vô ngã, vị tha, thực hành lục độ để cứu đời. Thế nên Tổ nói: Khất sĩ để làm gương không không, tránh khổ cho người giác ngộ. Khất sĩ để cảm hóa kẻ ác, dạy dỗ người thiện.

Nói cụ thể hơn, đối với hạnh khất thực, Tổ đã quan niệm, người Khất sĩ, đi xin là để thể hiện những tâm nguyện như sau:

1. Xin để nhắc chúng sanh hạnh bố thí và noi theo.

2. Xin để ăn một bữa nhắc chúng sanh biết tiết độ thức ăn và hợp với giới luật ăn ngày một bữa ngọ.

3. Xin để có cái ăn nuôi sống bản thân, mới có sức khỏe tu hành tinh tấn, hằng nhắc cho chúng sanh biết thức ăn chỉ lạ cõi tạm còn tinh tấn tu hành mới là trọng yếu.

4. Xin để hạ thấp bản ngã của mình giúp chúng sanh noi theo hạnh nhẫn nhục.

5. Xin để thân giáo cảm ứng với chúng sanh tạo điều kiện cho họ sanh lòng tín tâm. Cảm ứng bằng tâm mục đích để truyền dạy cho chúng sanh Pháp thiền định tương ưng.

6. Xin để nuôi trí từ phàm tiến đến thánh. Xin theo tinh thần Lục độ của Bồ tát cho nên khất thực không phải là hèn hạ mà là cao thượng của bậc thánh.

Như lời Tổ dạy trong Chơn lý Khất sĩ: Chính sự xin Pháp bảo để ăn, xin lòng tốt của người để sống, xin vật thiện để dùng, cái xin ấy mới ích lợi cho đời hơn hết, thiện chớ không phải ác.

Với quan điểm trên, Ni trưởng đệ nhất đã khái quát tinh thần khất thực cao thượng qua bốn câu kệ như sau:

Một bát muôn nhà độ chúng sanh,

Cô thân ngàn dặm bước du hành.

Đường mê sanh tử lầm hang tối,

Ánh đuốc quang minh hướng đạo lành.

(Kệ Chơn Lý - Khất sĩ)

Từ lời dạy của Tổ cho đến thâm ý bài kệ của Ni trưởng nhằm giúp chúng ta ghi nhớ bát cơm của đàn na tín thí vô cùng sâu nặng, không những thế còn nêu cao lý tưởng tốt đạo, đẹp đời của hạnh xin ăn từ người Khất sĩ. Bởi vì mỗi bước chân trên dặm đường hóa duyên của người Khất sĩ, tuy sống đời bần cùng mà hạnh phúc, an lạc, tất cả chỉ để diệt đi bản ngã và phá tan tham, sân, si trong tâm, nhằm thắp lên ánh đuốc trí tuệ soi sáng con đường hành đạo. Vậy nên, Tổ đã khẳng định quan điểm đi xin trong Chơn Lý Khất Sĩ rất đặc sắc: Đi xin để giải thoát phiền não, và để un đúc tâm hồn, rèn luyện chí hướng, tập sửa bản năng. Có đi xin mới có từ bi hỷ xả, trí huệ thông minh, cõi lòng mát dịu, rộng mở bao la, lặng yên sạch sẽ.

Tóm lại, người Khất sĩ hành trì hạnh nguyện khất thực chân chánh, đó mới là lối sống chân chánh theo tinh thần chánh nghiệp trong Bát Chánh Đạo mà chư Phật đã dạy. Bởi vì, Khất thực là một pháp môn gieo duyên với chúng sanh dần đưa họ đến thiện nghiệp từ đó tin Tam Bảo. Có như vậy ta mới truyền trao cho họ pháp tu giải thoát đến bờ bên kia. Đó là xứ mạng của một người Khất sĩ. Cho nên, Tổ dạy: Giáo lý của Khất sĩ là trung đạo, chánh đẳng chánh giác vô thượng, cốt yếu để đem lại chữ hòa cho muôn loại, xin cái cao ban vào cái thấp để tạo sự bằng thẳng giữa cõi đời… Xin cái tham lam, sân giận, si mê là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh để đưa người lên cõi người, Trời, Phật Thánh.

Như vậy khất thực suy cho cùng chính là phương tiện để giúp Tu sĩ chúng ta có được một đời sống giải thoát, tạo nên tiền đề cho việc cầu chơn lý, lợi đạo ích đời. Qua hình ảnh khất thực hóa duyên vừa xin, vừa cho, vừa dạy, vừa học theo chủ trương của Tổ xin vật chất và tinh thần, sống đời phạm hạnh và thiểu dục tri túc với mục đích xây dựng con người ngày càng toàn diện hơn, đưa con người tiến dần từ phàm đến Thánh.

7. LIÊN YÊN

TX. Ngọc Lộ

ĂN CHAY

Trong Phật giáo sự thể hiện tinh thần từ bi bình đẳng, hạnh nguyện lợi tha, không gì vẹn toàn bằng chủ thuyết ăn chay. Nói rõ hơn, ăn chay mục đích là nêu cao tình yêu thương giữa người và vật, và cũng để thể hiện tinh thần tôn trọng sự sống, yêu thương và không tổn hại lẫn nhau. Do vậy Tổ sư trong Chơn Lý - Ăn chay đã dạy: “Chúng ta nên nhớ, chữ nhơn đạo là lòng nhơn, trước nhứt chớ giết hại người, đến loài thú, lần đến cây và đến cỏ, ta tập lần nhơn đạo, mà phải háo sanh… nuôi thân bằng thiện nghiệp, sống theo chánh mạng. Muốn không giặc giã thì đừng làm gương giết hại”.

Ni trưởng Đệ nhất cũng có dạy:

Mỗi người phải cữ sát sanh,

Xót thương loài vật lòng lành ăn chay.

Theo luật sống chẳng ai được giết,

Không sanh người sao diệt mạng người?

Lập nên luật sống ở đời,

Bảo tồn mạng sống các loài nhỏ nhen.

Ngoài ra, ăn chay còn giúp chúng ta ít sanh bịnh tật, giúp thân tâm thanh tịnh, đây cũng là nấc thang đầu tiên trên con đường nuôi dưỡng lòng từ bi và tránh được quả báo luân hồi. Đạo Phật là đạo từ bi, bình đẳng Phật dạy tất cả chúng sanh đều có Phật tánh như nhau. Vậy thì dười tầm mắt của mình, không nên thấy người và vật khác nhau, mà chỉ thấy đồng một tri giác bình đẳng, ẩn chứa trong thân hình sai biệt. Nên ở đoạn khác trong Chơn Lý - Ăn chay, Tổ đã khuyến tấn: “Thân người, thân thú in nhau, đều là tứ đại, hoặc may có khác là chỉ tại lòng nhơn có hay không mà thôi. Nhơn đạo không phải là gia đình hay xã hội mà là đạo tâm nhơn ái, thiện lành không sát hại”.

Trong bài kệ Giới sát, Ni trưởng Đệ nhất cũng với ý này:

Làm người là có lòng nhân,

Hãy khơi tánh Phật lần lần sáng ra.

Người cùng muôn vật một nhà,

Ta là anh chị, chúng là đàn em.

(Ni trưởng Huỳnh Liên - Giới Sát)

Nếu ta nói rằng vật dưỡng nhân là một quan niệm sai lầm, do sự ích kỷ và ngạo mạn mà sanh ra, quan niệm ấy dung túng cho con người thẳng tay giết hại sinh vật tạo ra hình trạng bất bình đẳng và dẫn đến chiến tranh chết chóc. Hơn nữa, đã là loài hữu tình thì ai cũng biết đau đớn buồn khổ và ham sống sợ chết, vậy cớ sao ta lại gây đau khổ cho nó chỉ vì miếng ăn ngon khoái khẩu của mình làm cho cả hai đều đau khổ. Đối với loài thú, khi sinh mạng bị kết liễu, làm chia lìa quyến thuộc của chúng, từ đó gây ra nỗi oán thù vô tận. Vả lại Đức Phật đã dạy tất cả chúng sanh đều là cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của mình.

Thế nên là người con Phật, chúng ta phải nhớ tạo gây nghiệp sát chắc chắn đưa ta vào con đường tội lỗi, phải gánh chịu nghiệp báo, nhân quả luân hồi trong nhiều kiếp. Từ ý nghĩa này, trong bài Ăn Chay, Tổ đã ân cần nhắc nhở: “Miếng ăn độc ác bất nhơn, ăn thịt chúng sanh, vô nhơn phi nhơn, có đâu là phải lẽ cho loài người, mà sao chúng ta lại không chừa bỏ? Ăn là để sống, thì ăn thiện mới sống yên, chớ ăn ác độc thì làm sao mà sống được”. Nếu chúng ta thực hiện lời Phật, Tổ răn dạy, để tránh việc trực tiếp hay gián tiếp sát sanh tạo nên cảnh trạng thê thảm đau thương, Phật dạy pháp ăn chay để trải lòng từ bi, thương yêu tất cả mọi loài, đồng thời cũng huân tập cho chúng ta hạnh ít muốn biết đủ về cách ăn uống có lợi cho sức khỏe, tăng thêm tuổi thọ, vì thịt có rất nhiều độc tố khó tiêu, nếu chúng ta lạm dụng sẽ gây ra các bịnh tật. Như vậy, ăn chay không những tạo cho chúng ta một thân thể khỏe mạnh, còn giúp cho thân tâm ngày càng thanh tịnh, vì không có oan trái, lại trưởng dưỡng lòng từ. Nương theo đó các vị Tổ, Thầy đều áp dụng và răn dạy hàng đệ tử thân tâm ngày càng trong sạch và tấn hóa. Như lời dạy trong bài Kệ Chơn Lý - Ăn chay của Đệ nhất Ni trưởng:

Thanh trai tịnh hạnh phước duyên lành,

Nuôi dưỡng lòng từ đức hiếu sanh.

Tha giết ngàn trùng ban đạo nghĩa,

Dạy khuyên vô lượng rải ân tình.

Là người xuất gia hay tại gia, chúng ta luôn mong được khỏe mạnh và sống an lạc hạnh phúc. Vì vậy chúng ta nên tạo kết duyên lành bằng cách ăn chay, đó cũng là phương thức trưởng dưỡng lòng từ, lập đức hiếu sanh, nhờ đó trí huệ của mình cũng được phát sanh, có trí tuệ và lòng từ bi dạy đạo giúp đời tiến hóa, đó chính là con đường hạnh phúc chân thật. Thế nên tổ dạy: Chay lạt là sự trong sạch hiền lành để trau tâm, không thể ăn sống cho mình bằng cách ác hung cấu trược được. Nên gọi rằng miếng ăn của tâm chay, hay miếng ăn chay là của tâm trong sạch hiền lành vậy. Chính nhờ giữ gìn miếng ăn có giới luật đó, mà các sư được phát định huệ, dễ dàng đạt quả yên vui.

Tóm lại, là người xuất gia hay tại gia, chúng ta đều là đệ tử Phật. Vì vậy để nuôi dưỡng lòng từ bi thì chúng ta phải ăn chay để luôn được đi trên đại lộ bình an, và chính nơi đó chúng ta sẽ bắt gặp mình cùng chúng sanh ở trong một đồng thể đại bi tâm, cùng tìm về bến giác của con đường giác ngộ giải thoát.

8. LIÊN THÔNG - BÌNH THUẬN

LỤC CĂN - KỆ CHƠN LÝ SỐ 3

Lục căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Hầu hết con người ai cũng đầy đủ lục căn, trong Phật pháp có câu: “Khó thay được làm người, khó thay nghe diệu Pháp…”. Ý nói thân người có được cần phải hội tụ đầy đủ phước đức. Nay chúng ta đã được thân người, lại đầy đủ Lục căn. Tuy nhiên trong Chơn Lý - Lục căn, Tổ dạy: Mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu cửa, cần phải rút thâu vạn vật các pháp để nuôi tâm sanh trí, tạo thành tánh vậy. Và ở đoạn khác, Tổ dạy tiếp: “Người ta muốn lên cao, Trời, Phật bởi đã kinh nghiệm, được học, nên xa lánh cõi người, dứt bỏ lục căn, quét sạch lục trần, tránh xa lục thức, làm Trời, Phật, vui sướng, nhẹ nhàng chắc thật”. Thế nhưng chúng sanh cứ mãi lầm tưởng vạn vật thế gian là chân thật, là tồn tại vĩnh hằng. Nên họ “cố chấp mê lầm ngã mạn xưng ta, cái ta tham sân si trong trần, tự cho căn là ta, hay thức là ta”. Do vậy Tổ nói: Người lấy ý làm chủ nên bị mắt, tai, mũi, lưỡi, thân bao vây; sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nhận lấp; thấy, nghe, hửi, nếm, rờ, tưởng hành phạt. Người như một kẻ tội nhơn sanh trong khám, khổ trong tù. Từ quan điểm trên, giúp con nhớ lại ý pháp trong Kệ Chơn Lý số 3 của Đệ nhất Ni trưởng đã ân cần sách tấn chúng Ni:

Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân,

Sáu căn tiếp xúc sáu trần nhiễm mê.

Giống như địch thủ gần kề,

Phải nên nhiếp phục hộ trì sáu căn.

Biết rành tập khởi căn trần,

Biết rành đoạn diệt ân cần xả ly.

Nội tâm an tịnh kịp thì,

Cuộc đời chấm dứt thị phi não phiền.

Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) như đã nói ở trên, còn sáu trần là: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu chúng ta để sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không lo thu thúc, chỉ biết đắm chấp, nhiễm ô thì liền khi ấy sáu thức sanh khởi. Chính vì thế Cố Ni trưởng đã dùng từ nhiễm mê để cảnh tỉnh. Sở dĩ nhiễm mê là do sáu trần nhiều tốt, cấu loạn còn Lục căn thì thiếu xấu, vọng đọng tiếp xúc với nhau, sanh ra sáu thức rồi chấp có có, mê nhiễm trong sáu thức ấy, từ đó mà sinh ra buồn, vui, mừng, giận, thương, ghét, muốn… làm khổ chúng sanh. Do vậy, Ni trưởng dạy phải luôn canh mật, nghiêm phòng bảo vệ sáu căn:

“Giống như địch thủ gần kề,

Phải nên nhiếp phục hộ trì sáu căn”.

Trong chuyện tích Phật giáo có câu chuyện Rùa và Dã Can. Nhờ Rùa biết thu thúc sáu chi của nó vào trong mai rùa cứng chắc mà thoát được sự chết. Người tu hành cũng thế phải nên nhiếp phục, hộ trì sáu căn của mình. Ví như thời đại ngày nay iphone, ipad, máy tính ra đời hàng loạt, nhiều mẫu mã sang trọng, nhiều tiện ích, nhưng vấn đề là chúng ta sử dụng chúng như thế nào, nếu cần dùng trong phương tiện học hành, tìm hiểu thông tin, tra cứu tư liệu… đó là chúng ta biết quán chiếu thấu đáo tính năng thực dụng của những dụng cụ trên, tất nhiên sử dụng như thế sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc nghiên cứu, học hành, hiểu biết… Nhưng than ôi! Hiện nay không ít các Ni trẻ hoặc hầu hết là giới trẻ vì không biết sử dụng tính thực dụng của vật chất, xem chúng như là phương tiện hỗ trợ tích cực, lại bỏ phí thời gian vô bổ vào việc chơi game, xem phim ảnh, tin tức, facebook, zalo trên mạng làm tổn hao tiền bạc, công sức và thời gian. Thay vào lượng thời gian đó nếu giới trẻ biết nghiên cứu, làm việc, học tập, hay làm một việc hữu ích cho đời thì quý báu biết bao. Hoặc đơn giản hơn là dùng lượng thời gian chơi đùa phí hao trên để ngủ nghỉ sau thời gian làm việc vất vả, sẽ giúp ích cho sức khỏe bản thân. Do vậy, là người học Phật, đặc biệt là giới xuất gia, chúng ta nên khéo thu thúc, hộ trì lục căn, như con Rùa trong câu chuyện trên, nhờ đó mà nó bảo vệ được mạng sống. Chúng ta cũng vậy thân người khó được, lại sống trong giáo pháp Như Lai, phải luôn sống trong Chánh niệm Tỉnh giác như lời chỉ giáo của Ni trưởng:

“Biết rành tập khởi căn trần,

Biết rành đoạn diệt ân cần xả ly.

Nội tâm an tịnh kịp thì,

Cuộc đời chấm dứt thị phi não phiền”.

Nói khác hơn, chúng ta thường tỉnh giác hộ trì sáu căn cũng chính là phương thức thiền định. Nhờ định tỉnh biết rành nguyên nhân sanh khởi căn trần, biết rành con đường đưa đến đoạn diệt và xả ly. Con đường đó không nằm ngoài Bát Chánh Đạo hay nói rộng ra là 37 phẩm trợ đạo. Mà việc đầu tiên là cần phải có chánh kiến, nhờ chánh kiến chúng ta mới thấy rõ được sự thật của các Pháp mà không mê nhiễm, vọng động nữa.

Đức Phật vì biết căn cơ kém yếu của chúng sanh, nên ngay khi còn ở lớp thấp của giới Phật tử, Ngài đã chế giới gồm năm điều căn bản, nhằm ngăn ngừa nghiệp ác tạo kết từ thân khẩu ý:

Không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu. Ví như người Phật tử vì thèm vị ngon muốn giết gà làm thịt, nhưng vì mình đã thọ giữ giới cấm sát sanh nên không được giết, hoặc như thấy của người khởi lòng tham. Thứ đến là khi muốn trộm cắp vật gì của ai, nhưng vì nhớ lại mình đã thọ trì giới cấm trộm cắp, nhờ đó mà hộ trì được nghiệp thân (mắt thấy muốn lấy, tay lấy) và nghiệp ý (từ mắt thấy, ý khởi sanh lấy cắp); Nếu như trong khi lấy cắp bị phát hiện, người lấy kiên quyết phủ nhận, như thế lại tạo thêm nghiệp miệng là nói dối. Qua ví dụ trên chúng ta thấy giữ giới không những giúp ta phòng hộ được sáu căn, mà còn tránh được ba nghiệp: thân, khẩu, ý không tạo tác nghiệp ác.

Như vậy, người Phật tử chỉ cần giữ gìn năm giới cấm mà hộ trì được sáu căn thanh tịnh, ba nghiệp trong sạch. Thế thì Tu sĩ chúng ta là hàng xuất gia, muốn sáu căn thanh tịnh, ba nghiệp trọn lành cần phải kết hợp với pháp hành Bát Chánh Đạo thì sự hộ trì Lục căn sẽ trọn vẹn. Bởi vì theo Tổ sư giải thích: Bát chánh đạo cũng là tám con đường ngay thẳng hay tám cửa giải thoát cho chúng sinh đang ở trong rừng sâu hố thẳm là đời. Bởi không hiểu mục đích, không thông chơn lý, chẳng rõ nhơn duyên, sau trước khó phân, chỉ quanh quẩn trong sự sống hiện tại, nên chúng sanh đã tạo ra cho mình đám rừng nguy, hố độc. Vậy nên để Lục căn được lành tốt, chơn như, thấy Lục trần ít xấu, tịnh định, coi Lục thức là không không, không mê nhiễm chính nhờ sự giữ giới, tu tập bát chánh đạo. Bởi vì trong Chơn Lý Bát Chánh Đạo, Tổ đã tuyên bố: Tám chánh đạo như tám món thuốc hay cứu chữa. Ai tự xét mình có chứng bịnh nào thì uống thuốc nấy. Phép tu cũng thế: người tà ngữ lấy chánh ngữ sửa trị, người tà nghiệp lấy chánh nghiệp sửa trị… Chúng ta ai cũng có riêng một bịnh tà trong tám món tà ấy, vậy nên phải tự xét mà răn chừa thì mới mong trọn lành tốt đẹp.

Lại nữa, trong Chơn Lý Lục Căn Tổ cho rằng, để an vui giải thoát, Tổ khuyên hãy quan sát sự việc người học trò học hành: “Kìa ai học giỏi rất yên, kẻ thi đậu thì vui; trái lại lục trần là địa ngục, sẽ chôn lấp nhận đè, kẻ đang bị lục dục lôi cuốn, bắt đem nạp để hành hình, lục thức đau khổ sẽ chết đi, khó mà sống lại, rất đáng tiếc”. (Chơn Lý - Lục căn trang 46)

Còn người học giỏi thi đậu là người đã phòng hộ được Lục căn, là kẻ không còn bị lục dục lôi cuốn nữa. Vậy chúng ta phải cố gắng giữ cho được lục căn thanh tịnh, nhờ đó mà lục thức sáng suốt yên vui mà tấn hóa lên hàng trời Phật.

Tóm lại, thuyết Lục căn rất cần cho sự hiểu biết của chúng ta trên đường tu tập, vì sau khi hiểu biết ta mới tu tập đúng theo Chơn Lý, lối tu rất tự nhiên, có thể cải thiện cho đời sống của chúng ta nếu chúng ta nhận ra đời sống còn ít nhiều khuyết điểm. Để khi giác ngộ rồi, con người tìm ra lẽ sống an vui, không còn khổ não với sự vọng, lầm, chấp lấy cõi đời là thật, thân ta là thật. Ai mà sống đúng Chơn Lý Lục Căn như Tổ và Ni trưởng đã dạy thì sẽ trọn vui, trọn sống và sẽ hướng đến Niết bàn trong một kiếp này.

9. LIÊN LIÊM

TX. Ngọc An

KỆ CHƠN LÝ - GIỚI PHẬT TỬ

Đức Phật có dạy: Giới luật còn thì đạo Phật còn, giới luật mất thì đạo Phật mất, cho nên giới luật rất quan trọng đối với Giáo hội Tăng già cũng như đối với người xuất gia tầm cầu giải thoát. Vì thế trong Tam Tạng Pháp Bảo của Đức Phật đã tồn tại một Tạng riêng nói về Giới luật. Cũng vậy, bộ Chân Lý của Đức Tổ Sư gồm 69 quyển, trong đó có 9 quyển nói về Giới luật, riêng có một quyển nói về giới Phật tử, được cố Ni trưởng Đệ nhất tóm tắt lại thành bài kệ, gồm 4 câu như sau:

Giới giữ cho thân sạch lỗi lầm,

Cho tâm như ngọc luyện dồi tâm.

Cho hoa trí tuệ tươi ngàn kiếp,

Cho quả từ bi đẹp bội phần.

Đối với con là hàng hậu học, kiến thức nông cạn chỉ nêu lên chút cảm nghĩ của mình về bốn câu kệ của cố Ni trưởng chớ không dám phân tích, luận giải.

Như trên đã nói, đây là bài kệ do Đệ nhất Ni trưởng tóm gọn lại những tư tưởng cốt yếu trong quyển giới Phật tử, cho nên ngay ở câu đầu “giới giữ cho thân sạch lỗi lầm” đã nêu rõ công năng của giới là giữ cho thân, khẩu chúng ta được trong sạch.

Vậy giới là gì? Và có công năng thế nào?

Giới tiếng Phạn là Sila, Tàu dịch là thanh lương, an ổn và tịch tịnh hay còn gọi là biệt giải thoát. Vì khi ta giữ viên mãn được giới nào thì sẽ giải thoát được giới đó. Giới là răn cấm không cho người vi phạm điều ác, do vậy nghiêm trì rốt ráo những giới cấm, tức tạo nền tảng của thiện Pháp. Từ ý nghĩa đó chúng ta thấy, Đức Phật chế ra những giới điều nhằm ngăn chặn ác pháp nảy sinh, đồng thời cũng giúp tăng trưởng thiện pháp. Bởi vì trong bài Giới Phật Tử, Tổ dạy rất rõ: “Người phạm giới, đương đời không đặng phát tâm Bồ đề, cũng mất ngôi Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười kim cang, mười địa, tánh Phật quả nhiệm mầu, thường trụ, tất cả đều mất, đọa trong 3 đường dữ, hai kiếp, ba kiếp, chẳng nghe được danh hiệu của ngôi Tam bảo”. Qua đó có thể khẳng định, Đức Phật chế giới cũng nhằm mục đích giúp chúng chúng sanh đoạn tận khổ đau, dứt hẳn không đọa lạc ba đường ác, là thềm thang đưa người đạt đến giác ngộ giải thoát. Cụ thể chúng ta thấy, Đức Phật đã chế ra năm giới cho Phật tử tại gia, mười giới cho Sa di, Sa di ni, 250 giới cho Tỳ kheo, 348 giới cho Tỳ kheo ni. Từ sự giữ giới trọn vẹn làm cho thân khẩu trong sạch, dứt hẳn lỗi lầm, nên đưa đến tâm được an tịnh. Nên tiếp theo đó, câu “cho tâm như ngọc luyện dồi tâm” nghĩa là tâm chúng ta được mài dũa bằng cách nghiêm trì giới luật, vì chỉ có giới luật là hàng rào ngăn chặn các ác Pháp, làm cho thiện Pháp phát sanh, vì tâm này vốn là “tâm viên ý mã”. Do đó phải nhờ giới luật buộc ràng, dồi luyện và mài dũa thì tâm mới được trong sáng thanh khiết, từ tâm thanh tịnh phát sanh trí tuệ. Vì nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ.

Như vậy luyện tâm, dồi trí xong thì hoa trí tuệ trổ, nên nói “cho hoa trí tuệ tươi ngàn kiếp” hoa dù có đẹp thế nào đi chăng nữa thì nó cũng sẽ tàn phai theo năm tháng. Chỉ có hoa trí tuệ sẽ mãi mãi tươi đẹp trong ngàn kiếp. Vì sao? Vì trí tuệ trí tuệ làm cho con người có khả năng nhận biết và hiểu rõ chánh pháp. Hay nói cụ thể hơn nhờ có trí tuệ mới giúp chúng ta hiểu biết rõ ràng, đúng đắn, thấy như thật vạn Pháp, là khổ, vô thường và vô ngã. Hay nói cách khác nhờ có trí tuệ, chúng ta mới thấy rõ khổ, nguyên nhân đưa đến khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường Thánh đạo tám ngành có khả năng diệt trừ mọi khổ đau. Nếu chúng ta như thật tuệ tri được như thế thì sẽ không còn lầm chấp vào các Pháp, không còn chấp ngã và ngã sở, từ đó các lậu hoặc dần dần sẽ được đoạn dứt, cho nên trong Kinh Di Giáo có dạy:

Trí tuệ như lương dược,

Chữa lành bịnh hiện tiền.

Trí tuệ như búa sắc,

Đốn bỏ cây não phiền.

Bên cạnh sự giữ giới là có lợi ích cho mỗi người, chúng ta cần phải hiểu rõ sự giữ giới cũng là cách trưởng dưỡng tâm từ bi, lòng nhân ái, vị tha dứt trừ tâm tham lam, sân giận để từ đó “cho quả từ bi đẹp bội phần”. Đối với người xuất gia chúng ta luôn lấy lòng từ bi, vị tha để cứu độ chúng sanh, nhưng lòng từ bi phải luôn đồng hành với trí tuệ. Vì sao? Vì chỉ có tuệ giác mới giải quyết trọn vẹn vấn đề phiền não, sanh tử, vì lẽ ấy, phương châm tu học của người con Phật luôn là: “Duy tuệ thị nghiệp” để đi đến con đường chân thiện mỹ. Đức Phật đã nhập diệt cách đây hơn 2500 năm, chúng ta là đệ tử Phật, thì phải thay Phật, tiếp Tổ đem chánh Pháp truyền trao khắp nơi, để cứu đời thoát khổ, giải thoát. Đó cũng là bổn phận của người tiếp nối mạng mạch Phật pháp, có thế mới thành tựu viên mãn hạnh nguyện của bậc xuất trần. Tuy nhiên muốn đạt đến cảnh giới cứu cánh ấy, chúng ta cần phải thực hành viên mãn giới, định, tuệ. Nên nói giới, định, tuệ là cốt lõi của sự nghiệp tu tập, là kiềng ba chân chắc chắn nhất của người xuất gia.

Riêng đối với thế hệ Ni trẻ chúng con, trong thời đại văn minh tiến bộ, vật chất hưng thịnh, thì hàng hậu học chúng con cần phải trì giữ giới luật tinh nghiêm hơn. Vì sao? Bởi vì dù ở thời đại nào thì giới luật cũng rất quan trọng đối với người xuất gia. Nên trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy: “Giới là cội gốc của Bồ đề, là cửa ngõ của niết bàn, là chiếc thuyền đưa chúng sanh qua biển sanh tử, là chuỗi anh lạc để trang nghiêm tự thân”. Trong Kinh Di Giáo cũng dạy: “Sau khi Như Lai diệt độ, các ông phải lấy giới luật làm Thầy, cũng như Phật còn tại thế, bởi vì giới luật còn là Phật pháp còn, giới luật mất là Phật pháp mất”. Tổ sư cũng dạy: “Đạo Phật xưa nay không mới cũ”, tức là ở thời đại nào, xã hội nào nếu ai muốn tu giải thoát thì phải đi trên con đường giới, định, tuệ không có con đường nào khác, chư Phật ba đời đều đi con đường này mà thành tựu đạo quả.

Tóm lại, để bảo hộ sự thanh tịnh trang nghiêm của Tăng đoàn, để giữ gìn bản thể của các Tỳ kheo cũng như để thiết lập một đời sống an bình cho nhân loại, đức Phật đã tuyên bày giới luật. Và như bài kệ trên Ni trưởng đã trình bày, đều khẳng định tầm quan trọng của giới luật. Vì giới luật có công năng dứt trừ nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sanh tử không chỉ hiện tại mà trong tương lai, giới đều là nền tảng đưa dẫn chúng ta tiến đến cuộc sống an lạc. Cho nên là đệ tử của đức Như Lai, chúng ta phải nghiêm trì giới luật rốt ráo. Đó cũng là thể hiện đúng vai trò của mình là thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, luôn lấy trí tuệ làm sự nghiệp để chuyển hóa thân tâm, nuôi dưỡng lòng từ và đạt đến giác ngộ giải thoát. Đây cũng là ý chỉ của bài kệ mà Ni trưởng đã tóm kết con đường tu học ngắn gọn, nhưng không vượt ngoài bổn hoài của Như Lai.

10. LIÊN TRANG

TX. Ngọc Phương

CHƠN LÝ 44: TU VÀ NGHIỆP

Trong bộ Chơn Lý của Đức Tổ Sư gồm có 60 bài. Ngài trình bày đủ những tư tưởng giáo lý vi diệu và sâu sắc trong kinh luận của chư Phật, bên cạnh đó Ngài còn đưa vào ví dụ hoặc những mẫu chuyện của chư Tổ rất thiết thật, giúp cho hành giả càng thêm thâm hiểu ý pháp của tổ muốn trình bày. Qua đó, hàng đệ tử giáo pháp Khất sĩ có thể lấy đó làm hành trang trên bước đường tu tập tìm về bảo sở. Tuy còn nhiều hành giả, vì căn cơ còn non kém, chưa thông suốt nhiều về giáo lý của Đức Tổ Sư, riêng con có lẽ nhờ phước duyên đời trước, đời nay lại có chút cơ duyên gặp được pháp bảo của Đức Tổ Sư, khiến con tỏ ngộ nhiều ý pháp, giúp con tăng tiến và vững bước hơn trên đường tu tập. Nay con xin mạo muội trình bày theo sự suy nghĩ kém cõi của mình, qua bài Chơn Lý “Tu Và Nghiệp”.

Đoạn mở đầu Chơn Lý “Tu Và Nghiệp” của Đức Tổ Sư nói rằng: “Đành rằng người tu là phải dứt trừ tam nghiệp của thân khẩu ý không nên tích trữ nó nữa: Nhưng đó là dứt nghiệp hiện tại và không sanh nghiệp vị lai, chớ những nghiệp quá khứ đã gieo tạo rồi thì cũng không sao tránh được sự kết quả của thiện ác khổ vui xảy đến”. Qua đoạn Chơn Lý nói trên chúng ta thấy Đức Tổ Sư đã khẳng định, tu đời nay là để trả nghiệp xấu ác của nhiều kiếp trước chúng ta đã tạo tác quấy ác, còn hiện tại chúng ta tu là để dứt nghiệp hiện tại và vị lai, chứ nghiệp quá khứ chúng ta vẫn phải trả theo luật nhân quả đã định sẵn. Như vậy hằng ngày chúng ta thường bị nghiệp cảnh bên ngoài chi phối, khiến cho buồn vui thất thường. Nếu chúng ta đã là người học Phật, nhìn nhận sâu sắc hơn một chút sẽ thấy tất cả mọi hoàn cảnh, nghiệp duyên đều do nhân duyên nhiều đời gieo tạo mà nay chúng ta phải nhận lấy. Bởi vì trong Kinh A Hàm, Đức Phật đã dạy: “Do cái này có nên cái kia có, do cái này sanh nên cái kia sanh…”. Trong Chơn Lý Tu và Nghiệp, Tổ cũng dạy: “Cõi đời có ra là do nhơn nghiệp, cái chi mỗi chút cũng là quả báo hết, ai còn thân khẩu ý tức nghiệp nhơn thiện ác còn gieo, thì kết quả tội phước khổ vui vốn không sai chạy”.

Do vậy trong cuộc sống tu tập hằng ngày, khi bị những nghiệp duyên bên ngoài chi phối, khiến chúng ta không được thuận duyên trên con đường học đạo. Hoặc khi các bậc tôn túc hết lòng chỉ dạy, nhưng vì vô minh che lấp nên chúng ta không thấy được, đó là sự quan tâm, là muốn chúng ta sớm mau trưởng thành, thế nhưng chúng ta chẳng hiểu tâm ý các Ngài, lại sanh tâm buồn tủi. Do đây trong Chơn lý Tu và Nghiệp, Tổ đã từng bày tỏ lòng hối tiếc: “Nào ai có ngờ đâu, chính người khổ nạn cực nhọc, vui chịu thiệt thòi mãi, kẻ ấy mới ắt phải giàu to tâm trí, an lạc, vĩnh viễn sau này, đó mới gọi là phép tu vậy”. Bởi thế mà chư Phật mới thấy sự vô minh của chúng sanh là chỉ ưa thích sự ngọt ngào mà không thấy được sự nguy hiểm đằng sau nên mới phải chịu đau khổ trầm luân mãi.

Vậy nên ngày nay chúng ta đã là người học Phật, cần phải lắng đọng tâm tư suy nghĩ cho thông suốt mới biết trân trọng sự giáo huấn của các bậc Tổ, Thầy. Bởi đây là lòng từ bi và sự quan tâm đích thật của các bậc Trưởng Lão, đã vì tiền đồ Phật pháp mà hết lòng chỉ dạy cho hàng hậu học. Như lời dạy của Tổ sau đây: “Một người tu tịnh nghiệp là để trau giồi tam nghiệp thanh tịnh, để được vãng sanh Tịnh Độ, là bước qua cõi sống tinh thần, làm chủ cõi lý trí, dứt bỏ sanh tử luân hồi, để làm bậc giác ngộ, sống bằng giác ngộ, ở trong sự giác ngộ thanh tịnh, lấy lục độ vạn hạnh làm gốc chân mặt đất, chỗ ở của tâm cũng y như thế”. Bên cạnh đó, Quý Ngài còn luôn sách tấn chúng ta trong từng cử chỉ oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm... mỗi việc làm, mỗi cử chỉ đều được Quý Ngài quan tâm chỉ dạy. Thế nên chúng ta phải biết trân trọng lấy những lời quý báu đó làm pháp bảo cho tự thân, chớ nên vì bản ngã rơm rác này mà sanh tâm buồn phiền thì thật không đáng với tiếng người tu. Chúng ta nên nghĩ rằng: Người được sự quan tâm nên mới ân cần chỉ dạy, còn người không được chỉ dạy mới là không có sự quan tâm, việc ấy mới thật đáng buồn.

Khi nói đến nghiệp duyên của mỗi người, cho dù sang hèn, đẹp xấu đều không tránh khỏi nghiệp quá khứ gây tạo. Ý nói, cõi đời có ra là do nhơn nghiệp, tức phải có nghiệp thiện ác nếu không nghiệp thì sẽ không thân. Điều quan trọng ở đây là chúng ta cần phải biết dừng nghiệp, dùng chánh pháp xây dựng ngôi nhà Lạc cảnh an vui giải thoát và quay trở về sống với bản tánh chơn như. Như lời dạy của Ni trưởng Đệ nhất:

Nghiệp tồn, duyên kết, kiếp sanh thân,

Tội mới vay thêm đậm nợ nần.

Chánh pháp dựng xây toà Lạc cảnh,

Giác tâm thanh thoát cõi siêu trần.

(Kệ Chơn Lý - Nguồn Đạo Lý)

Cho nên trong Kinh Đức Phật có nói đến hai hạng người đáng quý, đó là hạng người không tạo tội lỗi, và hạng người đã tạo tội rồi biết ăn năn sửa lỗi. Đây là hai hạng người mà Đức Phật tán dương công hạnh. Bên cạnh đó, chúng ta kết hợp với đoạn Chơn Lý trên của Đức Tổ Sư là muốn chúng ta đã là người học phật rồi phải dứt bỏ tham sân si quấy ác trong tâm nên học hạnh của Chư Phật, Chư Tổ thì mới mong dứt nghiệp đặng.

Vậy hành giả muốn tam nghiệp được trong sạch thanh tịnh cần phải lấy giới luật của Chư Phật, Chư Tổ làm nấc thang cho bước đường tu đạo được bền vững. Bởi giới luật là thuyền bè cho hành giả qua sông, cũng là chiếc áo giáp bảo vệ cho hành giả ra chiến trận của sanh tử luân hồi. Nếu chúng ta thực hành như lời của Đức Tổ Sư đã dạy: Giới như mặt đất - Định như cây trên đất - Tuệ như hoa trái vậy. Như thế, khi chúng ta đặt niềm tin vào Phật pháp điều ấy có nghĩa rằng chúng ta thật sự hiểu được những lời dạy của Đức Phật, lấy pháp là chỗ nương tựa cho chính mình. Hay nói cách khác, việc nghiên cứu tu học và hành trì giáo lý Giới, Định, Tuệ là một việc làm thiết yếu và chân chính đối với mọi người con Phật. Khi chúng ta hiểu đúng, biết đúng và hành trì đúng theo con đường của Chư Phật, Chư Tổ đã dạy như vậy, chúng ta sẽ đạt được Niết Bàn yên vui. Ngoài ra, Đức Tổ Sư cũng dạy rằng: “Người xuất gia tu học cần cầu giải thoát sanh tử, phải nỗ lực hành trì giới luật cho nghiêm mật, để đoạn trừ các nghiệp xấu ác trong tâm không còn các lậu hoặc”. Cũng như trong Chơn Lý Tu Và Nghiệp của Đức Tổ Sư nói rằng: “Sự thật ít ai giác ngộ lẽ ấy. Kìa như những người tu, họ thường bảo với nhau rằng nghiệp quả đối với người định tâm giải thoát là phải dồn đến mau lẹ và nhiều hơn kẻ thế, nhưng rồi thì sẽ mau hết sớm, đỡ bớt vốn lời, có như thế mới mong sang qua ở được nơi bên kia xứ Phật”.

Hoặc ở đoạn dưới, Tổ đã khẳng định rằng: “Họ như người liều mạng xác thân để theo đuổi mục đích giải thoát. Vì thế mà họ càng được yên vui tốt đẹp thêm lên mãi về đức tánh thiện lành, trong sạch và giải thoát... trau dồi công đức cho tâm, để rửa sạch vết lem nơi lòng họ, để diệt tham sân si vọng động trong đức tánh của họ; tức là họ sẽ được tròn trịa trong sạch, là quả giải thoát A La Hán, đó mới thật gọi là Tu”. Thông qua hai đoạn Chơn Lý trên, Tổ dạy người xuất gia học đạo lấy chơn như làm tâm, để nuôi dưỡng đức tin mỗi ngày thêm bền vững, bởi đức tin là mẹ đẻ sanh ra các công đức. Hơn nữa, là hàng xuất gia cần cầu giải thoát, chúng ta phải nỗ lực tinh tấn tu tập và làm tăng trưởng các điều thiện lành, để đoạn trừ các việc xấu ác đã ẩn sâu trong A Lại Da Thức của mỗi chúng ta trong nhiều đời trước. Bởi tam độc tham, sân, si trong tâm tánh của chúng ta ví như loại nọc độc của rắn có thể phun ra bất cứ lúc nào, nếu chúng ta không trang bị chánh kiến để thấu suốt vạn pháp trong thế gian đều vô thường. Tuy nhiên muốn diệt trừ nọc độc này, thì phải đầy đủ đức tin kết hợp tâm từ bi ban rãi khắp muôn nơi. Cho dù là cảnh hợp ý hay nghịch lòng chúng ta đều hoan hỷ đồng sự với họ để hóa độ, cứu giúp mọi người cùng thoát khỏi khổ đau.

Đức Tổ Sư dạy trên đường tu tập, ai ai cũng phải chọn lấy một đề mục để làm tâm, đối với người hay làm quấy ác thì họ lấy tham sân si làm tâm. Người thiện lành thì họ lấy từ bi làm tâm, người hay tư duy họ lấy chánh kiến làm tâm... Còn chúng ta là người xuất gia học đạo cần cầu giải thoát, biết rõ cuộc đời là khổ, vô thường, không thật thì phải nỗ lực tu tập Giới Định Tuệ. Bởi trong Kinh dạy rằng: “Giới năng sinh Định, Định năng phát Tuệ”. Khi gặp việc trái ý nghịch lòng chúng ta nên lấy chánh kiến làm tâm, lấy tâm trong sạch chơn như này để đoạn trừ. Một khi đoạn trừ rồi, bằng sự tư duy sáng suốt hiểu biết vạn pháp đều vô thường, tất cả do nhân duyên hòa hợp mà có, nhận rõ mỗi chúng sanh đều là quyến thuộc của chúng ta trong nhiều kiếp, như bài thơ sau đây miêu tả:

“Trăm năm trước thì ta chưa gặp,

Trăm năm sau biết gặp lại không.

Cuộc đời sắc sắc, không không,

Thôi thì hãy sống hết lòng với nhau’’.

Trong Kinh Đức Phật dạy rằng: Con người sống ở đời, dù xuất gia hay tại gia đều lấy đức tin và tình thương làm nền tảng cho sự sống. Hay nói cụ thể hơn, chúng ta đến với nhau bằng tình thương, lấy từ bi làm gia sản, lấy đức tin làm sự sống, nhờ đó mọi người biết bao dung và tha thứ lẫn nhau, như thế thì xã hội sẽ được yên vui. Chúng ta biết, vạn pháp trong võ trụ, kể cả con người đều vay mượn của nhau mà sống, để nuôi thân tâm cho trong sạch. Người thì vay mượn vật thực để nuôi thân tu học. Kẻ thì xin pháp lý của chư Phật để nuôi trí. Hoặc nói về thế gian, sự hiểu biết của mọi người được vay mượn để đối nhân xử thế, khiến cho cuộc sống trong xã hội ngày càng thiện lành, làm cho đẹp đạo tốt đời. Vậy chúng ta là người học đạo muốn bỏ phàm thành thánh cần phải trau tâm, sửa tánh dứt hẳn tham sân si quấy ác trong tâm cho được thanh tịnh. Theo Phật giáo Nghiệp là động lực chi phối đời sống của con người, từ đời trước cho tới đời nay và mãi về sau. Tuy nhiên nếu chúng ta biết cách tu tập đoạn trừ các Nghiệp xấu ác trong hiện tại, có thế thì nghiệp vị lai sẽ dứt hết. Như trong Chơn lý “Tu Và Nghiệp” của Đức Tổ Sư dạy rằng: “Kìa như khi xưa có vị A La Hán mà khi chết còn bị chúng cắt đầu, Ông (Tổ) Huệ Năng còn bị người cuốc mả. Lắm người tu đói khát bần cùng, bị sỉ mạ, bắt bớ, khiến sai đủ thứ… Đó tức là nghiệp quả cộng dồn, trả nhiều là mau hết nợ đã vay, ấy tức là sự phải hay lắm. Người chơn tu ai ai cũng muốn như vậy, bởi thân tứ đại mượn vay này, bọc chứa biết bao nhiêu tội lỗi lâu đời, nếu không trả xong thì đâu đặng yên tâm Niết Bàn nghỉ khỏe”.

Từ ý này, Ni trưởng Đệ nhất cũng dạy chúng ta:

Muốn đi xứ khác ở lâu ngày,

Nợ cũ đòi liền kéo mạnh tay.

Hành động lâu ngày lành hoặc ác,

Nghiệp duyên nhiều kiếp trả rồi vay.

(Kệ Chơn Lý -Tu và Nghiệp)

Tóm lại, bộ Chơn Lý mà Đức Tổ Sư để lại đã hàm chứa toàn bộ tông chỉ cho chúng ta tu hành. Muốn thoát khổ, được vui, nghiệp sạch, tâm tịnh, giải thoát an vui. Chúng ta người con Khất sĩ chỉ cần thừa tự ý pháp của tổ để ứng dụng trong đời sống tu hành. Như khi xưa Đức Phật dạy chư đệ tử: Hãy thừa tự pháp bảo, hơn là thừa tự tài sản. Đối với người học Phật, pháp bảo chính là nguồn tài sản cao quý vô giá hơn hết, chẳng vật gì sánh bằng. Vậy nên chúng ta là người học Phật cần phải nỗ lực tinh tấn bằng tâm dõng mãnh với chí nguyện tha thiết cần cầu học đạo. Để không phụ công ơn Thầy Tổ dày công lao khổ xây dựng đạo pháp, còn để lại cho hàng hậu học chúng ta một gia tài pháp bảo. Nay chỉ cần sống đúng với tinh thần:

“Nên tập sống chung tu học,

Cái sống là phải sống chung,

Cái biết là phải học chung,

Cái linh là phải tu chung”.

HẠNH PHÚC VÀ ĐAU KHỔ

Sự sống đến với chúng ta là một điều may mắn. Có được thân người, chúng ta càng thấy may mắn nhiều hơn, và càng hạnh phúc hơn khi được làm đệ tử của Phật, dù là hàng xuất gia hay tại gia. Đức Phật thị hiện ra đời với bức thông điệp “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”, với mong muốn dẫn dắt chúng sanh thấy được tự tánh chơn như nơi bổn tâm, và Đức Phật cũng đã khẳng định rằng: “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành”. Chính nhận định ấy giúp chúng ta biết rằng chúng ta rồi cũng sẽ thành Phật. Vậy làm thế nào để đến cõi Niết bàn?

Do vô minh che lấp nên con người cứ mãi trôi hụp trong biển luân hồi. Những khát vọng, những si mê, những ưa thích việc thế gian như lăng xăng tạo lập bám víu hay lo sợ gìn giữ tiền của, vật chất, chạy theo các dục lạc thế gian, tranh giành mong muốn chức tước, địa vị, thích ăn uống tiệc tùng ngủ nghỉ, gọi chung là ngũ dục hồng trần đã làm cho chúng sanh ngày một lạc bước, ngày một rời xa bản thể của mình. Ngũ dục dẫn dắt, dòng đời cuốn trôi, ái dục buộc ràng đã đưa chúng sanh tìm về muôn vàn nẻo khổ. Đệ nhất Cố Ni trưởng trong bài “Thân” đã dạy rằng:

“Đem thân làm kẻ tội đày,

Cho bao vật chất nó cai trị mình.

Để tâm làm vật hy sinh,

Suốt đời theo lịnh dục tình dắt lôi”.

Thật vậy, cả thân và tâm của chúng sanh bị những dục vọng kéo lôi, bị cái cầu vồng nhiều màu sắc mê hoặc và quyến rũ, bị hoa mắt, bị mê mờ nên đã không nhận ra được đâu là màu sắc thật sự của khổ đau.

Vạn vật vô thường, cảnh vô thường và tâm vô thường, cuộc đời là phù du, giả tạm. Vậy trong cái vô thường ấy, thế nào gọi là hạnh phúc và đau khổ? Phải chăng hạnh phúc chính là có được những điều mà mình mong muốn, có được một gia đình êm ấm, vợ chồng con cái vui vẻ thuận hòa, công danh sự nghiệp sáng lạng, hình tướng xinh đẹp giàu có? Vâng, đó chính là hạnh phúc, nhưng cái hạnh phúc đó nó có hằng bền và vĩnh cửu hay không? Nếu chúng ta tin vào sự vô thường của vạn vật thì đến một ngày nào đó, những người thương yêu của chúng ta rồi cũng sẽ chết vì có ai sống được đến ngàn năm?

Đúng như:

“Muôn pháp không thường còn,

Người sanh ắt có diệt,

Sanh tử như thủy triều

Diệt tận chân phúc hiện…” (Kinh Vãng Sanh)

Đức Tổ sư đã khẳng định vạn pháp là vô thường, khẳng định sự sống chết của con người, giống như nước thủy triều lên xuống hằng ngày. Đó đã là quy luật, một quy luật chi phối tất cả vạn pháp hữu vi, xưa cũng như nay và ngàn sau vẫn thế. Vậy thì có phải khi vô thường sanh tử đến, chúng ta rất đau khổ khi phải vĩnh biệt người mình thương yêu, và phải chăng đó chính là hạnh phúc mà chúng ta tìm cầu, cái hạnh phúc mong manh và tạm bợ? Không! Cái hạnh phúc mà chúng ta cần tìm đó là cái hạnh phúc lâu dài và vững chắc. Hạnh phúc mà đưa chúng ta tiến đến sự an vui cả thân và tâm. Chúng ta hạnh phúc chỉ khi nào tâm không đắm nhiễm, không dính mắc, không khổ đau. Chúng ta khổ đau là do chúng ta chấp vô thường là thường, và lầm nhận thường là vô thường. Chúng ta tìm cầu nó với sự u mê và khi điều bất toại ý xảy ra thì khổ là điều chắc chắn.

Ai cũng muốn sống hoài không chết, nhưng có ai sống đến ngàn năm? Ai cũng muốn giàu có xinh đẹp, nhưng mấy ai muốn là được. Tất cả đều muốn, nhưng mấy ai sở ý sở cầu được thành tựu? Chúng sanh luôn “Muốn, muốn, muốn…” để rồi phải “khổ, khổ, khổ…”. Tâm chấp thủ vào cái tôi, cái ái, chấp vào cái tham, nên cứ mãi lẩn quẩn không ra khỏi được vòng lao khổ. Cái áo mới mặc rồi cũng cũ, chiếc xe mới đi hoài rồi cũng hư, con người sống rồi cũng đến lúc chết. Vậy có cái gì là trường tồn đâu? Tại sao ta không thay chữ “Muốn, muốn, muốn…” thành chữ “Buông, buông, buông…” và chữ “khổ, khổ, khổ…” thành “an, an, an…”. Tâm chúng sanh vô hình vô tướng nhưng cũng không phải là cái túi chứa hết tất cả sự tham muốn, sân giận, ganh ghét, và vô số các phiền não. Mang những thứ ấy vào tâm chẳng khác nào chúng ta đang tự bỏ lên mình một tảng đá lớn và tảng đá này đang dìm chúng ta xuống sâu biển luân hồi sanh tử. Đệ nhất Cố Ni trưởng có dạy rằng:

“Do tâm ý tạo ra nghiệp cảnh,

Cho thân hình chịu lãnh đau thương”.

(Kinh Tam Bảo - Cầu Siêu)

Thật vậy, nếu chúng ta cứ chấp chặc vào tâm những điều bất toại ý thì cũng ví như khi đói thì ăn, nhưng ăn quá no sẽ bị khó tiêu, nặng bụng, gây khó chịu vậy. Có những điều chúng ta tầm cầu quá cao, mong cầu hạnh phúc quá nhiều, nhưng điều chúng ta đạt được lại là sự an ủi, là hạnh phúc ngắn ngủi trong đau khổ lâu dài. Vậy tại sao chúng ta không dùng biện pháp hoán đổi, hạnh phúc không tự mất đi, mà nó chỉ chuyển hóa từ hạnh phúc tạm bợ qua hạnh phúc lâu dài bằng cánh trau giồi một đời sống tâm linh. Biết tắm mình trong dòng sữa pháp, biết kính tin Tam bảo, tin luật nhân quả, sống một đời sống thiện lành và tri túc, biết bố thí cúng dường, và nhất là biết dừng chân để nhìn lại trong chánh niệm tỉnh giác thì đó chính là cõi Niết bàn tại thế gian. Niết bàn chính là nơi tự tâm, Phật tánh nơi tự tâm. Cố Ni trưởng đã nhắc rằng:

“Muốn ra khỏi biển luân hồi,

Quả kia phải hái cho rồi đừng gieo.

Dừng chân là bóng chẳng theo,

Nhơn tay thì nghiệp chẳng theo bên mình”. (Giới Sát)

Tâm làm chủ tất cả vạn pháp, hạnh phúc hay khổ đau là do sự tu tập, luyện tâm của mỗi cá nhân. Sống tri túc và không mong cầu, tâm sẽ trở nên hoan hỷ và an lạc, thong dong như gió thoảng trên không gian và chẳng có vật chi ràng buộc nó. Đó chính là cõi Niết bàn tại thế gian.

Cuộc sống cứ mỗi ngày trôi qua, con người cứ thế mà bị cuốn trôi theo những dục lạc của trần gian. Dẫu biết vọng tìm là khổ nhưng ta vẫn tìm cầu cái hạnh phúc tạm bợ trong sự khổ. Dẫu biết vạn vật vô thường, nhưng ta vẫn chấp là thường nên khổ cứ bủa vây. Cố Ni trưởng có dạy rằng:

“Chơn lý đầu tiên là khổ đế,

Dẫy đầy nỗi khổ cõi trần gian.

Sanh già đau chết thêm phiền não,

Nước mắt nhơn sanh bốn biển tràn”.

(Kệ trích lục - Tứ Diệu Đế)

Dù nước mắt có làm tràn biển, dù trần gian có dẫy đầy những khổ đau, dù sanh lão bệnh tử có chi phối và làm khổ đau đến tột cùng thì chúng sanh do vô minh che đậy, do ái dục trói buộc vẫn cứ mãi lao vào như những con thiêu thân, cứ mãi trồi hụp trong biển luân hồi sanh tử và cứ mãi đi tìm hạnh phúc, một hạnh phúc tạm bợ, mong manh, ngắn ngủi. Ôi! Thật là:

“Rượu đời say biết bao giờ tỉnh,

Nhưng tỉnh rồi lại vẫn cứ say”.

Vì vậy chúng ta phải tự mình cứu mình ra khỏi biển ái mênh mông, ngập đầy đau khổ đó bằng cách vươn mình cất bước thong dong bước ra khỏi cuộc đời ô trược, nương thân vào cửa đạo nếm hương vị cam lồ, sống một đời tri túc, trở thành người con gái, trưởng tử của đức Từ tôn. Có như vậy mới phải là đáng sống, đáng tồn tại và không uổng phí kiếp làm người.

Ngày tưởng niệm 30 năm Ni trưởng vắng bóng, con xin viết đôi dòng hiểu biết của con về hai chữ “vô thường”. Con thực tập về thân, khẩu, ý được chuyên cần là nhờ được Tụng những bài kệ của Ni trưởng hằng ngày. Con xin được kính dâng Ni trưởng chứng minh cho con.

11. LIÊN THÔNG – CẦN THƠ

TÍNH TRƯỢNG PHU TRONG THƠ VĂN ĐỆ NHẤT NI TRƯỞNG

“Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn đạo pháp cho tình quê hương”.

Ngay từ lúc còn là Phật tử thọ trì ngũ giới cho đến nay con đã xuất gia, cứ mỗi lần đọc lời nguyện này của Đệ nhất Ni trưởng con lại có một cảm giác vừa cung kính, vừa nể trọng, vừa thương quý Ni trưởng biết bao, lời phát nguyện của một bậc trượng phu chớ không phải của một Nữ lưu thường tình.

Cách đây một năm, đủ duyên lành con được thầy cho quyển “Đóa Sen Thiêng” đây là quyển sách ghi lại toàn bộ thơ văn của Ni trưởng và tất cả những tư liệu có liên quan đến cuộc đời tu của Ngài.

Trong “Đóa Sen Thiêng” con như hình dung ra trong suốt 40 năm hành đạo của Ni trưởng là một đoạn đường dài phấn đấu, vượt qua tất cả gian nan thử thách chỉ với một chí nguyện: “Vì đạo pháp, vì quê hương, vì dân tộc”.

Tại Linh Bửu tự, Ni trưởng đã gặp Tôn sư, vị Thầy mà mới gặp lần đầu, uy nghi của một vị Sa môn, hạnh thanh bần của một vị Khất sĩ, nét từ bi của Tổ sư đã làm cho Ni trưởng phát tâm tôn kính. Bài pháp đầu tiên Tổ sư đã khai mở cho vị Trưởng tử Nữ ấy một con đường đi mà như đã quên từ bao giờ, bây giờ chợt nhớ lại.

Cũng bắt đầu từ đây với sức sống hoa niên, với ý chí kiên cường, với tài hoa ấy, Ni trưởng từng bước đi vững vàng trên con đường hành đạo.

Con giác ngộ, bước ra quỳ đảnh lễ,

Bạch Đức Thầy, con quyết chí xuất gia.

Nối nguyện Thầy, con dạo bước Ta Bà,

Giong xe Pháp, đưa người qua Lạc quốc.

(Hoài Niệm)

Thời gian đầu, mới lập đạo, bao gian nan khốn khó, làm sao đi hành đạo, làm sao đi khất thực, khi mà có quá ít người hiểu đạo, lại là người nữ, thật là trăm bề khó.

“Là Khất sĩ bước trên đường khổ hạnh,

Mỗi ngày qua, tôi ôm bát xin ăn.

Bữa đói no, cam với phận thanh bần,

Nào có tưởng, có mong gì Tết nhứt”. (Xuân Sa Đéc)

Quả quyết lên, đi suốt quảng đường dài, những khó khăn đó vẫn không làm nhục chí tang bồng, thực hiện hoài bảo. Đôi lúc ngài lại tự giận mình là phận gái, qua bài “Mộng Phiêu Lưu” ta thấy ý chí ấy như Cá Chép vượt vũ vươn thành Rồng vậy:

“Cá chậu giương vây khoan tức bực,

Chim lồng đớp cánh mực sầu bi.

Rồi đây đổi lốt thay rồng phụng,

Mây nước biển trời mặc sức thi”.

Trong tám năm đầu được Tổ sư chỉ dạy, Ni trưởng trực tiếp lãnh đạo đoàn Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, đi khất thực gieo duyên khai mở đạo từ miền Nam đến miền Trung.

“Đường giải thoát, gồm ba y một bát,

Đi, đi, đi học khắp bốn phương trời.

Hé túi khôn châu ngọc chứa muôn loài,

Tuỳ duyên tốt mà tuôn rơi pháp báu”.

Và trong bài “Vui Mà Sống”, trong những khó khăn, Ngài luôn luôn lạc quan, lòng đầy nhiệt huyết.

“Vươn mình lên với cánh lông đầy đủ,

Chim đại bàng vỗ cánh tung trời xanh.

Bạn lòng ơi hãy tu dưỡng lấy mình,

Vui mà sống dù đời đầy đau khổ”.

Hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, Tổ sư vắng bóng, ý chí ấy, tấm lòng bác ái ấy vẫn không lay chuyển dầu có cơ cực trăm bề.

“Con cơ cực một đoàn toàn trẻ dại,

Mười năm dư mòn mỏi đợi Thầy về.

Mười năm dư tai biến luống ê chề,

Vẫn một nguyện trọn bề lo báo đáp”.

(Hoài Niệm)

Trong bài “Ba Mươi Năm Diễn Tiến”, những hình ảnh Ni trưởng cùng Ni chúng và phụ nữ Sài Gòn thời bấy giờ xuống đường đòi hòa bình, đi cứu trợ cho đồng bào nghèo Ni trưởng thật là một nữ lưu oai hùng. Đất nước nguy nan, thất phu hữu trách, nhưng đối với Ni trưởng:

“Chim Linh bị nhốt trong lồng,

Đạo thiên bị nhốt trong vòng kẽm gai.

Hoà bình tranh đấu cho ai,

Sư Cô tám nạn ba tai một mình”. (Kẽm Gai)

Cho dù có bao nhiêu tai nạn cũng không khuất phục được, cũng không làm cho người lùi bước, tất cả vì đạo pháp phải độ dân cứu đời. Có lúc Ngài lại quên luôn bản thân mình. Trong những ngày khốn nguy đó luôn trăn trở lo toan, làm sao để đạo đời luôn vẹn tròn, còn đời thì có đạo, có đạo thì đời bớt khổ, an vui.

“Ta phải lấy tình thương làm cứu cánh,

Tế độ làm phương tiện để trau tâm.

Đối tượng là đau khổ của thế nhân,

Ta phải sống trong tinh thần lý tưởng”.

(Nương Bóng Trăng)

Hay

“Ta đã là người của chúng sanh,

Người nuôi ta để học gương lành.

Sống đây ta sống cho muôn loại,

Ta có quyền đâu sống lấy mình?”

(Cát Ái)

Lời thơ như những lời tâm sự, con phải dừng lại để lắng lòng mình, Ôi! Ni trưởng của chúng con. Nhưng con đường đi thực hành chí nguyện hòa đạo với đời, đâu phải chỉ vì đất nước, vì nhân dân là đã đủ, còn những gian nan thử thách khác? Có lúc Ngài cũng đau lòng vì bạn đạo nghịch ý trái lòng, nhưng bao giờ Ngài cũng nhận về mình phần khó khăn thua thiệt.

“Tôi với bạn bỏ đời vào đạo,

Cha mẹ không con cháu thảy không.

Cùng nương nhau giũ sạch bụi hồng,

Sao bạn nỡ đem lòng ác hại…”

(Giải Nghiệp)

Có ai biết “Nửa đêm thức giấc” và có lúc phải tự “Giải nghiệp” để bớt sầu đau. Đối với Ni trưởng cái “Ta” không còn nữa, tất cả chỉ vỉ cứu khổ ban vui, vì hoài bão thiết tha. Đối với bề trên thì luôn tròn bổn phận, đối với kẻ dưới thì bác ái vị tha.

“Khi đã mang thân một kiếp người,

Cố làm lợi ích giúp đời thôi.

Dù cho thiệt thòi đi chăng nữa,

Mình cũng đừng cho nó hẹp hòi…”

Ý chí của Ngài kiên cường quá, tấm lòng của Ngài bác ái vị tha quá. Con như thấy Ni trưởng tồn tại trong cõi đời này là để cứu đời giúp đạo.

Và lời dạy cuối cùng trước khi viên tịch:

“Ngày đã cận cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa.

Định huệ không thiếu không thừa,

Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”.

Đến những giờ phút cuối, Ngài cũng quan tâm đến hàng hậu bối chúng con.

Con nguyện cố gắng học theo Ni trưởng, những khó khăn, gian khổ trên đường đi mở đạo, những tai tiếng ê chề, những nghịch ý trái lòng, những oan ức… không bao giờ làm cho Bậc trượng phu ấy nản lòng nhục chí. Đó lại là chất xúc tác cho hạt giống Bồ đề thêm đâm chồi nảy lộc, như những chất đạm có từ những phân rác được ủ mục giúp cho rễ cây càng ăn sâu vào lòng đất. Ngài là bậc Bồ tát sống bình dị mà cao cả, mộc mạc mà thanh cao. Ni trưởng đã dành cả đời mình để “Phục vụ chúng sanh, thiết thực cúng dường chư Phật”.

NHỊP ĐIỆU CHO RIÊNG MÌNH

Liên Phát, Tịnh xá Nhật Huy

Tôi đi bằng nhịp điệu 1 2 3 4 5,

Em đi bằng nhịp điệu 6 7 8 9 10.

Ta đi bằng nhịp điệu,

Nhịp điệu không giống nhau,

Ta đi bằng nhịp điệu,

Nhịp điệu sao khác màu.

(Tình khúc Ơ-Bai - Trịnh Công Sơn)

Mỗi người trong cuộc đời sẽ có những nhịp điệu cho riêng mình, không một nhịp nào, bước đi nào giống nhau. Vậy nên sẽ có những người sống thật sự có ý nghĩa cho mình, cho người, cho gia đình, xã hội và cho cuộc đời. Cũng sẽ có những Người luôn luôn mang lại phiền phức, khổ đau, oan trái cho người.

Ni trưởng đã đến cuộc đời này làm một phàm nhân như bao người khác. nhưng nhịp điệu và bước đi của Người lại là bước đi của bậc Thánh nhân, để cứu khổ độ sanh, mang lại niềm an lạc giải thoát cho chính mình, cho mọi người và cho cuộc đời.

Nếu như tất cả nữ tu sĩ Phật Giáo nói chung trên thế giới này, đều ngược dòng quá khứ, về nơi Thành Ca Tỳ La Vệ cách đây hơn 2600 năm, để nghiêng mình đảnh lễ công ơn sâu dày của Ngài Kiều Đàm Di, thì hôm nay toàn thể Ni chúng Hệ phái Khất sĩ xin thành tâm phủ phục trước di ảnh của Cố Ni trưởng Huỳnh Liên để tưởng nhớ, và tri ân công Người khơi màu huỳnh y rực rỡ cho Giáo Hội Liên Hoa xưa và nay cả trong và ngoài nước.

Lãnh thọ giới pháp từ bậc Tổ Sư Minh Đăng Quang khả kính, Người đã dõng mãnh lèo lái con thuyền Bát Nhã ra khơi nhờ nơi hạnh nguyện cao thượng của mình:

“Con nguyện hiện thường kiếp nữ thân,

Bởi bao phụ nữ khổ trong trần.

Tiện bề thân thiện con dìu dắt,

Dầu phải cực lòng lốt phụ nhân”.

(Con Nguyện)

Mấy ai xuất gia với ý nguyện muốn làm chiếc thuyền chở chuyên phái nữ. Phải chăng như Ni trưởng đã nói: “Con đường giao cảm thiêng liêng giữa chúng ta do một sức mạnh nhiệm mầu của tiền duyên bao đời nhiều kiếp, khiến chúng ta người dưng kẻ lạ, khác họ, khác tên, khác xứ sở quê hương, tâm tình huyết nhục mà bỗng hội họp dưới một tàng Bồ Đề cao cả…” và người đứng vai trò quan trọng chính là Ni trưởng.

Chẳng khác một trang nam tử Người đã quyết chí dấn mình vào việc độ sanh, hoằng hóa, chiếc thuyền đã chở che cho biết bao Ni lưu đang khát khao Chánh Pháp, giúp họ giác ngộ lìa mê.

Có nhiều người cho rằng Đạo Khất sĩ chỉ là đạo Tiểu Thừa của Thanh Văn. Nhưng nào đâu phải, Ni trưởng đến đâu đều ban rãi lòng từ bi, độ lượng và tâm thương xót mọi người đến đó. Người lập Cô nhi viện với tên Nhất Chi Mai để dưỡng nuôi các em cô nhi, Ni trưởng không mong cầu các em sẽ xuất gia mà chỉ cần tất cả có đời sống an ổn được học hành đến nơi đến chốn.

Người đi đến đâu thì nơi đó trở thành đạo tràng, có rất nhiều nam nữ Phật tử thính pháp, cũng như Chư ni xin được xuất gia học đạo. Thế là người thuyền trưởng đã dong buồm ra khơi, mang màu huỳnh y đi về muôn lối.

Đời sống khất sĩ thanh bần giản dị, càng tô đậm thêm cốt cách thanh cao của Người, một Ni lưu bình dị nhưng gan dạ, dũng cảm đã mang trong mình dáng dấp của bậc xuất trần thượng sĩ:

Chẳng cửa không nhà thân Khất sĩ,

Đói xin ăn mệt nghỉ chốn mồ hoang.

Áo ca sa vải vụn kế trăm ngàn,

Một túi vải để mang bình bát đất.

(Nghỉ Chân Bên Nghĩa Địa)

Tưởng chừng như dòng sông mãi phẳng lặng để con thuyền xuôi theo chiều gió, nào ngờ đâu Bậc Thầy khả kính lâm nạn. Như ngọn thái sơn sụp đổ. Nhưng, ánh triêu dương lại bừng lên tiếp tục soi sáng, một nữ thuyền trưởng vẫn tay lái vững vàng, bẻ quát, bẻ cạy… lèo lái con thuyền vớt bao người. “Thuyền nhẹ lướt trên sông Tiền, sông Hậu cùng với chư Ni sư ra thẳng miền Trung nước Việt, đón đưa khách Nữ lưu sang bến giác”.

Rồi những năm chiến tranh, giặc giã, Người cùng với chư Ni tham gia biểu tình, đòi hòa bình: “Nhân dân đòi cơm áo, Phật Giáo đòi hòa bình”. Người làm cả những bài thơ, ca dao đòi hòa bình độc lập và kêu gọi tinh thần chống giặc của nhân dân…

Cùng là con Rồng cháu Tiên, mang cùng dòng máu Lạc hồng, Người đã nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho Đạo Pháp, cho quê hương đất nước. Lòng dũng cảm, chí khí hiên ngang nào khác bậc anh hùng hào kiệt.

Bên cạnh đó Người còn có biệt tài viết văn thơ khó ai có thể sánh, với nhiều thể loại cùng những nội dung xác thực, sâu sắc dễ đi vào lòng người. Ý thơ là cái nhìn, cái thấy, cái biết, cái suy ngẫm của Bậc Giác ngộ, nhìn thấu mọi cảnh, mọi duyên, có chiều sâu về giáo lý Phật pháp mà hàng sơ cơ khó nhìn thấy tường tận.

Phải chăng sự xuất hiện của Người là để tiếp nối, truyền thừa từ vị Tỳ Kheo Ni đầu tiên Ngài Kiều Đàm Di nơi thành Ca Tỳ La. Để hôm nay không chỉ hàng Ni lưu chúng con được phủ phục trước di ảnh đê đầu đảnh lễ công ơn thâm sâu của Người, mà cũng là dịp để chúng con ôn lại những dấu ấn vàng son một thời in bóng. Sự dung hợp giữa cốt cách thanh cao và phong thái giản dị, giải thoát nơi một vị Thánh Ni đã làm cho biết bao người phải nghiêng mình cúi đầu thán phục.

Hòa Thượng Thích Từ Thông đã làm hai câu đối tán dương Ni trưởng như sau:

Chí bất khuất vì Hạnh Phúc Tự Do,

chiếc áo Khất sĩ làm vẻ vang trong Ni giới.

Nguyện kiên cường cho Hòa Bình Độc Lập,

tấm thân nữ lưu nêu gương sáng chốn Tòng Lâm.

Như một cơn gió thoảng qua làm mát lòng bao người. Ni trưởng đã đến và cũng đã khép lại nhịp điệu của mình khiến mọi người tiếc nuối nhớ thương và dường như những nhịp điệu ấy vẫn vang mãi trong lòng người con hậu thế. Bất giác cảm thấy hổ thẹn với chính mình, con tự hỏi mình đã bước đi được nhịp nào trong số những nhịp điệu nhiệm mầu của Ni trưởng?

Lặng mình trong giây phút nghiêm trang nầy, con thầm niệm ơn vô lượng thuận nghịch nhân duyên đã đưa con đến với Đạo Phật Khất sĩ, đến với Giáo Hội Liên Hoa. Dù chỉ là hạt cát nhỏ trong sa mạc, là một giọt nước trong đại dương mênh mông, con cũng cảm thấy mình ngập tràn ân phước.

Vài dòng ngắn ngủi chẳng thể nói lên tận cùng Đạo nghiệp, đức hạnh và tâm huyết của Người. Như một bông hoa trong vườn hoa Thánh Ni nhằm tô điểm cho khu vườn thêm sinh động, như bản chất của hoa là dâng trọn sắc hương cho đời, mà không một chút đòi hỏi cuộc đời phải đáp trả lại, hương thơm ấy theo gió cuốn bay đi, lan tỏa muôn nơi, làm lòng người nhẹ nhàng, an lạc, mát mẻ và cứ thế bay đi, đi mãi….

Hôm nay nhân ngày Lễ Tưởng Niệm tròn 30 năm Ni trưởng xa cách, một chút cảm xúc trong muôn vàn xúc cảm đồng âm vang vọng. Con kính dâng lên Người cùng trên Quý Ngài lòng tri ân sâu sắc nhất, đã cho con cơ hội được tỏ bày một phần hiểu biết nhỏ nhoi của mình về cuộc đời Người, mong mỏi sẽ tìm được sự đồng cảm trong cung bậc cảm xúc dạt dào này.

12. LIÊN NGUYÊN

Tịnh xá Ngọc Vân, Định Quán, Đồng Nai

NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN, VỊ LÃNH ĐẠO NI GIỚI HỆ PHÁI KHẤT SĨ

A. DẪN NHẬP:

Chư vị Bồ Tát luôn vận dụng trí tuệ vào phương tiện để hóa độ chúng sanh thì công đức mới được viên mãn. Phương tiện và mục đích của chư Bồ tát là giáo hóa con người ở cõi ngũ trược ác thế. Các Ngài sanh vào thế gian không phải vì bị nghiệp lực chi phối mà vì nguyện lực, tùy duyên hóa độ chúng sanh thoát khổ. Nếu thế gian này không có phiền não ngũ trược, thì sẽ không có các vị Bồ tát dùng phương tiện hóa độ chúng sanh. Cũng vậy, nếu hoa sen không vượt lên từ bùn nhơ thì nó sẽ không được mọi người ca ngợi là loài hoa quý. Con người cũng vậy, nếu sống trong đời mà vượt lên khỏi đời uế trược thì người ấy sẽ được mọi người tôn kính, quý trọng. Người đó chính là hiện thân của Bồ tát giữa cõi đời uế trược này. Ni trưởng Huỳnh Liên Đệ nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ là một người như thế. Ni trưởng là đóa Huỳnh Liên tỏa ngát hương thơm của Ni giới Hệ phái Khất sĩ nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.

Hôm nay, nhân ngày lễ tưởng niệm lần thứ 30 của Ni trưởng, hàng hậu học chúng con xin bày tỏ đôi dòng tâm đắc về văn thơ của Người. Và con nghĩ, bài viết này chỉ góp thêm giọt nước biển trong đại dương mênh mông vậy.

B. NỘI DUNG:

I. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NI TRƯỞNG

1. Thân thế và hạnh nguyện xuất gia

Cố Ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên, thế danh Nguyễn Thị Trừ, sinh năm 1923 tại làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, nay là Tỉnh Tiền Giang. Ni trưởng sanh ra trong gia đình thâm nho đạo đức, sống bằng nghề nông nhiều đời. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Vận, pháp danh Thiện Trí, thân mẫu là bà Lê Thị Thảo, xuất gia thọ giới Tỳ Kheo Ni trong Ni giới Hệ phái Khất sĩ, pháp danh là Thiện Liên.

Năm 1947, nhân Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang - vị Tổ khai sáng Hệ phái Khất sĩ, về chùa Linh Bửu, Phú Mỹ - Mỹ Tho hoằng pháp. Sau nhiều lần nghe Tổ Sư thuyết pháp, Ni trưởng đã đến xin phép Tổ Sư xuất gia.

Tổ Sư hỏi: Tín nữ xuất gia với hạnh nguyện gì?

Ni trưởng thưa: Bạch Đức Thầy, con xin xuất gia với hạnh nguyện “làm chiếc thuyền chở chuyên phái nữ”.

Đức Tổ Sư khen: Đó là hạnh nguyện của Bồ tát, chỉ có Bồ tát mới có hạnh nguyện lớn lao như vậy.

Ngày mùng 01 tháng 04 năm 1947, Ni trưởng đã được Đức Tổ Sư nhận vào hàng ngũ xuất gia với pháp danh là Huỳnh Liên, là trưởng tử Ni của Đức Tổ Sư.

Từ đó, Ni trưởng được trực tiếp học đạo, nghe pháp với Đức Tổ Sư. Sáng đi khất thực, trưa về độ ngọ, chiều nghe pháp học Chơn Lý, đêm về thiền định dưới cội cây hoặc nghỉ nơi nghĩa địa, nhà mồ của bà con Phật tử, sống nếp sống vân du, đầu đội trời chân đạp đất, không nhà không cửa.

2. Hoằng pháp độ sanh:

Với vai trò là Trưởng tử Ni và với hạnh nguyện “làm chiếc thuyền chở chuyên phái nữ”, Ni trưởng đã tiếp bước tiền nhân, theo dấu chân xưa “Nối truyền Thích Ca chánh pháp”. Dưới sự chỉ đạo của đức Tổ Sư, Ni trưởng đã hướng dẫn đoàn Ni giới Khất sĩ vân du hành đạo từ Nam bộ cho đến miền Trung du, đâu đâu cũng có dấu chân của những vị Ni Khất sĩ với chiếc y bá nạp, đầu trần chân không, tay mang bình bát đi khất thực mỗi buổi sáng.

Suốt 40 năm tu học và hành đạo Ni trưởng đã không ngừng thuyết pháp giảng đạo, tạo lập đạo tràng, Tịnh xá, tiếp độ chư Ni, mở lớp giáo lý dạy Ni chúng tu học, nuôi dạy trẻ mồ côi, giúp đỡ người nghèo khó, tham gia các công tác xã hội, tham gia đấu tranh bảo vệ đạo pháp dân tộc, quê hương đất nước. Thật đúng hạnh nguyện mà Ni trưởng đã phát nguyện:

Nghiêng vai gánh Đạo vào đời,

Cho đời tỏ Đạo ta người đồng tu.

Sen Gương - Ni trưởng Huỳnh Liên

Ngoài ra, Ni trưởng đã xuất khẩu thành thơ cùng chuyển dịch thành thơ những bài Kinh của Đức Phật, cho ra đời những tác phẩm văn thơ vừa giản dị, bình dân, hợp với ý đạo lòng dân, dễ đọc, dễ hiểu nhưng cũng không kém phần sâu sắc. Ni trưởng đã lấy thơ tải đạo, cảm hóa không biết bao nhiêu con tim khi có duyên đọc thơ văn của Người. Bằng nhiều hình thức, Ni trưởng đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đạo, cho đời, cho quê hương đất nước qua con đường hoằng pháp độ sanh như chính Người đã phát nguyện:

Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn đạo pháp cho tình quê hương.

II. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC THƠ VĂN

1. Văn tải đạo

Suốt 40 năm tu học và hành đạo Ni trưởng đã để lại cho đời một kho tàng văn thơ hiện đại nói chung và để lại cho Ni giới Khất sĩ một phương trời rộng mở và định hướng cho thế hệ mai sau tiếp nối con đường của Người.

Là thành viên của Ni giới Hệ phái Khất sĩ, con đã được Thầy Tổ nung đúc từ khi mới bước chân vào đạo. Hằng ngày con được học nằm lòng những câu chú nguyện Tỳ Ni Nhật Dụng cũng như những oai nghi, quy luật thiền môn, từ Tứ oai nghi, đi, đứng, ngồi, nằm, khi ăn, khi ngủ, tụng kinh, tụng kệ, tụng luật… Lúc đầu chỉ là học vẹt, nhưng sau nhiều lần học đi học lại con đã hiểu được rất nhiều điều qua văn thơ, kinh luật của Ni trưởng đã sáng tác. Con xin góp một phần nhỏ hiểu biết của mình, cũng ví như một giọt nước trong đại dương mênh mông của sự nghiệp sáng tác văn thơ của Ni trưởng Đệ nhất, Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam.

Trong kho tàng thơ của Cố Ni trưởng con tâm đắc rất nhiều điều nhưng xin được bộc bạch ra đây một ý nhỏ trong nhiều ý mà con tâm đắc. Bài thơ “Bàn Tay Đẹp” đã ăn sâu trong tâm trí khi con mới bước chân vào cửa Đạo. Điều mà con tâm đắc nhất trong bài thơ là:

Không! Bàn tay đẹp là bàn tay “lao động”,

Chuyển đường gân dâng sức sống cho đời.

Hiện khắp nơi và ở khắp nơi nơi,

Như đất nước như khí trời vũ trụ.

Bàn Tay Đẹp - Ni trưởng Huỳnh Liên

Qua bốn câu thơ, Ni Trưởng đã khẳng định: Bàn tay đẹp không phải là bàn tay trắng muốt, ngón bút măng, da trắng mịn màng, để dành ngắm, để dành mơ mộng, mà bàn tay đẹp ở đây là bàn tay “lao động”. Bàn tay ấy đem sức sống đến cho đời. Bàn tay ấy hiện khắp nơi và ở khắp nơi nơi, như đất nước như khí trời vũ trụ. Bàn tay ấy là bàn tay nông vụ, bàn tay thầy thuốc, bàn tay giáo chức, bàn tay cô đỡ, bàn tay tảo tần, bàn tay công nghệ, bàn tay từ mẫu, bàn tay chiến sĩ, bàn tay của đạo đức tình thương... Những bàn tay này hiện diện khắp mọi miền đất nước, chung sức chung lòng, tạo ra của cải vật chất chăm lo đời sống được no cơm ấm áo, góp phần xây dựng đất nước và giữ yên lãnh thổ đất nước, hướng con người đến Chân Thiện Mỹ.

Cũng qua những Bàn tay này, Ni trưởng muốn đề cập đến sự tương quan tương tác giữa con người với con người, chúng ta không thể sống tách rời, độc lập một mình. Chúng ta sống chung trong một xã hội, do đó cần phải có sự trao đổi, tương duyên, tương tác, tương ái với nhau. Từ đó tạo nên một chuỗi đời sống hòa quyện với nhau, đan xen với nhau trở thành một chuỗi mắc xích dài vô tận. Đó mới là xã hội. Ví như khi ta ăn một chén cơm, uống một viên thuốc hay đọc một quyển sách, nó không đơn điệu chỉ là chén cơm, viên thuốc hay quyển sách mà nó là công sức của biết bao người đã đổ mồ hôi sôi nước mắt, trải qua biết bao công đoạn, tốn biết bao nhiều tiền của, máy móc kỹ thuật thì mới thành phẩm cho chúng ta thụ hưởng. Đó là sự tương quan, tương duyên nhân quả đan xen lẫn nhau không thể tách rời. Đối với cuộc sống con người cũng vậy, sống cho người chính là sống cho ta, sống cho ta chính là sống cho tất cả. Vì thế, khi ta đang có mặt và tồn tại trên cuộc đời này đều phải biết ơn, nhớ ơn và đền ơn, mỗi ngày ta còn thọ lãnh sự ăn, mặc, ở, bệnh… thì ta còn mang ơn, còn giữ sự liên kết giữa ta với mọi người, mọi vật chung quanh. Cho nên ta phải cảm ơn đời, cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, cho ta thêm nhiều điều mới để yêu thương.

Ngoài ra, Ni trưởng còn cho rằng bàn tay đẹp hay chính là bàn tay lao động hiện diện khắp muôn nơi, khắp mọi nẻo đường của đất nước, khắp năm châu bốn biển. Bàn tay ấy là bàn tay xây dựng đất nước giàu mạnh. Bàn tay ấy là bàn tay nối kết khắp bốn biển năm châu. Bàn tay ấy như khí trời vũ trụ đem đến sức sống cho con người. Bàn tay ấy là tinh thần yêu nước, lòng thương người sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tinh thần lao động cần cù tiết kiệm, đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân lên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc. Đối với mỗi người dân Việt Nam, tinh thần yêu nước, lòng tự hào với ý chí bảo vệ đất nước là nguyên tắc đạo đức, là tính nhân bản vốn có ở mỗi người.

Với bốn câu thơ của bài thơ Bàn tay đẹp, Ni trưởng đã lấy văn tải đạo, đem đạo vào đời khiến cho Đạo Đời hòa quyện. Ni trưởng đã ví bàn tay đẹp hiện diện ở khắp nơi như khí trời như vũ trũ chính là nói đến giáo lý nhân duyên của Phật giáo. Chúng là một chuỗi mắc xích hỗ tương cho nhau, tồn tại cùng nhau. Cũng như con người trong xã hội không thể tách rời, tồn tại độc lập. Cũng như một đất nước phải được xây dựng từ sự góp sức chung lòng của mọi người dân trong nước. Một đất nước giàu mạnh không thể thiếu những bàn tay cần cù lao động, những tấm lòng yêu nước, những tinh thần đoàn kết. Đó là sự góp sức từ các nhà lãnh đạo, từ các nhà trí thức, cho đến người dân thường trong xã hội. Thậm chí đến cả sự cộng hưởng của môi trường thiên nhiên, môi trường sinh thái cho đến những giá trị đạo đức, giá trị tinh thần. Qua đó chúng ta thấy giáo lý đạo Phật không khung khổ bó hẹp trong phạm vi quan hệ giữa người với người, cá nhân với xã hội mà mối quan hệ này tỏa rộng đến thiên nhiên, môi trường sinh thái. Bảo vệ môi trường sinh thái chính là bảo vệ chính mình và đời sống con cháu sau này. Thông qua bốn câu thơ, giá trị đạo đức đã được lan tỏa rộng khắp đến đời sống văn hóa dân tộc. Và chính giá trị đạo đức này đã thẩm thấu và định hướng cho các cá nhân, xã hội thoát khỏi cái xấu, hướng đến giá trị Chân Thiện Mỹ đi vào tâm hồn người Việt.

2. Chuyển dịch các bài Kinh của Đức Phật thành các thể thơ

Những kim ngôn ngọc ngữ của Đức Phật dạy, đã được Ni trưởng chuyển thể từ âm Hán Việt sang ngôn ngữ thuần Việt, với thể thơ tự do, song thất lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, ngũ ngôn... đã trở thành Nghi Thức Tụng Niệm hằng ngày tại các đạo tràng Tịnh xá thuộc Ni giới Khất sĩ như Kinh Tam Bảo, Xưng Tụng Tam Bảo, Tinh Hoa Bí Yếu...

Trong quyển “Tinh Hoa Bí Yếu” do Ni trưởng biên soạn có nhiều bài Kinh, nhiều đoạn Kinh con rất tâm đắc. Nay con xin mạo muội trình bài một ý nhỏ mà con tâm đắc trong “Quy Sơn Cảnh Sách” đoạn:

“Bằng muốn học tham thiền,

Vượt qua cửa “phương tiện.

Phải tận tường tinh yếu,

Thấu rõ đạo tuyệt vời.

Quyết chọn lý thâm sâu,

Được nguồn chơn tỏ ngộ.

Rộng hỏi bậc cao đức,

Gần học bạn hiền tài.

Tông này khó được diệu huyền,

Quyết phải dụng tâm chín chắn.

Nhơn kia mau tỏ chơn chánh,

Tức là xuất thế lần hồi.

Được như thế phá tan ba cõi,

Cùng là dứt khỏi hăm lăm loài...

Các pháp trong ngoài không thiệt cả,

Từ lòng biến khởi ấy giả thôi...

Tâm chẳng đem dùng toan tính vật,

Vật đâu nương cậy cản ngăn người.

Mặc dầu pháp tánh châu lưu,

Chấp có chấp không nào vướng nữa.

Tầm thường sắc thinh nghe thấy,

Bên sự bên lý ứng dụng hoài”.

Đoạn Kinh này ý muốn nói rằng người muốn học tham thiền để vượt qua cửa phương tiện phải rộng học từ các bậc Cao Tăng Thạc Đức, gần gũi bạn hiền tài đồng thời phải quyết chí dụng tâm thì mới mong đem đến kết quả tốt đẹp. Liên quan đến vấn đề phương tiện này, trong Kinh Pháp Hoa phẩm Hóa Thành Dụ, Đức Phật đã dùng phương tiện ba thừa là Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát để làm “hóa thành dụ” cho cho chúng sinh. Đức Phật biết căn tánh chúng sanh nhất thời không thể hiểu được Nhất thừa Phật quả, là nơi cứu cánh an lạc của Niết Bàn. Ngài dùng phương tiện thiện xảo phân Nhất thừa thành Ba thừa, với mục đích cứu độ chúng sanh ra khỏi nhà lửa Tam giới.

Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật muốn cho chúng sanh cỗ xe lớn mạnh để đến được Bảo sở, đó là quả Như Lai nhất thiết trí, quả vị cứu cánh. Xe lớn ở đây là dụ cho lòng tin, lòng tin là mẹ sanh ra chư Phật, chư Bồ tát. Trong Quy Sơn Cảnh Sách đoạn này, đức Thế tôn cũng nhắc đến sự quyết tâm, sự dụng tâm, sự nỗ lực tinh cần. Chính sự dụng tâm chín chắn này sẽ giúp chúng sanh phá tan ba cõi, dứt khỏi hăm lăm loài. Điều này chính là nói những công năng tu tập sẽ tạo thành trí tuệ phá tan tất cả phiền não trần lao khiến chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi.

“Các pháp trong ngoài không thiệt cả”. Các pháp bên trong là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức; các pháp bên ngoài là: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc. Khi các pháp bên trong và bên ngoài tiếp xúc tức căn và trần tiếp xúc sẽ làm phát sinh cảm thọ, bởi có cảm thọ nên mới có ái. Ái là điều kiện phát sinh thủ. Thủ có nghĩa là nắm giữ, muốn lấy làm của mình. Bởi vì chúng ta có tham dục với các đối tượng của sáu căn, nên ta muốn chiếm giữ, nắm bắt. Ta nhận chúng là mình, gắn bó với chúng. Bởi vì thủ mà ta bắt đầu tạo nghiệp, tiếp tục những hành động trong kiếp trước đã tạo nên thức tái sinh cho kiếp này. Như vậy, thọ sinh ái, ái sinh thủ, và thủ làm điều kiện cho hữu, tức là một sự hiện hữu tiếp nối, làm năng lực cho hạt giống luân hồi sai sử thức đi tái sinh cho kiếp sau. Từ những nghiệp lực được tạo nên do thủ mà có sinh. Vì sinh nên mới có bệnh tật, đau đớn; có khổ đau, có già chết. Từ sự tiếp xúc trên ta có thể kết luận: Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên sinh, mà do duyên sinh thì nó không có thật tướng. Sự có mặt của một pháp thực ra chỉ là sự có mặt của nhơn duyên sinh ra nó. sự hoại diệt của một pháp cũng chỉ là sự hoại diệt nhơn duyên sinh ra nó. Các pháp không có thật sinh hay thật diệt. Nói một cách ngắn gọn, tất cả do duyên sinh nên vô thường, không thật tướng, không thật tướng nên nó là Vô Ngã.

“Từ lòng biến khởi ấy giả thôi”. Bởi vì, các pháp là do duyên sinh, nên nó vô ngã. Vì vô ngã nên nó không có thực tướng, chỉ là sự “biến khởi” của thức mà thôi. Không thật tướng, tức là bản thể bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm của vạn vật. Khi đã đạt đến mức sáng suốt triệt để, tức là Bát Nhã Ba Ma Mật, thì phải thấy các pháp nó là không thật vậy, Không tướng tức là Chơn không, là cái Thể của vạn vật. Mà đã là Thể thì không sao có cái tướng hay Sắc được, cho dù Thể không khác Sắc. Ngay trong “Tướng không” không có Sắc thì làm gì có những cái tùy thuộc của Sắc là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Khi đã đạt được đến cái Thể, là đến chỗ tuyệt đối. Do đó, khi thấy rõ cội nguồn gốc rễ của các pháp là không thật Tướng. Nắm vững sự vận hành của các pháp, thì tự chúng ta có thể phá được “chấp có chấp không” (chấp ngã, chấp pháp). Đó là ý nghĩa của toàn bộ đoạn văn trên.

3. Các bài kệ chú nguyện

Mục đích Đức Phật chế giới ra là giúp cho đoàn thể Tăng chúng được hòa hợp thanh tịnh, rốt ráo của giới luật là đưa người đến nơi an lạc của Niết Bàn. Từ giới mà sanh định, từ định mà tiến đến tuệ giải thoát. Như trong Luật Ngôn đã dạy: Đạo Phật được bảo tồn lâu dài là nhờ giới luật, các Sư được sùng bái là nhờ giới luật… Ai muốn lên cõi trên, ngay kiếp này, thì phải giữ giới cho kỹ, vì nó là chơn của mình, đưa mình đi.

Khi mới bước vào cửa đạo, người xuất gia phải học thuộc lòng các bài kệ chú nguyện Tỳ Ni Nhật Dụng. Khi học thuộc Kệ Chú Nguyện con mới hiểu ra rằng các vị Tổ Thầy ngày xưa muốn cho đệ tử của mình khi làm bất cứ việc gì thì thân đâu tâm đó, luôn luôn thu thúc lục căn, không cho sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà sanh đắm nhiễm. Từ khi mở mắt bước xuống giường cho đến khi đi ngủ, đều gắn liền với câu chú nguyện. Bài Kệ Xuống Giường:

Từ sớm về chiều đến tối tăm,

Chúng sanh tự khá giữ gìn thân.

Sa chân như rủi hình tan tác,

Cảnh Phật cầu ngươi kiếp đến gần”.

Kệ chú nguyện - Ni trưởng Huỳnh Liên

Bài Kệ Súc Miệng:

Súc miệng lòng tịnh luôn,

Nước ngậm trăm bông thơm,

Ba nghiệp thường thanh tịnh,

Theo Phật đến Tây phương.

Kệ chú nguyện - Ni trưởng Huỳnh Liên

Mỗi mỗi bài kệ đều dạy cho chúng ta luôn luôn thu thúc lục căn cho được thanh tịnh và tập mở tâm từ rộng lớn đến với tất cả chúng sanh. Phải biết tỉnh giác trong từng các cử chỉ khi thọ dụng để tránh rơi vào si mê, lầm lạc, cảnh khổ. Trên đường tu phải tinh tấn trì giới, bởi giới sanh định, đinh phát tuệ. Người tu chân thật phải luôn tỉnh giác, từ sáng sớm thức dậy bước chân ra khỏi gường, mỗi niệm mỗi bước chân phải nhiếp niệm. Người tu phải cố gắng đừng để các căn bị ảnh hưởng bởi các trần duyên bên ngoài. Người tu phải cố gắng làm cho các niệm của mình trở về với vắng lặng. Có như thế thì các duyên bên ngoài mới lần lần diệt mất. Có như thề thì mới đạt đến chỗ chân thật, tịch diệt của bản tâm hướng đến cõi an lạc Niết Bàn. đó cũng chính là chỗ diệu dụng của các bài kệ chú nguyện Tỳ Ni Nhật Dụng.

C. KẾT LUẬN

Đức Phật là bậc đã có “giác hạnh viên mãn”, chư Tổ nối tiếp theo Ngài là những vị đã tự mình giác ngộ và đang trên đường hoàn thiện hạnh giác tha. Chư Tăng Ni, các bậc tôn túc là những người kế thừa sự nghiệp hoằng truyền chánh pháp của đức Như Lai. Công hạnh của các Ngài là bài học vô giá, là giá trị đạo đức định hướng, soi đường cho hàng hậu học chúng con noi theo.

Con thật diễm phúc khi được là thành viên của Ni giới Hệ phái Khất sĩ. Được tiếp xúc với giáo pháp Khất sĩ, hiểu biết về giáo pháp Khất sĩ qua cuộc đời, công hạnh, đạo nghiệp và thơ văn của Ni trưởng Đệ nhất con như bừng tỉnh ngộ. Ni trưởng là hiện thân của Bồ tát. Từ lúc mới xuất gia, Người đã thể hiện rõ tinh thần Bồ tát qua hạnh nguyện “làm chiếc thuyền chở chuyên phái nữ”. Đến khi đức Tổ Sư vắng bóng, Người đã dùng trí tuệ và đức hạnh của mình để lèo lái con thuyền Ni giới Khất sĩ vượt qua phong ba bão táp. Người đã đưa Ni giới Khất sĩ hòa nhập vào ngôi nhà Phật giáo. Người đã khiến cho Ni giới Khất sĩ có mặt khắp mọi miền đất nước như hôm nay. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đạo pháp, cho quê hương, cho dân tộc. Người đã để lại cho Ni giới Khất sĩ chúng con một bài học tinh thần đáng kính. Người là niềm hãnh diện của Ni giới Khất sĩ. Người là đóa sen vàng của Ni giới Khất sĩ, là đóa Huỳnh Liên tỏa ngát hương thơm. Người thật xứng với pháp hạnh của vị Ni trưởng Đệ nhất trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ.

13. LIÊN CHÂN

Hồng Trung Sơn

KỆ CHƠN LÝ-XỨ THIÊN ĐƯỜNG

Trong Kinh Hoa Nghiêm có câu:

“Nhược nhơn dục liễu tri,

Tam thế nhứt thiết Phật.

Ưng quán pháp giới tánh,

Nhứt thiết duy tâm tạo”.

Nghĩa là tất cả mọi việc do tâm tạo ra, tâm làm chủ. Vì vậy, nhận ra tâm mình và làm chủ tâm mình, chúng ta không còn tạo ác nghiệp, thì không còn khổ và không còn sanh tử luân hồi.

Và trong Kinh Pháp Cú có viết : “Trong các pháp do tâm làm chủ, tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên”. Nghĩa là vạn pháp sai biệt trên thế gian này đều do tâm điều xử cả. Thế mà có mấy ai hiểu được điều này. Biển khổ trần gian cứ mãi dập dìu những mảnh đời vỡ vụn, không nhận diện được chân hạnh phúc ở đời sống hiện tại, rồi họ chỉ còn trông mong vào niềm hy vọng cuối cùng là cõi thiên đường nơi bên kia cửa tử. Cõi thiên đường có thật sự xa xăm, diệu vợi như thế chăng?

Chúng ta cùng tìm hiểu về xứ thiên đường qua bài kệ “Xứ Thiên Đường” được Đệ Nhất Ni trưởng phổ thơ dựa trên Chơn Lý số 39 của Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang.

“Tâm bình pháp giới tự nhiên bình,

Nghiệp tịnh thanh liền cảnh tịnh thanh.

Chim trổi Tứ đề ca giải thoát,

Gió đờn Bát chánh nhạc Vô sanh”.

Trong Phật Giáo có mười cõi giới (pháp giới) tương ứng với mười cảnh giới của tâm gồm: Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thinh văn, Trời, Người, A tu la, Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục. Tâm con người vốn bao la rộng lớn bao trùm cả xum la vạn vật. “Cũng tâm này Phật, cũng tâm này ma” hay “thiên đường địa ngục cũng tại tâm”. Cũng là một tâm nhưng lúc là cảnh giới Phật lúc cảnh giới ma, tích tắc chỉ trong một sát na, cảnh khổ cảnh vui ngay trong một ý nghĩ. Trong Kinh Tâm Địa Quán Đức Phật dạy: “Tâm tạo Chư Phật, tâm tạo chúng sanh, tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục, tâm vọng động thì muôn ngàn sai biệt, tâm bình thì thế giới thản nhiên, tâm thanh thì nhất đạo thanh tịnh, tâm hữu thì vạn cảnh tung hoành. Tự mình đạp mây mà uống cam lồ hay uống máu mủ cũng tự mình gây nên, không phải Trời sanh hay đất mà có”. Do đó ngay câu thơ đầu Đệ Nhất Ni trưởng giới thiệu cảnh thiên đường ngay trong mỗi chúng sanh, dưới sự rọi soi của tâm bình lặng, sáng suốt, không vướng nơi nào thì cõi giới bình yên tự nhiên hé lộ. Nhưng chúng sanh ưa dính mắc với cảnh trần mà sanh ra vọng chấp. Chấp vào ta, cái của ta mà sanh ra ngã sở. Chính cái ngã này chi phối toàn bộ. Cuộc sống con người che lấp đi tâm bình an mà chúng ta không hay biết, chỉ khi nào chúng ta chịu dừng lại, lắng động tâm tư, quán xét nhân duyên giả hợp trên cơ cấu khung sườn thân tâm. Từ đó thấu suốt được bản chất cuộc đời Vô Thường - Khổ - Vô Ngã, đánh bật đi cội rễ tham, sân, si, chuyển hóa vô minh thành trí tuệ, khi ấy cuộc sống mới đích thực là cuộc sống Thiên Đàng, Niết Bàn sẽ tự hiển bày. Hằng ngày chúng ta nuôi lớn xác thân tứ đại này qua thức ăn của thân và tâm. Thức ăn của thân chúng ta có thể chọn lựa và tẩy trùng sạch sẽ trước khi nạp vào cơ thể, nhưng phần thức ăn thuộc về tâm chúng ta không thể lựa chọn tốt xấu. Thức ăn đưa vào có thể ô nhiễm hay trong sạch thanh tịnh cũng từ những giác quan thấy, nghe, ngửi, nếm... nhưng qua guồng máy hoạt động của tâm các giác quan ấy sẽ được nhận diện qua cánh cửa nhận biết của tâm đâu là sự khổ, rồi từ đó thiết lập quy trình diệt tận cái khổ ấy qua con đường diệt khổ bằng tám nút ấn “Bát Chánh Đạo”.

Sản phẩm cuối cùng của quá trình thanh lọc ấy chỉ còn lại thanh tịnh, Chơn Như. Tương Ưng Bộ Kinh, phẩm mới và cũ, Phần Nghiệp, Đức Phật dạy: “Thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các nghiệp. Đây là con đường Bát Chánh Đạo” điểm cuối con đường ấy là cánh cửa vô sanh, cánh cửa của những người thanh lọc thân tâm, an lạc giải thoát. Ở đó có chim ca, gió đàn, tiếng nhạc nhưng tất cả chỉ hòa với một âm điệu giải thoát. Bằng chất liệu thơ ca, Đệ nhất Ni trưởng đã dùng biện pháp cách điệu nhẹ nhàng ngôn từ “Tứ Đế” và lối hành văn ví von thoát trần đã đưa những tâm hồn mõi mệt tìm thấy Đạo Pháp dễ dàng.

Qua bài Kệ Xứ Thiên Đường, Đệ nhất Ni trưởng đã cho chúng ta thấy Xứ Thiên Đường luôn hiển hiện mọi nơi ngay trong kiếp sống này. Nó tượng trưng cho những điều cao thượng tốt lành, vui tươi sáng lạng, những cảnh an lạc giải thoát.

“Cõi thiên đường là cõi lòng trong sạch, cao thượng.

Cảnh thiên đường là cảnh trí rộng lớn, mát mẻ.

Xứ thiên đường là sự thông minh sáng lạn, đẹp tươi”.

(Chơn Lý - Xứ Thiên Đường, trang 517)

Thiên đường là con đường thánh thiện của loài người. Thiên đường cũng là thức trí, còn là tâm hồn, là giáo lý tốt đẹp có nơi tất cả mỗi bậc trí giả, cao thì thật cao, xa thì thật xa, nhưng những ai quyết đến thì chỉ trong nháy mắt mà thôi.

“Cuộc giải thoát, như con thuyền rẽ nước,

Từ rạch cùng, ra sông cái mênh mang.

……………………………………………….

Mà đừng ngại cuộc hành trình diệu viễn,

Hễ nhất tâm, trong nháy mắt đến bờ”.

(Mộng Trần - NT Huỳnh Liên)

14. LIÊN NGHIÊM – VĨNH LONG

SỢ TỘI LỖI

Cuộc sống này chúng ta luôn chịu nhiều đau khổ, là do chính mình không hài lòng với những gì mình đang có, cứ mãi đi tìm điều gì đó xa vời hơn thế nữa, cứ như vậy rồi rơi vào con đường tội lỗi lúc nào không hay, khi trổ quả nhận lấy mọi đau khổ, lúc bấy giờ mới than trời, trách số phận tôi sao thế này, thế kia, nhưng có khi nào chúng ta lắng dịu để nhìn nhận, hiểu thật sâu, nhìn chậm lại, và chính mình nên làm thế nào để tâm mình luôn an lạc ngay trong hiện tại và vị lai.

“Vô biên phước tội kiếp lầm mê,

Trả hết, đền xong, tỏ lối về.

Đạo cả, đức dày, sung cội giác,

Công viên, quả mãn, đến bờ kia”.

(Sợ Tội Lỗi - Chơn Lý - Số 36)

Chúng ta có mặt trên cõi đời này và bị trầm luân trong đau khổ là vì vô minh, tham ái, mê đắm luyến tiếc, cứ bám víu vào thân thể tạm bợ vô thường chi phối mà cho là thật có, là của ta là ta là tự ngã của ta, không nhận ra được các pháp là duyên sanh, rồi một ngày cũng sẽ hủy diệt theo thời gian bởi định luật vô thường. Vì vô minh chúng ta bị trôi lăn trong sanh tử luân hồi vô lượng kiếp, ngày nay chúng ta vẫn đang trong vòng lẩn quẩn bởi vô minh, không thấy được đâu là thiện đâu là ác, không thấy được nhân quả, thì cứ mãi trôi lăn trong đau khổ. Nếu gieo nhân tốt gặt quả thiện lành, hễ gieo nhân ác gặt quả xấu ác. Con người vì vô minh không nhận ra được đâu là đúng, đâu là sai, cái đúng cho là sai, cái sai cho là đúng, chấp thủ và đề cao bản ngã, do vậy lúc nào cũng cảm thấy nặng nề như cõng đá trên lưng làm cho con người lúc nào cũng cảm thấy mệt mõi, bất an, đau khổ. Nhiều khi một lời nói tổn thương người khác, làm cho người khác phải đau khổ cùng tột “lời nói không là dao sao cắt lòng đau nhói” thế mà mình không nhận ra, hoặc khi biết người khác đau khổ vì lời nói của mình thì cảm thấy hài lòng, hoặc có khi nhận ra lời nói sai trái của mình nhưng vẫn cố ý tái phạm.

Khi học Phật, tin nhân quả, sợ tội lỗi, “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả” chúng ta hãy ráng thu thúc lục căn, khi sáu căn tiếp xúc sáu trần đừng để chúng nhiễm ô, hãy làm việc thiện tránh xa điều ác, chánh niệm tỉnh giác. Khi làm một hành động xấu, ác, phải biết ăn năn sám hối, ngăn ngừa để không tái phạm. Sợ tội lỗi nên tránh xa điều ác, đoạn tận điều ác và không để điều ác phát sanh. Tuy rằng những tập quán xấu xa của con người đã tích lũy từ quá khứ, nay khó từ bỏ ngay lập tức. Do vậy chúng ta hãy tinh tấn tu tập để đoạn trừ chúng dần dần. Hãy sống với lòng bao dung, yêu thương lẫn nhau và sợ tội lỗi. Một trái tim yêu thương chính là sự cho đi một vẻ đẹp của tâm hồn mà ai ai cũng đều mong muốn.

“Ta đã là người của chúng sanh,

Người nuôi ta để học gương lành.

Sống đây ta sống cho muôn loại,

Ta có quyền đâu sống lấy mình?”

(Cát Ái)

Chính vì lẽ đó, người xuất gia học Phật, lấy đạo đức làm nền tảng để noi gương cho đời. Cuộc đời còn đẹp, còn hạnh phúc, còn sự phát triển, đều nhờ vào con người biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, nương nhau để sống, mới tồn tại đến ngày hôm nay. Cho dù cuộc sống này không đủ duyên để tạo nhân lành với nhau đi chăng nữa, nhưng chỉ cần chúng ta mở rộng vòng tay thì sẽ kết thành những vòng hoa thơm dâng tặng cho đời.

Trong nhà Phật cũng vậy, chỉ có một chữ Phật thôi, tâm ai cũng nghĩ đến Phật, niệm Phật, học giáo lý của Phật, hành theo lời dạy của Phật thì sẽ được an lạc giải thoát như Ngài.

Tóm lại, chúng ta phải tin nhân quả, sợ tội lỗi, tránh xa điều xấu ác, làm các thiện lành để đem lại an lạc hạnh phúc cho mình và người.

15. LIÊN NGHĨA

Tịnh xá Ngọc Trường - Trà Vinh

TƯ TƯỞNG BÀI CHƠN LÝ SỐ 5: BÁT CHÁNH ĐẠO

Tám đường chánh đạo là “Bát chánh đạo”, hay còn gọi “Bát thánh đạo” là tám con đường chánh, đức Tổ sư Minh Đăng Quang gọi là “tám cách hành đạo, theo lẽ chánh của bậc thánh nhân”. Đây là giáo lý tự độ, độ tha hoàn hảo nhất mà đức Phật đã thân chứng. Ngài đem giáo pháp này chỉ ra cho những ai có tâm nguyện tu theo Ngài. Đức Tổ sư đã y cứ vào kinh điển triển khai giáo lý Bát chánh đạo thành pháp tu thiết thực, phù hợp với tăng ni Khất sĩ theo con đường hành trì Tứ y pháp trung đạo. Như lời Ni trưởng Đệ nhất đã dạy:

“Tám đường chánh đạo độ trần gian,

Một nguyện thành tâm thấu Niết bàn.

Sáng suốt hành tàng thông trí huệ,

Xa rời vọng tưởng đắc tâm an”.

(NT Huỳnh Liên - Chơn Lý số 5: Bát Chánh Đạo)

Bát chánh đạo là con đường đưa đến giác ngộ, giải thoát thông qua ba pháp tu căn bản Giới - Định - Tuệ. Tu theo Bát chánh đạo, chúng ta tự trang bị cho mình đầy đủ phạm hạnh, phát triển con đường tâm linh, tiến đến bậc thánh, đạt đến giải thoát, chứng quả Niết bàn. Vậy tám phương pháp mầu nhiệm ấy là gì? Đó là: 1.Chánh kiến; 2. Chánh tư duy; 3. Chánh ngữ; 4. Chánh nghiệp; 5. Chánh mạng; 6. Chánh tinh tấn; 7. Chánh niệm; 8. Chánh định.

Chánh kiến là yếu tố đầu tiên căn bản nhất cần thiết cho mỗi người hành trì trên con đường tu học. Chánh kiến là sự thấy biết đúng đắn trên con đường đạo và cả trên con đường tạo nghiệp. Nếu cái thấy biết ban đầu sai lệch, nó sẽ dẫn theo hàng loạt sai lệch. Do đó, bằng sự nghiên cứu và tu tập của chính bản thân, đức Tổ sư triển khai chi phần này phù hợp với sự ứng dụng thực tế, khế cơ và khế lý, để tất cả đàn hậu học chúng ta đều được lợi ích từ pháp tu chánh kiến này.

Theo đúng tinh thần kinh điển, đức Tổ sư dạy, chánh kiến là thấy rõ sự thật của cái khổ của Tứ đế, bao gồm sự nhận thức đúng đắn từng hành động, cử chỉ của chúng ta, thấy được thế gian là vô thường, con người là giả hợp, chịu sự chi phối của sanh, già, bệnh, chết. Nhờ thấy được bản chất cuộc đời là như vậy để bỏ khổ tìm vui, xuất gia học đạo, xa lìa ngũ dục, sống đời yểm ly, nỗ lực tu tập hầu đạt đến sự an lạc. Đức Tổ sư nói những người nhìn thấy được như vậy, có cách suy nghĩ đúng như vậy thì theo tinh thần nhà đạo gọi là có Chánh kiến.

Chánh tư duy là sự suy nghĩ một cách chơn chánh trong đời sống tu học của một người Khất sĩ. Đó là chúng ta luôn chiêm nghiệm, sưu tầm chơn lý, nghiên cứu kinh điển để rút ra những cốt lõi mà phát huy trí tuệ. Thường các bậc chơn tu thường chọn nơi thanh vắng để tư duy thiền quán. Tư duy của các bậc chơn tu giúp cho những vị này phát triển định tâm mà không làm tổn thương đến người và vạn vật nên gọi là Chánh tư duy.

Chánh ngữ là lời nói thiện lành, ôn hòa hiền hậu, chân thật muốn đem lại an vui, hạnh phúc cho người. Với người xuất gia, để có thể thực hành Chánh ngữ trong cuộc sống, ta cần suy xét, cân nhắc trước khi thốt ra lời, dùng lời nói để nói chánh pháp lợi đạo ích đời, không nói lời sai lệch sự thật, lời phù phiếm, lưỡng thiệt và ác khẩu. Muốn vậy phải biết sợ quả xấu do lời nói tà ngữ gây ra. Ni trưởng cũng dạy:

“Miệng ta là cánh hoa sen,

Một khi hé nở, một phen thơm lừng!

Tiếng ta là gió mùa xuân,

Một cơn thổi nhẹ, muôn dân mát lòng!”.

Chánh nghiệp là hành động luôn giữ cho chơn chánh, cụ thể là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm… từ bỏ hết những việc làm phi phạm hạnh. Chánh nghiệp đối với người tu theo giáo pháp Khất sĩ là thực hành hạnh trì bình khất thực, ăn ngày một bữa trưa, nghỉ nơi lều vắng, gốc cây, thong dong nhẹ nhàng không tham chấp vào những nhu cầu về ăn, mặc, ở, bệnh theo tứ y pháp:

“Khất thực không nài vật uống ăn,

Mặc y phấn tảo hạnh thanh bần.

Tàng cây, nhà vắng, tu thiền quán,

Rễ lá sơ sài, dụng thuốc thang”.

(NT. Huỳnh Liên - Kệ Chơn Lý số 25)

Chánh nghiệp thể hiện đời sống phạm hạnh, ít muốn biết đủ trên tinh thần của tôn chỉ “Nối truyền Thích Ca chánh pháp” của đức Tổ sư, làm sống lại hình ảnh chân chất, thanh bần của một người tu thoát tục. Người thực hành chánh nghiệp luôn ý thức rằng mọi thứ trong cuộc sống hằng ngày đều là sự vay mượn, không có cái gì là ta, là của ta. Do vậy, sống đời tri túc, lấy chánh pháp cứu độ người làm nghề nghiệp chánh đáng của người tu hạnh Khất sĩ, không làm tổn hại người và vật là sống theo Chánh nghiệp.

Chánh mạng là sống chơn chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, không tham lam của người khác, không làm bất cứ việc gì gây ra tệ nạn xã hội, không hại người hại mình, sống bằng tâm chơn như, luôn hướng về phụng sự đạo pháp, lợi lạc quần sanh với tinh thần của cố Ni trưởng Huỳnh Liên đã dạy:

“Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn đạo pháp, cho tình quê hương.”

Hoặc:

“Sống đây ta sống cho muôn loại,

Ta có quyền đâu sống lấy mình?”

Trên tinh thần sống chánh mạng, đức Tổ sư nhắc nhở chúng ta, là người xuất gia, không từ làm nuôi sống thân mình, mà phải nhờ vào sự phát tâm của đàn na tín thí, nên chúng ta cần phải nhắc nhở mình luôn nhớ ơn và báo ơn xứng đáng với tâm niệm của chúng sanh, sống cho trong sạch, chết cũng phải cho trong sạch. Đây mới được gọi là chánh mạng.

Chánh tinh tấn là pháp tu siêng năng, cố gắng, nỗ lực trong mọi sự tu tập, giữ gìn phạm hạnh trang nghiêm thanh tịnh, thường thực hành thiền quán để nhắc mình luôn làm thiện, sống thiện và xa rời ác, không nuôi dưỡng tâm ác. Người xuất gia có chánh tinh tấn luôn phát nguyện dõng mãnh, luôn làm việc vì lợi ích cho chúng sanh. Chánh tinh tấn còn thể hiện ở chỗ đem sự hiểu biết, tu tập của mình để giáo hóa chúng sanh với tinh thần tự lợi, lợi tha.

Chánh niệm là lúc nào ta cũng ghi nhớ chơn chánh, luôn tưởng niệm đến Phật, pháp, tăng, tâm tâm niệm niệm về các pháp lành để ba nghiệp thân, khẩu, ý được thanh tịnh, không gây tạo nghiệp bất thiện. Người có chánh niệm luôn nghĩ đến điều lành, làm việc lành, nói lời lành, tránh xa các điều ác. Với những điều ác đã lỡ làm, một lòng dốc tâm sám hối, ghi nhớ trong tâm để không phạm lỗi lầm nữa. Chúng ta phải thường nghĩ nhớ đến bản chất cuộc đời là vô thường, khổ và huyễn hóa để xa lìa dục vọng và ái nhiễm. Nhờ chánh niệm, chúng ta biết nương vào cái giả để tìm cái thật. Như vậy, pháp chánh niệm luôn là phương tiện hỗ trợ chúng ta trên bước đường hoàn thiện mình trên lộ trình giải thoát.

Chánh định là con đường cuối cùng hay còn gọi là giai đoạn cuối cùng của tám con đường mà mỗi người tu chơn chánh đều phải đi qua. Nhờ sự hỗ trợ của bảy phương pháp chơn chánh trên mà chúng ta đạt được chánh định hoàn mãn. Khi có chánh định, chúng ta trở về với bản tánh chơn như, thanh tịnh của mình, diệt tận cội gốc vô minh, phiền não, lậu hoặc nhiễm ô.

Thực hành Bát chánh đạo là chúng ta thực hành đạo đế - con đường đưa đến đoạn tận khổ đau. Đây là mục đích của mỗi chúng ta. Do đó, Bát chánh đạo là con đường hoàn hảo, là chiếc thuyền vững chắc đưa chúng ta từ bến mê sang bờ giác, tiến vào ngôi nhà giải thoát, bất sanh, bất diệt, cứu cánh Niết Bàn.

Bát chánh đạo là tám con đường, tám phương cách để diệt tận khổ đau, đưa chúng sanh từ bờ mê sanh tử luân hồi đến bến giác an vui, giải thoát.

Muốn thành tựu bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh an vui trong cuộc sống tại thế, chúng ta phải lập nguyện vững chắc như đức Phật thuở xưa ngồi dưới cội bồ đề suốt 49 ngày đêm với lời phát nguyện: “Nếu không thành đạo chẳng hề dậy đi”. Với nguyện lực vững chắc, cộng thêm sự nỗ lực, tinh tấn tu tập Bát chánh đạo, chúng ta sẽ đạt được từ bi và trí tuệ. Với bi và trí viên dung, chúng ta có thể làm lợi ích cho mình và cho người trên tinh thần tự lợi, lợi tha như các bậc Bồ tát sẵn sàng đưa chúng sanh ra khỏi biển đời sanh tử. Bát chánh đạo chính là con đường trung đạo tối thượng để hành giả thành tựu đạo quả tu tập ngay tại thế gian này, tạo dựng Niết Bàn tại thế chứ không cần tìm cầu ở kiếp sống nào khác xa xôi. Do đó, những người đang thực hành lời Phật dạy như chúng ta muốn tiến đến quả vị giải thoát giác ngộ cần phải luôn nuôi dưỡng nguyện lực của mình và không thể xa rời con đường Bát chánh đạo.

16. LIÊN THANH – QUẬN 12

Chơn lý: HỌC ĐỂ TU

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, bậc Thánh hiền đều lấy tâm làm gốc cho các pháp, cùng ý chí nỗ lực để vượt qua tất cả thử thách chông gai trên con đường tu tập. Nhưng chúng ta phải biết học là để làm trợ duyên cho việc tu tập chứ không phải học cho nhiều mà không tu tập thì không sao thoát khỏi sanh tử luân hồi. Vì học “mới thông suốt được tam tạng kinh điển để rạng ngời Chánh pháp”. “Tu” tập để sửa tâm ngụy thành tâm chơn, mà trong chơn lý của Tổ Sư được Cố Ni trưởng phổ thành thơ để nhắc nhở cho hàng hậu học biết rõ được giá trị của “Học Để Tu”:

“Cửa pháp cài then thử thách người,

Kiên trì tinh tấn chí không lui.

Thức tâm vô ngã thần thông hiện,

Kiến tánh Chơn như giác ngộ rồi”.

Thật vậy! Trên bước đường tu tập của chúng ta đầy dẫy những sự phức tạp, khổ đau thử thách chông gai, đầy khó nhọc. Muốn vượt qua chướng ngại thử thách đó hành giả phải thấu nhập pháp môn và kiên trì tinh tấn tu tập. Giáo pháp của Đức Phật dạy là để dành cho người đến, để mà nghe, thấy và hiểu. Phật dạy chúng ta phải can đảm nhìn vào sự thật vào chính tâm mình để diệt trừ tội lỗi, tâm bất thiện, tâm hư dối, khinh mạn tà kiến, hãy mau dẹp sạch những ý niệm đó ngay khỏi tâm mình và nó là duyên để tạo tội. Khi xưa, vào thời Đức Phật các chư Tỳ kheo nghe pháp thấy được điều đó là khổ, là vướng mắc, là tội lỗi. Nên các Ngài đã chứng đạt rất mau, vì các Ngài đã ngộ ra được lý vô thường, duyên khởi của các pháp, đoạn trừ được tất cả ái nhiễm tham lam, dục vọng đều được đoạn trừ sạch, cống cao ngã mạn cũng được diệt luôn. Các Ngài luôn xem mình là dốt nát, thấp kém. Ví như Ngài Ca Diếp là một bậc Trưởng lão nhưng Ngài lúc nào cũng xem mình như đất, mặc dù đất là nơi người ta có thể giẫm đạp, thậm chí đổ cả những vật ô uế, dơ bẩn nhất mà đất vẫn lặng thinh chấp nhận.

Ngược lại, Ngài A Nan thì cống cao ngã mạn, lúc nào cũng xem mình là thông minh, tài trí giỏi hay, học cao hiểu rộng nên sanh lòng ngạo mạn, lại thêm ỷ vào sự che chở của Đức Phật nên khi đi tu mà còn luyến ái, đến đỗi bị gái bắt, dẫn dụ nhốt giam, chỉ lo ham dạy người mà không lo tu tập, cho đến khi Phật nhập Niết Bàn thì bơ vơ tẻ lạc, đau đớn khổ sở… Khi ấy Ngài ăn năn hối quá không kịp nữa.

Chúng ta phải học tập, noi theo gương hạnh của Đại đức Ca Diếp nỗ lực tinh tấn tu tập, giữ gìn giới luật không sai phạm. Từ các hành vi cử chỉ luôn trang nghiêm thanh tịnh, luôn nhẫn nhục, khiêm hạ, nói lời ôn hòa với mọi người trong mối quan hệ, gần gũi hay xa lìa, oán ghét, đều do nơi lời nói mà ra. Cho dù bất cứ hoàn cảnh nào thuận hay nghịch, khen chê, khổ vui, tán thán hay phỉ báng chúng ta đều phải giữ một trạng thái trầm tĩnh, biết mình biết người. Chúng ta nên biết rằng tội hay phước là do tự mình gieo tạo mà sanh ra quả báo, duy chỉ luật nhân quả mới thật sự định đoạt được nghiệp lực chính mình mà thôi. Chúng ta đã được đi học ít nhiều gì cũng hiểu được, vì thế nên ta cần phải nỗ lực tinh tấn tu học thực hành thì đắc đạo quả không sai.

Tổ dạy: “Trong đời một kẻ nói một kẻ hành cũng như thế, hành đạo là đắc đạo chứ học đạo là chưa đắc đạo đâu. Học là để biết đằng tu hành chớ không phải học là để học, học mãi cho điên, cho chán, cho chết, cho hết thời giờ tự vẫn…” Chúng ta cứ mãi lo học mà không hành, không tu tập sẽ khiến cho con đường tu không tiến bộ. Và lúc nào ta cũng cống cao ngã mạn ỷ mình học giỏi, học nhiều, cái gì cũng biết, bằng nào cũng có… xem mọi người không ra gì, cho mọi người là nhỏ bé là sai trái, còn mình thì lúc nào cũng to lớn cũng hay cũng giỏi khiến dần dần mất đi phước báu, chỉ còn lại những kiến thức mà không có trí tuệ. Ngài A Nan cũng thế, do vì ỷ lại mình là hầu cận thân Phật, là con cháu vua, là thông minh bậc nhất, chỉ ham dạy người mà không chịu tu tập. Nên khi Ngài Ca Diếp lấy nơi trí tuệ mà hỏi một câu ông A Nan trả lời không được, chừng ấy mới biết mình là dốt kém… Sau khi bị Ngài Ca Diếp đóng cửa đuổi ra ngoài không cho vào Giáo hội kiết tập kinh điển, bị sa thải nhục nhã, đau đớn, mọi người xem thường, bấy giờ ông A Nan chỉ muốn chết vô cùng đau khổ, Ngài nghĩ rằng mình không thể nào đắc nổi Thánh quả thanh tịnh A La hán được. Vì Ngài ỷ vào Đức Phật nên không chịu học hỏi và không chịu tu thiền định nên mới khổ não đến tột cùng như vậy. Thấy rõ điều ấy là tai hại chúng ta phải cố gắng tu tập thiền định vì thiền định chính là một pháp môn tu tập giúp hành giả phát sanh trí tuệ và là món ăn tinh thần không thể thiếu của người xuất gia. Giúp hành giả chú tâm vào đối tượng duy nhất, không cho tâm tán loạn, để tâm được vắng lặng an tịnh hoàn toàn thì Phật tánh sẽ hiển bày, trí tuệ được khai mở giống như mặt hồ trong xanh, vắng lặng thì ta có thể thấy được tận đáy hồ và thấy rõ được mọi sinh vật đang sinh sống trong ấy. Chúng ta cố gắng tinh tấn tu tập sẽ vượt qua mọi thử thách chông gai. Muốn thành tựu Phật dạy “hành giả phải tự mình thắp đuốc lên mà đi”, đi bằng chính đôi chân của mình, bằng sự học hỏi tu tập. Vì có học hỏi mới biết, mới hiểu rõ ràng, mới vững chắc trên lộ trình đi đến kiến tánh giác ngộ được:

“Tu có học mới rạng ngời Chánh Pháp,

Học có tu mới lợi Đạo ích Đời”.

(Cố Ni trưởng Huỳnh Liên)

Chúng ta cứ tinh tấn tu học thật tốt sẽ được chư Phật, chư Thiên gia hộ thì con đường giải thoát cũng đang kề bên chúng ta.

Suy cho cùng người xuất gia điều cần thiết nhất là “Học Để Tu”, vừa học vừa tu mới trở nên người đức hạnh có đạo đức, sống an vui trong mọi hoàn cảnh, mọi thời khắc, tuy ta chưa được giải thoát, nhưng siêng năng tinh tấn tu học thật tốt, làm việc thiện lành, giúp đỡ mọi người, sống ý thức trách nhiệm , không kiêu mạn, không chạy trốn sự thật, không ỷ vào người khác mà phải luôn tự quyết định hành động của mình, đem lợi ích đến cho mọi người xung quanh. Góp nhặt cho thật nhiều phước đức để làm tư lương trên lộ trình giải thoát, bằng một nghị lực phi thường không vướng bận để vượt thoát mọi khổ ách xảy ra, hướng dẫn mọi người cùng qua khỏi bến sông mê bước lên thuyền giác. Đó chính là mục tiêu cứu cánh nhất mà mọi người xuất gia cần phải thực hiện và thành đạt.

17. LIÊN NGUYỆN

Chơn lý: VÕ TRỤ QUAN

Trong thời gian Đức Tổ Sư còn tại thế Ngài đã hoằng hóa độ sanh giảng pháp ở khắp miền Nam Việt Nam. Với bổn nguyện hoằng hóa độ sanh không bờ bến, bởi tấm lòng từ ái vô biên, Tổ Sư đã tận lực hoằng hóa không một ngày dừng nghỉ, không một phút xao lãng. Những bài thuyết giảng của Ngài là một pháp bảo vô cùng quý báu với bộ Chơn Lý thể hiện tinh hoa của Phật giáo Nguyên thủy cũng như phát triển. Nhờ vậy, nguồn đạo pháp được khai mở, chẳng bao lâu mà bóng y vàng lan tỏa, Già lam Tịnh xá phủ bóng nhiều nơi. Bộ Chơn Lý này để cho dễ học, Đệ nhất Ni trưởng có tóm lược mỗi bài là một bài kệ theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Trong bài Võ Trụ Quan được Đệ nhất chuyển thành thơ như sau:

“Thăm thẳm bao la khoảng đất trời,

Người hơn muôn vật giữa trần ai.

Nghiệp duyên thay đổi phàm nên Thánh,

Chánh pháp truyền ban đạo cứu đời”.

Để hiểu rõ bài kệ này, chúng ta hãy tìm hiểu Võ Trụ Quan là gì? Võ là bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc còn gọi là bốn phương tám hướng. Trụ là chỉ cho thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai. Hai chữ Võ Trụ này bao gồm tất cả sự, mọi vật, con người đều nằm ở trong đó. Võ trụ rộng lớn như vậy nên thế giới được hình thành và phát triển. Quan là quán sát, cách nhìn, xem xét. Vậy Võ trụ quan là nghiên cứu sự vô thường biến dị, sanh trụ dị diệt, thành trụ hoại không, sanh già bệnh chết và đây cũng chính là quá trình của mỗi đối tượng.

“Thăm thẳm bao la khoảng đất trời”, với một câu kệ có tính chất văn học cao, Ni trưởng đã nêu lên được cái hay bao gồm tất cả trời đất, không gian, con người thật nhỏ bé trong khoảng đất trời thăm thẳm bao la đó. Trong bài “Giả chơn tịnh quán” kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật dạy: “Quán sát trời đất nhớ tưởng đến sự vô thường, quán sát thế giới cũng vô thường. Quán tánh linh và sự giác ngộ chơn tâm bản tánh của mình tức là Bồ đề. Có sự hiểu như vậy sẽ đắc đạo rất nhanh”. Đây cũng là công phu tu tập, hiểu ngộ cuộc đời vô thường, khi vô thường đến thì chúng ta có thể đối diện với vô thường được hay không? Chúng ta phải quán nghiêm mật thì đắc quả mới nhanh, quán cái chết rồi thì không còn gì phải quyến luyến gì hết. Thời các Ngài Độc Giác Phật giác ngộ rất dễ dàng. Các Ngài Độc Giác sanh ra thời không có Phật, nhưng các Ngài nhìn lá vàng rơi có thể chứng đạo quả. Vì trong quá khứ nhiều kiếp các Ngài cũng quán sự vô thường nên hôm nay quán sự vô thường thấy lá vàng rơi các Ngài đắc đạo quả nhanh hơn.

“Người hơn muôn vật giữa trần ai”.

Trong lục đạo gồm có: Trời, người, A Tu La, địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Nếu đếm từ dưới thì con người đứng thứ năm. Kinh Khóa Hư có nói:

“Trong tam tài con người đứng giữa,

Trong vạn vật, con người chí linh”.

(Kinh Khóa Hư - NT Huỳnh Liên)

Muôn vật là tất cả vạn vật, vạn sự, vạn chúng sanh và Đệ nhất Ni trưởng nhấn mạnh con người là hơn hết. Cõi trời quá hạnh phúc còn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh quá khổ, quá lu mờ. Súc sanh thì không thể tu được mặc dầu nó vẫn có tánh linh. Trong Kinh Phật dạy: “Vạn vật đều bình đẳng”, cũng trong Kinh Khóa Hư có câu:

“Trăn nghe Sám mà sanh lên trời,

Rồng nghe Kinh mà hiểu tới đạo”.

(Kinh Khóa Hư - NT Huỳnh Liên)

Long nữ là rồng nghe kinh đắc được đạo. Nhưng muốn thành Phật phải chuyển tướng nam tử rồi mới chứng thành Phật quả. Loài vật cũng có tánh linh nhưng trong cảnh giới của chúng là mê mờ khó có nhân duyên gặp đạo tu hành. Trong Chơn lý Đức Tổ Sư có nói thời tiến hóa đầu tiên là cỏ, cây, thú, người, trời, Phật. Ở cõi người, con người mới có điều kiện tu hành thành Phật được. Bởi thế, Đệ nhất Ni trưởng cũng có câu: “Chơn tu thành Phật, Phật là người tu”.

Đức Phật Thích Ca thành Phật là phải giáng sinh xuống cõi người tu mới thành Phật. Chúng ta sanh làm người giống như đất ở trong tay, còn sanh ở địa ngục giống như đất ở đại địa. Câu chuyện rùa mù một trăm năm mới nổi lên một lần là một ví dụ thể hiện làm người rất khó. Với câu của Đệ nhất Ni trưởng chuyển kệ, chúng ta nhỏ bé giữa cuộc đời vô thường, con người chính là hơn hẳn muôn vật. Kinh Pháp Cú có câu:

“Toàn được khen toàn bị chê,

Xưa, sau, hiện tại chưa hề có ai”.

(Kinh Pháp Cú - NT Huỳnh Liên)

Trong cuộc đời tu chúng ta phải tu học tinh tấn và phải tu học làm sao để thành công suốt cuộc đời trong sự an lạc.

“Nghiệp duyên thay đổi phàm nên thánh”. Nhiều tôn giáo khác nói rằng mọi việc, mọi vật đều do trời sanh ra nhưng trong Phật giáo nói nghiệp do chúng ta. Đất nước Ấn Độ vào thời Đức Phật có sự phân chia giai cấp rõ ràng, Bà la môn và Sát đế lợi được xem là những người thuộc giai cấp bề trên, còn Phệ xá và Thủ đà la là hạng nông nô, nô lệ phải phục tùng, hầu hạ hai giai cấp trên. Trước sự bất công của xã hội, con người sống trong đau khổ, than oán. Đức Phật đã ra đời xóa tan sự bất bình đẳng, mở ra cho những người cùng khổ một ánh sáng mới, cuộc sống mới. Với lòng đại từ đại bi, Đức Phật đã mang đến cho muôn loài bức thông điệp bất hủ, một tình thương muôn thuở đó là: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn”.

Thời Đức Phật, thông minh như Ngài Xá Lợi Phất, Phật cũng độ, ngu dốt như Ngài Bàn Đặc Phật cũng độ, cho đến những người làm nghề đối với thế gian cho rằng là nhơ nhớp như kỹ nữ Liên Hoa Sắc mà Phật cũng độ. Nghiệp duyên thay đổi, con người làm chủ. Ngài cũng phá bỏ chế độ giai cấp, Ngài là một người vĩ đại đến thế, như Kệ Trích Lục Đệ nhất Ni trưởng có nói:

“Cũng thân này tạo gây nghiệp ác,

Cũng thân này tu các hạnh lành.

Cũng thân này mê vọng chúng sanh,

Cũng thân này giác chơn thành Phật”.

“Chánh pháp truyền ban đạo cứu đời”. Bổn phận người con Phật đều là chánh pháp truyền ban. Đức Phật vì lòng từ bi vô lượng không từ mệt nhọc cứu độ chúng sanh, đưa chúng sanh từ bến mê qua bờ giải thoát. Nhiều người nghe giảng pháp tu tập theo pháp mà đã an lạc, hạnh phúc. Nhờ có tu, nhờ có pháp, học pháp mà được chứng ngộ rồi đem pháp truyền ban cho mọi người. Đối với khẩu giáo thì thuyết giảng, thân giáo giữ oai nghi, ý giáo tâm từ bi thanh tịnh hướng mọi người về đạo. Từ thân, khẩu, ý trang nghiêm thanh tịnh, thực hành đúng chánh pháp đem lại lợi ích cho tự thân và tha nhân.

Thật vậy, Đệ nhất Ni trưởng tóm lược ý chính trong chơn lý của Tổ Sư thành bốn câu kệ ngắn gọn có giá trị văn học và rất ý nghĩa. Vì nó bao gồm những đại ý trong chơn lý Tổ Sư, chỉ với bốn câu đã nói lên sự cấu thành của võ trụ. Đức Tổ Sư cũng nói đầu tiên là cỏ, cây, thú, người, trời, Phật. Tu làm sao để tiến tới nẻo Phật và quán được trời đất, quán vô thường. Mỗi ngày hằng suy niệm đến sẽ tiến bộ rất nhanh trên đường đạo. Vậy nên quan trọng hơn hết là cần phải có tu, vì nhờ có tu mà chúng ta mới có thể lợi đạo ích đời:

“Tu có học mới rạng ngời Chánh pháp,

Học có tu mới lợi Đạo, ích Đời”.

(Ni trưởng Huỳnh Liên)

18. LIÊN PHÁP

Chùa An Ninh, Phú Yên

SÁM HỐI

Mỗi người chúng ta hiện hữu trong cõi đời, đều có một nhân thân, một duyên nghiệp khác nhau, không ai giống ai, từ thân tướng đến giới tính, cá tính, biệt nghiệp, lời nói, tâm tính cho đến cảm xúc, biểu hiện.

Đó là kết quả tất yếu, từ nhiều đời, nhiều kiếp, của chính mình gây tạo và tích tụ. Đức Phật dạy tội do tâm tạo thì cũng do tâm diệt. Trong Kệ Chơn Lý có câu:

“Tội khởi từ tâm sám tại tâm,

Tâm bằng diệt dứt tội tiêu trầm.

Tội tiêu tâm diệt hai đàng dứt,

Sám hối như vầy mới thật chân”.

(Chơn Lý số 59: Sám Hối - NT Huỳnh Liên)

Ý nghĩa sám hối - sám là ăn năn lỗi trước, hối là chừa bỏ lỗi sau. Sám hối nghĩa là hối hận những lỗi lầm đã gây ra và nguyện không tái phạm nữa.

Sống trong cõi đời chung quanh ta mọi vật dường như quyến rủ tâm tham để ta sa vào vòng ham muốn, gây ra tội lỗi mà con người không cưỡng lại được. Tâm tham hiện hữu như một dòng sông vẩn đục chìm trong tội lỗi càng lúc càng sâu dày.

Tâm nghĩ ác sanh ra sát sanh,

Tâm nghĩ tham sanh ra trộm cắp,

Tâm nghĩ tư tưởng sanh ra tà dâm,

Tâm nghĩ hành vi sanh ra vọng ngữ.

Và sáu căn tiếp xúc sáu trần nhiễm mê, kìa như dinh thự, lầu đài, gấm vóc, tố sa đẹp tốt, cao lương mỹ vị, bĩ bàng ngon quý.

Tất cả nguồn ấy như thúc dục, như cuốn lôi không hạn lượng của tâm người, muốn thọ hưởng và chiếm giữ cho riêng mình.

Đó là thức trí lu mờ nên tâm vọng động tham lam, không biết đầu đuôi, thiệt giả, đánh liều mặc cho cái tham thúc giục lôi kéo. Thật là thảm thương cho sự mê muội, mà trong đời từ lâu chúng sanh ngộp đắm trong lầy sâu đêm tối. Nay chúng ta có duyên lành được đến với đạo, quy y tam bảo. Đây chính là bước đột phá nơi mỗi cuộc đời của chúng ta, tìm ra lẽ sống an vui. Biết xác thân là giả hợp không còn chấp lấy cõi đời là thật, cái thân là thật. Bây giờ mới giác ngộ, mới hiểu được. Sự vui thiện nhẹ cao hơn cái vui ác là sự vui vật chất, gốc khổ sầu, tai họa và tội lỗi. Người ta phát tâm, bỏ ác, làm lành, diệt trừ tâm ham muốn, khởi tâm từ và dõng mãnh đoạn trừ nghiệp ác.

Diệt tâm ác sống trong chánh nghiệp mở lòng từ mua vật phóng sanh.

Diệt tâm tham phát tâm cúng dường bố thí.

Diệt tâm tà sống chánh trực trang nghiêm không vọng ngữ nói lời chơn chánh thật thà.

“Dừng chân là bóng chẳng theo,

Nhơn tay thì nghiệp chẳng đeo bên mình”.

(Giới Sát)

Sám hối lời nói xuất phát từ trong tâm phát khởi, là một yếu tố quan trọng cho bước đường xây dựng ngôi nhà an lạc, thánh thiện, nó không những là tội lỗi được tiêu trừ, mà còn tạo nguồn an lạc, hạnh phúc vĩnh cửu.

Sám hối đạo Phật muốn chỉ cho chúng ta biết rằng, tội lỗi do chính chúng ta tạo tác thì cũng chính chúng ta phải tháo gỡ, bằng cách là phải nổ lực tinh cần, sám hối và khắc phục ngăn ngừa tội quấy sắp phát sanh và thực hành, từ bi, bố thí nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới, có đủ những yếu tố trên, mới gọi là xây dựng nấc thang tiến hóa của sự sám hối. Và nhờ giới luật làm nguyên tắc đạo đức mà Phật đã chế định cho đệ tử cùng Phật tử tu tập những điều lành, ngăn chừa các điều dữ.

“Giới giữ cho thân sạch lỗi lầm,

Cho tâm như ngọc luyện dồi tâm.

Cho hoa Trí huệ tươi ngàn kiếp,

Cho quả Từ bi đẹp bội phần”.

(NT Huỳnh Liên - Chơn Lý số 55: Giới Phật Tử)

19. DIỆU LIÊN

Tịnh xá Ngọc Bình, Cẩm Mỹ

TAM HỌC

Bậc cổ Đức dạy:

“Cây có cội mới tủa cành xanh ngọn,

Nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông.

Trò giác ngộ ắt nhờ công Thầy Tổ”.

Ngày nay Ni giới Hệ phái Khất sĩ. Ni chúng, chúng con được về Tổ đình Ngọc Phương an cư kiết hạ thúc liễm thân tâm trau giồi giới đức, tu giới định tuệ; được bước chân vào các trường Phật học, được tham dự các Khóa tu, được đi du học... Tất cả đều do tinh thần đoàn kết, lấy phương châm phục vụ đạo pháp và dân tộc làm kim chỉ nam cho cuộc sống tu hành lúc ban đầu của Ni trưởng Đệ Nhất.

Trước lúc viên tịch Ni trưởng ân cần nhắc nhở Chư Ni, nỗ lực tu hành lấy giới, định, huệ làm căn bản:

“Ngày đã cận cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa.

Định Huệ không thiếu không thừa,

Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”.

Thật vậy, ngày giờ trôi qua rất nhanh. Chúng ta phải siêng năng tinh tấn cầu học giới pháp, trong lòng ghi nhớ để hành trì, không nên lần lựa qua ngày, sanh tâm khinh mạn giới, luống ra vào cửa Tịnh xá lãng phí thời gian, cuối cùng lãnh thọ quả khổ đau:

“Giới giữ sao trong sạch như xưa”: Giới là nguồn cội của Đạo Phật, giới còn thì đạo Phật vẫn còn, giới mất thì đạo Phật phải mất; giới ví như khuôn hình cái trống, để bảo thủ lấy cái tiếng đầm ấm thanh tao của nó; giới ví như bầu không khí để hộ lấy sự sống của muôn loại. (Kệ Giới)

Định phải trên cơ sở “Tứ Niệm Xứ” (Bốn chỗ ghi nhớ), tinh cần chánh niệm về thân, thọ, tâm, pháp, phòng hộ sáu căn.

Ngưới Khất sĩ chỉ có ba pháp tu học vắn tắt là: Giới, Định, Huệ. Bởi giữ giới Y Bát là giải thoát mọi điều trói buộc, phiền não ô nhiễm rồi, nên hằng được thong thả rãnh rang ở trong cái thật, cái không xao động, chỉ còn có nhập định và tham thiền, tức là vừa tìm học trong trí não, vừa để tâm yên lặng đứng ngừng: Gọi là tâm nghĩ ngơi và trí làm việc, khỏe làm mệt nghỉ. Khi trí làm thì năng sanh huệ, lúc tâm nghỉ thì phát thần thông. Cho nên, quả linh vào đạo lý tiến triển nhiệm mầu mà người Khất sĩ thì không có phút nào gọi là lêu lỏng. Nhưng đối với sự làm việc định huệ ấy, không có hình tướng chi cả. Nên xem bề ngoài như kẻ ở không. Vậy giới luật là Y Bát là Khất sĩ là Định Huệ. Nếu Khất sĩ không có tu về Định Huệ dầu mà có trì giới không đi nữa, cũng chưa gọi được là Khất sĩ. Vì chữ Sĩ đây là sự học đạo lý với quả linh, bằng pháp tu Định Huệ. Tu tức là học, hay học tức là tu. Bởi tại hành mà dạy sanh ra học. tu học Định Huệ là do giới Y Bát Khất sĩ. Như vậy là trong tiếng Khất sĩ, đủ gồm cả Giới, Định, Huệ. Có giới hạnh mới được làm Khất sĩ, nên trước khi vào đạo cũng phải học giới và tu tập cho thuộc nhuần (Chơn lý Y Bát Chơn Truyền).

Kẻ Khất sĩ mà không có định là ra người khất cái. Chỉ có Định mới sanh Huệ, Định Huệ song tu. Do nơi giới luật Khất sĩ thì chơn như toàn giác mới sống đời, đúng theo chơn lý lẽ thật. Tức là Chánh đạo, đạo của võ trụ, của ta và của tất cả, hay là đạo của tâm mình (Chơn lý Nhập Định).

Định Huệ không thiếu không thừa: Giới là sanh mạng là hơi thở của người xuất gia. Người sống theo giới luật là tự mình tìm được căn nguyên phát triển tất cả pháp lành. Cho nên không luận Tăng hay tục cần phải tu học, khép mình vào giới nghi, kỷ luật mới có thể trở thành bậc đống lương trong Phật pháp, người hữu dụng của Xã hội.

Giới luật là điều quan trọng. Trong một đoàn thể, đạo hay đời. Nếu không cùng nhau giữ gìn giới điều đã thọ, kỷ luật quy tắc, thì chúng ta không bao giờ sống chung với nhau được. Vô kỷ luật thì một đoàn thể không tồn tại được. Ni trưởng dạy:

“Tâm nhơ mang tấm Y vàng,

Giới nghi bừa bãi chẳng thà không mang”.

Sự tu chỉ cốt ở chỗ thực hành, dù thông minh tài trí đến đâu, dù tham hiểu kinh, luật, giáo lý đến đâu mà không thực hành cũng vô ích. Chúng ta đừng nên quên rằng chữ “Hành” thường đi theo chữ “Học” và chữ “Tu” (học hành, tu hành).

“Tu có học mới rạng ngời Chánh pháp,

Học có tu mới lợi Đạo ích Đời”.

Chúng ta là đàn hậu tấn hằng ngày bằng sự thực hành tu học sống chung với nhau trong nhà đạo.

“Mỗi người, mỗi nước, mỗi non,

Bước vào cửa Đạo như con một nhà”.

Hằng ngày huân tu các pháp lành, đoạn trừ các pháp ác, đề cao tinh thần lục hòa, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng giới luật, vâng giữ lời dạy của cố Ni trưởng: “Người si nhờ người tuệ đỡ nâng, lợi quyền đa thiểu trọn chia phân, lòng đạo diệt lòng trần ô uế”.

Có trì giới mới sanh Thiền Định, có Thiền định mới tăng trưởng Trí huệ, có Trí huệ mới hiểu biết, phân biệt được thế nào là trong sạch. Thầm chuyển đổi những thói hư tật xấu, được tiến hóa trên con đường tâm linh, hướng đến đời sống thánh thiện.

“Thân trong sạch ấy là xứ Phật,

Miệng trong sạch ấy là pháp Phật.

Ý trong sạch ấy là con Phật,

Tâm trong sạch tức là Đức Phật”.

Qua lời thơ của Ni trưởng Đệ Nhất là món ăn tinh thần pháp bảo cao quý không thể thiếu được trong lòng Ni chúng. Đây là cốt tủy của người học Phật sống chung tu học thực hiện nếp sống “Đoàn kết hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm giáo hội”, cũng để thành tựu cho mỗi cá nhân một pháp học pháp tu thù thắng, lấy trí tuệ làm sự nghiệp, lợi sanh là bổn hoài, phước trí viên minh và chánh pháp mới đuợc trường tồn. Vì Phật pháp có xương minh là do Tăng hoằng pháp. Chúng ta là người biết lội mới cứu được người chết đuối.

Ni trưởng trụ trì thường giáo giới: Đọc, tụng chơn lý của Tổ, văn thơ, kinh kệ… của cố Ni trưởng để lại vạch sẵn con đường mình đi mà mình không đi rất là uổng. Tổ Thầy vắng bóng, cố Ni trưởng để lại cây đuốc sáng cho mình khỏi sa hầm sụp hố. Mình phải dụng công tu cái của mình, tìm được bên trong nội tâm có nguồn vui hạnh phúc trong nếp sống của mình. Chính cái đó là của báu của mình, không ai tu dùm mình được. Ai uống nước nóng, lạnh tự biết, giáo hóa chúng sanh phải từng giờ, từng khắc phản quan tự kỷ, phải chánh niệm tỉnh giác đừng để cho thanh danh lợi dưỡng phát khởi, sống theo tứ y pháp: Ăn, mặc, ở, bệnh vừa biết đủ. Văn, Tư, Tu hành trì Giới, Định, Huệ. Người tu là người vay mượn của thế gian. Học đạo không thông lý trả nợ đàn na tín thí. Người tu hành phải giữ giới thanh tịnh mà thân tâm được định tĩnh, nhân giới sanh định, nhân định phát huệ, từ đó phát sanh trí huệ, có giác ngộ chơn chánh, Phật tánh, bản tâm thanh tịnh tròn sáng tỏ lộ ra, mình mới có ngọn đuốc sáng soi đường cho tất cả mọi chúng sanh hướng đến giác ngộ giải thoát.

Nay con có đầy đủ phước duyên, được nép mình trong tình thương bao la che chở dắt dìu Tổ Thầy, được ăn cơm thiền, uống sữa pháp, tắm mình trong suối từ bi, thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức. Con nguyện khắc ghi và nguyện tinh tấn tu hành làm cho đất tâm ngày thêm tươi tốt, hạt giống từ bi trí huệ ngày một đơm hoa, để xứng đáng là người con Phật, ngõ hầu đền đáp bốn trọng ân, cứu khổ tam đồ.

20. LIÊN THANH

Chùa Thuận Phước

TƯỞNG NIỆM

Kính bạch Chư Tôn Đức.

Hôm nay là ngày lễ tưởng niệm lần thứ 30 của Sư bà đệ nhất, con thành kính dâng lên Sư bà đôi dòng tưởng niệm.

Hằng ngày con tụng, đọc kinh của Sư bà con càng khâm phục, tôn trọng, kính nể Sư bà với một tấm lòng cao thượng của bậc Bồ tát. Sư bà có ước nguyện bao la, đức độ từ hòa sức tinh tấn không mệt mỏi trên mọi lãnh vực cũng như con đường tiếp độ Ni chúng, giáo hóa chúng sanh. Như Sư bà đã phát nguyện:

Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn Đạo Pháp, cho tình Quê hương.

Sư bà rất chú trọng đến việc đào tạo nhân tài mai hậu bằng việc luôn tạo môi trường thuận tiện nhắc khuyên Ni chúng phải cố gắng học lên cao đẳng, đại học, học Phật pháp tinh chuyên để đền ơn Tổ Thầy. Sư bà đã dạy chư Ni và tín đồ Phật tử phải biết trưởng dưỡng thiện nghiệp, tiêu trừ ác nghiệp, đủ đức, đủ tài hoằng dương chánh pháp, hóa độ chúng sanh. Sư bà đã dạy trong bài Cát Ái:

“Ta đã là người của chúng sanh,

Người nuôi ta để học gương lành.

Sống đây ta sống cho muôn loại,

Ta có quyền đâu sống lấy mình?”

(Cát Ái - NT. Huỳnh Liên)

Sư bà dạy người xuất gia là người của chúng sinh, người vì chúng sinh. Vì vậy người xuất gia phải sống cho muôn loại chứ không phải sống cho riêng mình. Tất cả mọi người trên thế gian này ai cũng không thể sống độc lập một mình mà không nhờ đến sự giúp đỡ của người khác. Xã hội là sợi dây mắc xích lẫn nhau. Và cũng không ai có thể tiêu diệt mạng sống của người khác cả. Bởi vì ai cũng quý trọng mạng sống của mình. Như Sư bà đã dạy trong bài Giới Sát:

“Muôn loài nào khác chi ta,

Cũng cần sanh sống, lánh xa tai nàn.

Có cha mẹ, có họ hàng,

Kết bè sinh hoạt, hiệp đoàn tương thân.

Ta đừng giết nó mà ăn,

Cũng đừng bắt nó trói trăng giam cầm.

(Giới Sát - NT. Huỳnh Liên)

Ngoài ra, Sư bà còn dạy chúng ta phải biết tu tập hạnh nhẫn nhục.

“Chút nhẫn lòng được giải khó khăn,

Câu niệm Phật vừa dằn nóng nảy.

Học phép nhẫn chẳng sanh oan trái,

Giữ tâm không khỏi phải lụy phiền.

Sống cõi đời thong thả bình yên,

Hướng nẻo đạo diệu huyền trực chỉ”.

(Khuyến Nhẫn - NT. Huỳnh Liên)

Hôm nay nhân ngày lễ tưởng niệm lần thứ 30 của Sư bà đệ nhất, con kính dâng lên Sư bà những lời tưởng niệm chân thành của con. Đọc thơ kệ của Sư bà con giác ngộ được rất nhiều điều và không còn lầm đường lạc lối như những ngày qua. Qua thơ kệ của Sư bà con đã tìm được cho mình một hướng đi chân chính. Con nguyện cố gắng làm theo lời dạy của Sư bà để thân tâm được an lạc và con cũng nguyện trau dồi giới đức tu hành tinh tấn để sau này cứu giúp và hóa độ chúng sanh. Cuối cùng con cầu xin chư Phật, chư Bồ tát, Tổ thầy, Sư bà chứng minh và gia hộ cho con có đầy đủ nghị lực để vượt qua những chướng duyên và tinh tấn trên con đường tu học cho đến ngày thành công đắc quả.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

    Chia sẻ với thân hữu:
     
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 (0 Votes)

Các bài viết liên quan

Về trang trước     Về đầu trang      In bài      Gửi Email