Đạo Phật Khất Sĩ

Panner Web HPKS  002a 980x165

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Kỷ yếu Tưởng niệm cố Ni trưởng - kỳ 7

Mục lục[Ẩn]

1. BO MINH TRANG

THƠ TƯỞNG NIỆM NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN

“Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương”.

Nói lên đức hạnh phi thường,

Của hàng Bồ tát trên đường độ sanh.

Tâm hồn bi mẫn cao thanh,

Nguyện đưa sanh chúng thoát vành trầm luân.

Vì đời tạo vạn mùa xuân,

Đem mưa Chánh Pháp tưới nhuần đất Nam.

Hoa Chân Như - nhụy Ưu Đàm,

Ướp hương mật chốn Già lam Tịnh Thiền.

Nhanh tay chèo lái con thuyền,

Truyền thừa Phật Pháp khắp miền nhân gian.

Xuất gia Ni giới hơn ngàn,

Tín đồ hàng vạn tinh cần học tu.

Từ Cam Lộ đến Cà Mau,

Đạo tràng Tịnh xá có hầu khắp nơi.

Nêu cao công hạnh sáng ngời,

Tạo duyên giúp chúng người người tiến tu.

Lòng nhân hậu, đức bi từ,

Rạng danh Sư trưởng chân tu bậc Thầy.

Hệ phái phát triển từng ngày,

Chư Ni tốt nghiệp có đầy miền Nam.

Làm nên thành quả vẻ vang,

Chấn hưng cửa đạo ngày càng tiến nhanh.

Hoằng dương Pháp bảo thịnh hành,

Dịch Kinh phổ kệ lưu danh để đời.

Văn chương thi phú tuyệt vời,

Lòng từ trao tặng cho người hữu duyên.

Hành theo hạnh nguyện Phổ Hiền,

Tinh thần Vô Úy an nhiên vào đời.

Đức Bi - Trí - Dũng cao vời,

Giữ gìn đại nguyện nào lơi tâm thiền.

Bốn mươi năm một lời nguyền,

Giúp đời phụng đạo chí kiên vững vàng.

Tâm hồn bất khuất hiên ngang,

Khắc ghi đậm nét vào trang sử nhà.

Từ bi hỷ xả độ tha,

Xứng danh đệ tử Thích Ca chân truyền.

Đuốc Bát Nhã gốc Uyên Nguyên,

Mãi hoài tỏa sáng lưu truyền muôn năm.

2. CHƠN NGÂN

Phật tử Chùa Thuận Phước

ĐỌC THƠ SÁNG TỎ ĐẠO MẦU

Nhân ngày lễ tưởng niệm lần thứ 30 của Ni trưởng đệ nhất, con xin nêu một vài cảm nghĩ của con về lời dạy của Người còn để lại qua thơ văn. Ni trưởng dạy:

“Tu có học mới rạng ngời chánh pháp

Học có tu mới lợi đạo ích đời”.

(Ni trưởng Huỳnh Liên)

Học ở đây là học giáo pháp vi diệu từ kim ngôn của Đức Phật trao truyền. Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn, những lời dạy của ngài là Chân Lý, là ánh sáng soi đường đưa chúng sanh thoát khỏi bến mê để bước sang bờ giác. Vì vậy, người xuất gia trước phải học giáo lý của đức Phật kế đến thực hành và áp dụng vào cuộc sống thực tế biến tri thức thành trí tuệ. Nếu không tu thì sự học chỉ là sáo rỗng, nếu tu không học thì chỉ là tu mù. Như vậy tu và học cần phải hỗ tương cho nhau.

Đối với hàng Phật tử sơ cơ học đạo như chúng con mà nói Phật quả là một cái gì đó thật cao xa, huyền bí, có lẽ suốt cuộc đời chúng con không bao giờ với tới. Nhưng qua thơ văn của Ni trưởng con cảm nhận đức Phật, một con người thật gần gũi, chân phương, bình thường như bao con người khác và quả vị Phật mà Ngài đã chứng nghiệm thì ai cũng có thể đạt được nếu người đó nổ lực tu tập. Bằng tài họa thơ của mình, Ni trưởng đã vẽ nên bức tranh về đức Phật thật giản đơn:

“Nơi Đức Phật, con người thực tế,

Không thần linh tô vẽ hoang đường.

Lòng nhiệt thành nếp sống giản đơn,

Tự nỗ lực phát huy ánh sáng”.

(Kệ Trích Lục - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Qua thơ của Ni trưởng cho con hiểu: Đức Phật cũng là con người như bao con người chúng ta, Ngài sinh ra là một người bình thường, sống một đời sống cũng chịu chi phối bởi định luật vô thường về thân tứ đại, ngũ uẩn như chúng ta. Nhưng chỉ khác chúng ta ở chỗ là Ngài có trí tuệ và định lực phi thường. Ngài đã từ bỏ lầu son, gác tía, ngai vàng ra đi tầm đạo và chứng đạo trở thành một bậc siêu phàm xuất thế. Và rồi sau 49 năm hành đạo Ngài đã xả bỏ nhục thân, từ giã cõi đời như bao con người trên cõi đời này.

Con nghĩ, sở dĩ Ngài đạt đến quả vị Phật là do ngài có một trí tuệ sáng hơn nhựt nguyệt, tình yêu thương chúng sinh vô bờ bến và một nghị lực phi thường cùng sự kiên trì nỗ lực cá nhân. Như trong bài Phật Đản và Nhớ Ơn Phật đã kể lại quá trình tầm đạo của Đức Phật:

“Sáu năm ép xác gầy thân,

Năm năm tầm đạo bước chân mỏi mòn”.

(Phật Đản - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Hay:

“Dãi dầu nắng táp mưa sa,

Yếu lần đến đổi thân đà mòn hơi”.

(Nhớ ơn Phật)

Giáo pháp của Đức Phật đưa ra là do Ngài đã tự thân chứng nghiệm. Vì vậy, chúng ta, những người con Phật phải kính tin và phải học cho thật kĩ, hiểu cho thật sâu, thực hành cho thật thấu triệt để tự mình chứng ngộ. Vì học mà không thực hành thì không được lợi ích, không đem lại sự an lạc nơi thân và tâm. Như đức Phật đã dạy: “Học giáo pháp mà không được thực hành như một cánh hoa lộng lẫy đủ màu sắc mà không có hương vị”. Và Ngài đã chứng minh rằng: “Con người có thể thành đạt trí tuệ cao siêu và đạo quả tối thượng là do sự cố gắng của mình”. Ngài cho rằng con người muốn thoát khỏi trầm luân khổ não phải tự mình gia công cố gắng chớ không phải tùy thuộc phục tùng một nhân vật hay một vị thần linh nào. Đức Phật dạy cho chúng ta lý tưởng cao nhất là phục vụ bất cầu lợi.

Sau khi thành đạo Đức Phật đã thuyết bài pháp đầu tiên là Tứ Diệu Đế cho 5 anh em Kiều Trần Như và ông A Nhã Kiều Trần Như đã chứng quả Tu Đà Hoàn. Bốn chân lý ấy là nền tảng của giáo lý Đức Phật. Bốn chân lý đó là Khổ, Tập, Diệt, Đạo, lấy con người làm nền tảng cho sự tu tập chứ không nương tựa vào bất cứ vị thần linh nào. Vì chính Đức Phật cũng đã tự mình chứng ngộ chứ không nhờ vào bất cứ sự hỗ trợ nào từ bên ngoài.

Chơn lý về sự khổ là: Sanh, già, bệnh, chết, xa lìa những người thân, sống với người không ưa, muốn mà không được, thân ngũ uẩn là khổ. Chơn lý về nguyên nhân của khổ là: Chính vô minh và ái dục là nguyên nhân của sự khổ. Chính ái là nguyên nhân của sự tái sanh, lôi kéo, dẫn dắt con người đọa lạc trong sinh tử luân hồi. Và chơn lý về con đường diệt khổ là Bát Chánh Đạo, đưa chúng sinh đến hạnh phúc trường cửu.

Đạo Phật lấy từ bi làm quy tắc căn bản cho người xuất gia và tại gia, không kể người thân hay sơ, quen hay lạ. Vì vậy, đạo Phật đã phát triển trên đoạn đường dài hơn 2500 năm mà không hề có một sự ép buộc hay dùng thần quyền làm mê hoặc ai cả. Qua nhiều bài kệ của Ni trưởng con nhận thấy Đức Phật là nhà truyền giáo đầu tiên và vĩ đại nhất trên thế gian. Phật giáo được hoằng dương rộng rãi trên khắp thế giới chính vì giá trị tốt đẹp của lòng nhân đạo và trí tuệ của Ngài. Chính Đức Phật là người đầu tiên phá bỏ sự bất công trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ và đã đón nhận đoàn thể 500 người nữ xuất gia, mở ra cho Nữ giới một phương trời cao rộng mới. Tình thương vô biên của Đức Phật không chỉ hướng cho nhân loại mà bao trùm cả vạn vật. Ngài khuyên đệ tử nên mở rộng tình thương đến tất cả vạn vật muôn loài. Ngài dạy không người nào có quyền tiêu diệt mạng sống của kẻ khác bởi ai cũng quý trọng mạng sống của chính mình. Và những lời dạy của Ngài đã được Ni trưởng Đệ nhất chuyển tải thành thơ với tựa đề là Giới Sát:

“Muôn loài nào khác chi ta,

Cũng cần sanh sống, lánh xa tai nàn.

Có cha mẹ, có họ hàng,

Kết bè sinh hoạt, hiệp đoàn tương thân.

Ta đừng giết nó mà ăn,

Cũng đừng bắt nó trói trăng giam cầm ”.

(Giới Sát - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Ngoài ra, Ni trưởng còn chuyển thành thơ rất nhiều bài Kinh của Dức Phật, như Kinh Pháp Cú nói về tâm con người là yếu tố quan trọng dẫn dắt con người tạo nghiệp lành hay nghiệp dữ:

“Trong các pháp do tâm làm chủ,

Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên.

Tâm thanh tao nghiệp tốt hiền,

Như hình dọi bóng vui liền theo sau.

(Kinh Pháp Cú - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Ni trưởng xuất gia khi tuổi đời vừa tròn 25, sau đó với vai trò là trưởng tử Ni, Ni trưởng đã dẫn đoàn chư Ni hành đạo khắp hai miền Nam - Trung của đất nước. Nhờ bi nguyện bao la, đức độ từ hòa, tinh tấn không mệt mỏi, Ni trưởng đã tiếp chúng độ Ni, mở mang đạo tràng tịnh xá ngày càng nhiều. Mặc dù như thế, Ni trưởng cũng không quên nhắc nhở Ni chúng luôn sống đúng với hạnh nguyện của người xuất gia:

“Ta đã là người của chúng sanh,

Người nuôi ta để học gương lành.

Sống đây ta sống cho muôn loại,

Ta có quyền đâu sống lấy mình?”

(Cát Ái - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Thật vậy, đời sống con người thật ngắn ngủi, phải sống sao cho thật ý nghĩa. Vật chất thế gian là trò mộng ảo, thân tứ đại hợp tan là định luật từ ngàn xưa. Tại sao chúng ta phải bám víu?

“Thân này chưa biết ra chi,

Của kia lại có chắc gì mà ham?

……

Mênh mông trong khoảng đất trời,

Thân ta biết gởi về nơi chốn nào?”

(Thân - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Thân này là giả, là vô thường không giữ được bền lâu, huống gì của cải, vật chất thế gian. Biết thế ta dùng thân này làm phương tiện tu hành để làm tư lương khi từ giả cõi đời này. Chẳng những phải tu thân mà còn phải xét suy cả lời ăn tiếng nói của mình:

Mở lời trước cạn xét suy,

Rằng ta cất tiếng ích chi chăng là?

Bằng như lời ấy thốt ra,

Làm buồn kẻ khác thì ta xin đừng.

……

Miệng ta là cánh hoa sen,

Một khi hé nở, một phen thơm lừng!

Tiếng ta là gió mùa xuân,

Một cơn thổi nhẹ, muôn dân mát lòng!

(Khẩu - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Ni trưởng dạy ta phải sống trong tỉnh thức, khi nói phải biết ta đang nói gì, nếu lời nói làm buồn kẻ khác thì đừng nói. Nên nói những lời để người nghe cảm thấy an lạc, mát lòng để không tạo nghiệp dữ.

“Thường nên kiểm soát hành vi,

Khi ăn, khi nói, lúc đi, lúc nằm.

Đừng cho vọng ý phóng tâm,

Phải nhờ giới luật buộc cầm khít khao”.

Hoặc:

“Ngày ngày ra sức kìm cương,

Giờ giờ, phút phút, tâm thường soi tâm”.

(Ý- Ni trưởng Huỳnh Liên)

Ni trưởng dạy con người ý vọng, thương ghét, vui, buồn, sân giận… thay đổi luôn nên ta phải dùng gươm trí tuệ cắt đứt những vọng tâm để tâm được định, tâm định thì phát huệ.

Với hạnh nguyện Bồ tát, Ni trưởng đã phát nguyện:

“Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn Đạo pháp cho tình quê hương”.

Hay:

“Nghiêng vai gánh đạo vào đời,

Cho đời tỏ đạo ta người đồng tu”.

(Sen Gương - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Tấm lòng vì đạo vì đời của Ni trưởng bao la như biển cả, như hư không bất tận, dù Ni trưởng đã về với Phật nhưng Người vẫn sống mãi trong tâm trí của hàng môn đồ Phật tử chúng con. Và những ai đọc qua thơ Người cũng sẽ cảm nhận được đạo mầu vi diệu lan tỏa khiến mỗi người tự hoàn thiện bản thân để cuộc đời trở nên tươi đẹp và có ý nghĩa hơn. Chúng con nguyện tinh tấn tu hành theo lời dạy của Ni trưởng, để có cuộc sống an lạc, hạnh phúc trong đời này, mà không cảm thấy bất mãn bởi sự ràng buộc gia đình, hay lo âu, sợ hãi về sự sinh diệt của chính mình.

KỆ CHƠN LÝ: SINH TỬ

Là một Phật tử hằng ngày được đọc tụng thơ kệ của Ni trưởng Đệ nhất, trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ. Càng đọc con càng suy tư, càng thấu hiểu hơn về giáo pháp của Đức Phật để dễ bề tu tâm dưỡng tánh, trau dồi Giới Định của người con Phật. Vì thế, mỗi ngày tụng Kinh con càng nghĩ nhớ và biết ơn Ni trưởng rất nhiều. Con xin nêu vài cảm nghĩ của mình về bài “Sinh Tử” trong Kệ Chơn Lý.

Vốn liếng hành trang đến cõi trần,

Người hơn muôn vật tấm lòng nhân.

Tâm lành hướng thượng càng cao phẩm,

Nghiệp ác sa đà mới lụy thân.

(Kệ Chơn Lý: Sinh Tử - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Cùng nhìn lại những người mà chúng ta đã gặp trong cuộc đời này: Người thì đủ 6 căn, người thì lại thiếu; Người thì giàu sang, sung sướng, người thì nghèo hèn vất vả; Người thì thông minh sáng suốt, người thì lại quá chậm chạp; Người thì đẹp như hoa, người thì lại quá xấu… Và ta thấy trên thế giới có hơn tám tỉ người, nhưng không ai giống ai cả. Vì sao như thế?

Khi mới sinh ra ai cũng đến cõi đời này với hai bàn tay trắng và chết đi cũng trắng tay. Nhưng sở dĩ có những sai biệt trên là do những nghiệp lành hay nghiệp ác mà ta đã gieo tạo từ vô lượng kiếp về trước. Đó là vốn liếng, hành trang mà ta mang đến cõi trần, nhưng ta nào hay biết, cứ nghĩ là Trời bắt ta phải chịu như thế.

Câu thứ hai của bài kệ: “Người hơn muôn vật tấm lòng nhân”, ý muốn nói rằng: Người và thú vật giống nhau ở chỗ cùng có thân, cùng có tánh linh, cùng biết đau đớn khi bị đánh đập hành hạ. Như trong bài Khuyên Đừng Giết Thú, Ni trưởng đã dạy:

Thú kia nó cũng là thân,

Cũng xương cũng thịt có phần như ta.

Đánh đau chúng nó kêu ca,

Tiếng rên đứt ruột tiếng la xé lòng.

Tánh linh người vật cũng đồng.

(Khuyên Đừng Giết Thú - Ni trưởng Huỳnh Liên)

Nhưng người và thú khác nhau ở chỗ: Thú không có lòng nhân, sống theo bản năng, ăn nuốt lẫn nhau. Người thì có lòng nhân, biết suy nghĩ, biết tu học Phật pháp để nâng cao đời sống tâm linh của mình mỗi ngày một thăng hoa. Vì vậy mà Ni trưởng luôn khuyên mọi người:

Làm người là có lòng nhân,

Hãy khơi tánh Phật lần lần sáng ra.

(Khuyên Đừng Giết Thú - NT. Huỳnh Liên)

Câu thứ ba của bài kệ: “Tâm lành hướng thượng càng cao phẩm”, ý nghĩa của câu này là: Phật dạy: Thân người khó được nhưng dễ mất. Nếu để thân này mất đi thì biết đến kiếp nào mới có lại được. Vì vậy, được làm thân người là rất quý. Cho nên, ta hãy mượn thân này làm phương tiện tu hành cho đến ngày thành công đắc quả.

Trong cuộc sống, việc tạo ra của cải vật chất là rất cần thiết, nhưng ta cũng nên chia sẻ với những người khó khăn hơn mình. Theo quan điểm của Phật giáo, chết chưa phải là chấm hết. Nó chỉ chấm hết cái thân ngũ uẩn, còn nghiệp thức vẫn tiếp diễn trong vòng luân hồi sinh tử. Vậy, điều gì giúp chúng ta tái sanh vào cõi lành? Trong Kệ Chơn Lý Ni Trưởng có dạy.

Tu phước ngày đêm cội phước trồng,

Phước trồng thấm thoát huệ sanh bông.

Quên thân vì đạo lòng thơ thới,

Học pháp hành thiền, trí sáng thông.

(Kệ Chơn Lý: Cư Sĩ - NT. Huỳnh Liên)

Bố thí là phương tiện rất cần thiết để giữ tài sản và phước báu cho mình ở đời này và đời sau. Bố thí cũng là cách chúng ta chia sẻ tình thương yêu với mọi người, mọi loài. Sống phải biết thương yêu chia sẻ lẫn nhau.

Thương người như thể thương thân,

Giúp người mựa hề tiếc bạc,

Thấy nghèo gặp ngặt,

Mau ra tay cứu giúp,

Chớ nề kẻ lạ người quen.

(Bố Thí - NT. Huỳnh Liên)

Cho nên nếu ta biết tu tập, sống với ngũ giới Đức Phật dạy thì chúng ta sống hiện đời an lạc và đời vị lai cũng an lạc, hạnh phúc. Như Ni trưởng đã dạy trong Kinh Pháp Cú:

Kẻ trong sạch từng làm việc phước,

Chỗ này vui, chỗ khác an vui.

An vui rải rác nơi nơi,

Nhớ mình tạo phước mừng vui tịnh lòng.

(Kinh Pháp Cú - NT. Huỳnh Liên)

Câu cuối của bài Kệ Sinh Tử: “Nghiệp ác sa đà mới lụy thân”. Nếu sống trên đời ta tạo những nghiệp ác, thì nghiệp ác ấy sẽ đẩy chúng ta vào cảnh giới đau khổ. Không có vị thần thánh nào bắt chúng ta lên thiên đàng hay xuống địa ngục cả. Chúng ta phải nhận lãnh những nghiệp quả mà chính chúng ta đã gieo tạo, vì ta là chủ nhân của nghiệp, đấy là nhân quả của chính mình. Như trong Kinh Pháp Cú, Ni trưởng đã dạy:

Hối chỗ này, ăn năn chỗ khác,

Kẻ bạo tàn làm ác nhiều nơi,

Nơi nào cũng chẳng yên vui,

Mắt nhìn ác nghiệp, bùi ngùi khổ đau.

(Kinh Pháp Cú - NT. Huỳnh Liên)

Người mê thì lo sự nghiệp đời này, người trí thì lo sự nghiệp đời này và đời sau.Tất cả chúng ta ai rồi cũng phải chết. Nhưng chết rồi đi về đâu? Nếu chúng ta biết tu tập sống với 5 giới Đức Phật dạy thì chắc chắn sẽ sanh về cõi lành. Nếu không biết tu sẽ sanh vào 3 đường dữ: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì thế, muốn thoát khỏi cảnh giới đau khổ, ta phải sống có đạo đức, tạo được nhiều nhân lành để được an lạc, hạnh phúc ở hiện tại và tích quả phước cho tương lai. Như Ni trưởng đã dạy trong bài Giới Sát:

Muốn ra khỏi biển luân hồi,

Quả kia phải hái cho rồi đừng gieo.

Dừng chân thì bóng chẳng theo,

Nhơn tay thì nghiệp chẳng theo bên mình,

Ai ơi hãy khá giữ gìn !

(Giới Sát - NT. Huỳnh Liên)

Phật dạy: Được làm thân người là rất khó. Được làm người đầy đủ 6 căn là khó. Được làm người khỏe mạnh ăn no, mặc ấm lại càng khó hơn. Đó cũng là phước báu mà không phải ai cũng có được. Hơn nữa, được biết Phật Pháp, được nghe và được thực hành lời Phật dạy là ta đã có căn lành và phước báu từ nhiều đời. Vậy ta hãy phát huy căn lành ấy để đến bến bờ giác ngộ và giải thoát. Vì:

Khổ nào bằng khổ trần gian?

Vui nào sánh kịp Niết bàn thanh cao?

(Kinh Pháp cú - NT. Huỳnh Liên)

Tấm lòng vì đạo vì đời của Ni trưởng bao la như biển khơi, như hư không bất tận. Dù Ni trưởng đã về với Phật nhưng những lời dạy của Người vẫn còn sống mãi trong tâm trí của hàng Phật tử chúng con. Và mong rằng những ai có duyên đọc qua thơ Ni trưởng đều sẽ có sự cảm nhận sâu sắc về ý đạo tình đời trong thơ mà tự sửa mình để cuộc sống trở nên tươi đẹp và có ý nghĩa hơn. Riêng bản thân chúng con nguyện tu hành tinh tấn theo lời dạy của Người để được an lạc hạnh phúc trong đời này và đời sau. Con xin mượn lời dạy của Người qua Kệ Chơn Lý - Giới Phật tử thay cho lời kết cũng là ước nguyện của hàng Phật tử chúng con sẽ cố gắng thực hành cho thật tốt để không phụ công ơn của Người:

Giới giữ cho thân sạch lỗi lầm,

Cho tâm như ngọc luyện dồi tâm.

Cho hoa trí tuệ tươi ngàn kiếp,

Cho quả từ bi đẹp bội phần.

(Kệ Chơn Lý: Giới Phật tử - NT. Huỳnh Liên)

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

3. NGỌC AN

Phật tử Tịnh xá Ngọc Phương

VÀI DÒNG CẢM NHẬN

Nhân ngày lễ tưởng niệm lần thứ 30 của Ni trưởng Huỳnh Liên, Đệ nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tịnh xá Ngọc Phương Tổ đình Ni giới Hệ phái Khất sĩ đã tổ chức cuộc thi về Cuộc đời, Công hạnh và Đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ nhất. Chúng con nghĩ đây là một việc làm rất có ý nghĩa, tạo điều kiện cho Phật tử chúng con hiểu biết về thân thế, đạo nghiệp, công hạnh cũng như tài đức của Ni trưởng Đệ nhất.

Trên nối truyền “Thích Ca chánh pháp” dưới tiếp dẫn hậu lai, Ni trưởng đã lèo lái con thuyền Ni giới Khất sĩ khi đức Tổ Sư vắng bóng cho đến ngày Người viên tịch. Với bốn mươi năm gian truân, vất vả, từ những ngày đầu mở đạo khi Phật tử chưa biết đến các nhà Sư trì bình khất thực phải chịu bữa đói bữa no, nghỉ chân nơi mồ hoang nghĩa địa, cho đến hôm nay Ni giới Khất sĩ đã hơn ngàn vị, Tịnh xá mọc lên khắp các miền của đất nước và còn lan rộng đến các nước như Mỹ, Úc, Canada... Ni chúng tốt nghiệp các trường Phật học ngày càng nhiều. Tất cả đều là nhờ vào công ơn của Ni trưởng đã cống hiến cuộc đời mình vì Ni giới, vì đạo pháp, vì quê hương đất nước. Ni trưởng là tấm gương trong sáng dung hòa giữa đạo và đời theo truyền thống thương người và yêu quê hương đất nước của dân tộc Việt Nam. Vì thế Ni trưởng rất được người dân trong cả nước ngưỡng mộ về tài đức của Người.

Ngày lễ tưởng niệm lần thứ 30 của Ni trưởng, là Phật tử chúng con nguyện cố gắng tu tập, dứt các phiền não, khổ đau… để tâm mình được thanh thoát nhẹ nhàng, làm được nhiều việc tốt theo khả năng của mình, giúp đỡ người khó khăn, hoạn nạn, bệnh hoạn, để cho xã hội bớt đi những người đau khổ và bất hạnh. Mong sao những cuộc thi như thế này sẽ được Tổ đình Ngọc Phương tổ chức nhiều lần nữa để Phật tử chúng con có cơ hội hiểu biết thêm nhiều điều về Phật giáo.

HUYỀN PHƯƠNG(Theo giacngo.vn)

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NI GIỚI HỆ PHÁI KHẤT SĨ

Đạo Phật Khất sĩ là một hệ phái biệt truyền, đầu tiên chỉ có ở Nam Bộ, xuất hiện năm 1943 do Tổ sư Minh Đăng Quang thành lập, với chí nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp”.

Cũng trong lúc này, Ni trưởng Huỳnh Liên vốn mang tâm niệm ưa thích việc tu trì, buổi đầu tiên với 24 tuổi đời đầy hoa mộng và nhiều hương sắc nhưng lúc nào cũng ôm ấp hoài bão tìm phương cứu khổ nhơn sanh. Sau một thời gian tìm hiểu học đạo, Ni trưởng cùng hai bạn đồng hành là NT. Bạch Liên và NT. Thanh Liên được Đức Tổ sư chứng minh làm lễ xuất gia vào ngày mùng 01.04.1947 tại Linh Bửu tự. Không bao lâu, cả ba vị đều được truyền thọ giới pháp Y bát Khất sĩ và NT. Huỳnh Liên được Tổ sư ủy thác trọng trách tiếp Ni độ chúng. Từ năm 1947 đến năm 1987, tròn 40 năm, công hạnh - trí tuệ của Ni trưởng đã tỏa sáng khắp nơi nơi.

1. Thời khởi thủy (1947 - 1954):

Nối tiếp tâm nguyện sáng lập Đạo Phật Khất sĩ biệt truyền do Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang phác họa và triển khai trên nền tảng tư tưởng dung hợp Nam Bắc tông Phật giáo qua bộ “Chơn lý”. Đây là bộ Kinh hình thành đầu tiên tại Nam Bộ, hoàn toàn không lệ thuộc vào kinh chữ Hán. Qua tên gọi, bộ Kinh muốn đưa ra một phương thức sống và hành đạo thông qua đời sống phạm hạnh của vị Sa môn Khất sĩ, thực hành Cụ túc giới và Tứ y pháp Trung đạo:

“Một bát cơm ngàn nhà.

Thân đi muôn dặm xa.

Ghi lòng sự sanh tử.

Độ chúng tháng ngày qua”.

Hệ phái Khất sĩ ngày càng phát triển, Ni giới ngày càng đông, nối gót Tổ sư tu học.

Với hạnh nguyện làm chiếc thuyền chở che phái nữ, Ni trưởng đã nỗ lực lèo lái Ni giới Khất sĩ (NGKS) song song con thuyền Giáo hội Tăng già, truyền thừa Phật pháp sâu rộng trong quần chúng nhân dân. Nhờ bi nguyện bao la, đức độ từ hòa và tinh thần không mòn mỏi của Ni trưởng, từ năm 1948 đến 1954, những chiếc y vàng của Ni giới Khất sĩ đã uyển chuyển hiền hòa trong nắng sớm mưa chiều, hội nhập vào lòng người, hiện diện khắp các tỉnh thành hai miền Nam-Trung nước Việt dưới sự trực tiếp chỉ đạo của Đức Tổ sư. Cho đến ngày mùng 01.02 Giáp Ngọ (1954), Đức Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng, Ni trưởng kế tục sự nghiệp Tổ thầy, trực tiếp lãnh đạo Ni giới Hệ phái trong phận sự trưởng tử Ni.

2. Thời kỳ phát triển (từ năm 1954 đến nay):

Với “hạnh nguyện Bồ đề”, Ni trưởng đã hướng con thuyền Ni giới Khất sĩ hòa nhập một cách tuyệt diệu giữa Đạo pháp và Dân tộc. Trong sự nghiệp lãnh đạo Ni giới Khất sĩ sau thời kỳ Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng, Ni trưởng thường xuyên hướng dẫn Ni chúng vâng hành Pháp bảo cao quý của Tổ thầy:

“Lâng lâng tâm cảnh, khăng khăng chí nguyền”.

“Bát là ruột, Y là da, bạn thiết châu du cùng thế giới.

Trời làm màn, đất làm chiếu, Tinh thần thông cảm khắp trần gian”.

Ngày 11.01.1958, Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam được thành lập và hoạt động. Tịnh xá Ngọc Phương là trụ sở chính cũng là Tổ đình của Ni giới Hệ phái Khất sĩ ngày nay.

Sau ngày 30.04.1975, đất nước hòa bình, chư Tăng Ni Khất sĩ dừng chân du hóa, tu hành theo lời giáo huấn của Tổ sư: “Nên tập sống chung tu học. Cái sống là phải sống chung, cái biết là phải học chung và cái linh là phải tu chung”. Tháng 02.1980, HT. Thích Giác Toàn đại diện Giáo hội Tăng già Khất sĩ, NT. Huỳnh Liên đại diện Giáo hội Ni giới Khất sĩ tham gia Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam. Trong tinh thần hòa hợp, NT. Huỳnh Liên là một trong 6 đại biểu của Giáo phái Khất sĩ tham dự Hội nghị đại biểu thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) vào tháng 11.1981 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội và trở thành một trong 9 tổ chức Phật giáo, thành viên của GHPGVN ngày nay. Tại Đại hội này, Ni trưởng được mời làm Ủy viên Kiểm soát T.Ư GHPGVN.

Quá trình hình thành và phát triển của Ni giới Hệ phái Khất sĩ cho chúng ta thấy rõ: NT. Huỳnh Liên đã cống hiến cho Đạo pháp bằng tất cả tâm huyết của mình, dũng cảm thông tuệ, đạo đời dung hợp. Ni trưởng còn là người luôn tìm cầu học hỏi, diễn dịch sáng tác và đã trở thành một nhà thơ đạo. Hầu hết các tác phẩm của Ni trưởng đều giản dị chân thành, dễ đi sâu vào lòng người, đã được xuất bản và tái bản nhiều lần. Với hạnh nguyện hoằng dương Chánh pháp qua chủ trương Việt hóa, Người đã diễn thơ các kinh chữ Hán và Pàli ra chữ Quốc ngữ, theo thể văn vần cho dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ. Những công trình văn hóa xã hội mà Ni trưởng để lại cho đời cho đạo là những tặng phẩm vô giá với khoảng 2.000 bài thơ kệ đủ loại, hàng ngàn bản văn xuôi. Nội dung văn thơ phần nhiều khích lệ, sách tấn hội chúng xuất gia cũng như tại gia nỗ lực tiến tu đạo nghiệp. Ni trưởng làm thơ với mong muốn cụ thể hóa giáo lý uyên thâm của đạo Phật để cho mọi người dễ dàng tiếp nhận Chánh pháp. Đây là cách Ni trưởng đem Đạo vào Đời như một cách truyền Pháp nhẹ nhàng và đã trở thành nghệ thuật: linh hoạt, đa dạng, phong phú.

Còn đối với Dân tộc thì cuộc đời Ni trưởng: “Lấy nghĩa non sông làm nghĩa đạo” trong bối cảnh lịch sử đất nước Việt Nam đang chiến tranh, vừa là người mẹ hiền của giới học sinh, sinh viên thành phố, vừa là người phụ nữ xứng đáng với danh hiệu cao quý: Anh hùng - bất khuất, đấu tranh cho quyền lợi giới nữ nói riêng và cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất Tổ quốc nói chung. Chính lòng từ bi, bao dung quảng đại của Ni trưởng đã đem lại hạnh phúc cho biết bao gia đình, bao trẻ mồ côi bất hạnh, bao lớp dân nghèo… Đồng thời vừa là một vị thầy khả kính cho Ni chúng và đồng bào Phật tử. Với cương vị lãnh đạo, những cống hiến của Người đã làm rạng danh tu sĩ Phật giáo Việt Nam nói chung và Ni giới Hệ phái Khất sĩ nói riêng.

Sau khi Đệ nhất Ni trưởng Huỳnh Liên, Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam viên tịch 1987, chư Ni trưởng lần lược tiếp tục lãnh đạo Ni giới Hệ phái Khất sĩ đến nay: Năm 1987, NT. Bạch Liên được suy tôn làm Đệ nhị Ni trưởng, Trưởng NGHPKSVN. Năm 1996, NT. Tạng Liên, Đệ tam Ni trưởng, Trưởng NGHPKSVN. Năm 2002, NT. Tràng Liên, Đệ tứ Ni trưởng, Trưởng NGHPKSVN.

Quý Ni trưởng lãnh đạo hệ phái kế thừa sự nghiệp thực hiện hoài bão của Đệ nhất Ni trưởng, chủ trương cho Ni chúng học thêm văn hóa và nâng cao trình độ Phật pháp, nhằm đào tạo Tăng tài để “kế vãng khai lai”.

Xuyên suốt quá trình lãnh đạo mang tính kế thừa, các Ngài đã luôn ý thức trách nhiệm vun bồi cho thế hệ mai sau. Cũng chính vì thế mà Ni chúng Ni giới Hệ phái Khất sĩ ngày nay đa phần đều tốt nghiệp các trường Phật học như: Sơ - Trung cấp, Cao đẳng Phật học, Trung - Cao cấp giảng sư, Học viện Phật giáo… Ngoài ra, một số vị còn tốt nghiệp cử nhân văn chương, báo chí, ngoại ngữ, y khoa, thạc sĩ, tiến sĩ Phật học, giáo dục học, ngôn ngữ học… ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Hiện nay, trong dòng truyền thừa có khoảng 150 ngôi tịnh xá và hơn 1.500 Ni chúng ở khắp hai miền đất nước, cùng hòa hợp kế thừa phát triển sự nghiệp độ sanh của Ni trưởng.

Hơn 60 năm qua, kể từ ngày quý Ni trưởng lãnh đạo Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam lần lượt xả bỏ dương trần huyễn mộng… hình bóng của quý Ngài vẫn luôn ngự trị đậm nét trong lòng Ni chúng. Những đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc mà quý Ni trưởng đã thực hiện tuy còn khiêm tốn so với chiều dài lịch sử, nhưng qua đó chứng tỏ sự hòa nhập tích cực vào những hoạt động của GHPGVN, đồng thời giữ gìn truyền thống tốt đẹp - đặc thù của Hệ phái biệt truyền mà Tổ sư đã dày công tạo dựng và các bậc tôn túc lãnh đạo kế thừa, phát huy cho đến ngày nay.

4. NGỌC LINH

Phật tử Chùa Thuận Phước

GIỚI PHẬT TỬ

Đệ nhất Ni trưởng là bậc nữ lưu anh tài, Ngài có lòng từ bi, có trí tuệ cao siêu, có tình yêu quê hương mãnh liệt. Ngài giúp đời hiểu đạo, đưa Đạo vào Đời bằng những bài văn thơ tuyệt phẩm, rất phong phú và rất sâu sắc. Nói về văn thơ của Ni trưởng có nhiều bài rất hay, rất có ý nghĩa. Nhưng con tâm đắc nhất là Kệ Chơn Lý - Số 55 “Giới Phật Tử” trang 260.

Như chúng ta đã biết, mỗi người sinh ra lớn lên ai cũng tạo ra nhiều tội lỗi, dù kiếp này mình ăn hiền ở lành, tạo nhiều thiện căn nhưng mình đã tạo tội ở những kiếp quá khứ vì trong Kinh Đức Phật có dạy rằng: “Con người sinh ra do nghiệp, con người là chủ nhân của nghiệp, và tự kế thừa nghiệp của mình”.

Muốn chuyển nghiệp là phải tu, tu là chuyển nghiệp. Vậy tu là gì ? Tu là sửa cái ác thành cái thiện, sửa cái xấu thành cái tốt, sửa dở thành hay, đó là tu. Vì biết đời trước mình tạo nhiều nghiệp nặng cho nên kiếp này mình phải biết vào Chùa Quy Y Tam Bảo, hướng về ba ngôi quý báu đó là Phật Pháp Tăng để trở thành người Phật tử, biết giữ Giới luật do đức Phật chế ra. Vì sao chúng ta phải giữ giới, giữ giới để làm chi?

“Giới giữ cho thân sạch lỗi lầm,

Cho tâm như ngọc luyện dồi tâm.

Cho hoa Trí huệ tươi ngàn kiếp,

Cho quả Từ bi đẹp bội phần”.

1. Giới giữ cho thân sạch lỗi lầm:

Trong quyển Chơn Lý Giới mà Đức Phật dạy cho người Phật tử tại gia và xuất gia là 10 giới trọng và 48 giới kinh và đó cũng là giới Bồ tát. Nhưng ở đây, vì thời gian có hạn, con chỉ phân tích 5 giới cơ bản của người Phật tử. Mong quý Ngài ban hỷ cho con.

1.1. Giới thứ 1 : Không sát sanh

Không những chúng ta giữ giới không sát sanh, mà chúng ta còn phải phóng sanh. Không sát sanh là chúng ta có lòng từ bi, mà phóng sanh để chúng ta được trường thọ, không bị oan gia trái chủ, không bị báo ứng luân hồi. Ni trưởng dạy:

“Giữ giới răn, không tạo nghiệp đau thương,

Sống an lạc cõi trường xuân bất lão”.

1.2. Giới thứ 2: Không trộm cắp

Của cải người không cho mà mình lấy là phạm giới, không những phải giữ giới không trộm cắp, mà còn phải bố thí cúng dường để kiếp sau được giàu sang phú quý.

1.3. Giới thứ 3 : Không tà dâm

Sống chung thuỷ một chồng một vợ, không quan hệ nam nữ bất chánh để chúng ta có gia đình hạnh phúc.

1.4. Giới thứ 4 : Không nói dối

Không nói vọng ngữ, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, không nói lời ác.

Không nói chuyện, chuyện có nói không, không nói đâm thọt, không nói hai chiều, không nói lời ác.

Ni trưởng dạy:

“Miệng ta là cánh hoa sen,

Một khi hé nở, một phen thơm lừng!

Tiếng ta là gió mùa xuân,

Một cơn thổi nhẹ, muôn dân mát lòng!”

1.5. Giới thứ 5: Không uống rượu

Chẳng những không được uống rượu, mà còn cấm bán rượu, giữ được giới này để mình có sức khoẻ, có trí tuệ.

Đó là 5 giới cấm để Thân, Khẩu trong sạch. Bây giờ đến Tâm Ý như thế nào?

2. Cho tâm như ngọc luyện dồi tâm

Cho Tâm như Ngọc: Ngọc ở đây là ngọc ngà châu báu, phản chiếu lấp lánh, ngọc không mài không dũa thì không trở thành lưu ly. Tâm chúng ta cũng vậy, mỗi ngày chúng ta phải biết thanh lọc tâm để ngăn ngừa điều ác, phát triển những điều lành. Người Phật tử chúng ta khi Quy y Tam bảo, được mang họ Ngọc, được mặc chiếc áo giới màu Trắng, biểu hiện những tâm hồn trong trắng thanh cao như Ni trưởng dạy:

“Sắc tinh anh, cánh băng tuyết nõn nà.

Màu sạch trong, áo cư sĩ tại gia,

Màu tiêu biểu, những tâm hồn thanh khiết”.

Giữ giới cho Thân Khẩu Ý trong sạch là : Có sắc đẹp không những đẹp bên ngoài mà còn đẹp từ trong tâm hồn, lại thêm có trí tuệ.

3. Cho hoa trí tuệ tươi ngàn kiếp

Người thế gian nói đến Hoa là chỉ cho hoa Cúc, Lan, Huệ, Đào… Hoa nào rồi cũng tàn, nhưng chỉ có Hoa Trí Tuệ mà Ni trưởng đã ẩn dụ là loài Hoa tươi ngàn kiếp. Trí Tuệ đây là người có trí tuệ có sự hiểu biết, biết làm lành lánh dữ, biết quy chính bỏ tà, người có trí tuệ làm việc gì cũng nghĩ đến hậu quả của nó, người có đức hạnh, có tâm từ bi luôn luôn như cánh hoa thơm ngát.

Trong Kinh Pháp Cú Phẩm Hoa câu 51 Đức Phật dạy:

“Mùi hương các thứ danh hoa,

Tuyệt thơm nhưng khó sánh qua hương người.

Hương người đức hạnh thanh tươi,

Xông lên bát ngát khắp vời Thiên cung”.

4. Cho quả từ bi đẹp bội phần

Người ta thường nói: “cây lành thì sanh trái ngọt”.

Đạo Phật vốn Đạo của từ bi, Đạo cứu khổ, ban vui cứu giúp mọi người hết khổ đem lại niềm vui đến cho tha nhân. Nói thì dễ nhưng làm thì khó, ví như trong thực tế, cuộc sống ai cũng mong cầu niềm vui, niềm an lạc đến với mình, mà đâu phải mình mong muốn có là được, mình phải gieo tạo mới có gặt hái, mình phải biết đem niềm vui hạnh phúc đến cho người để mình được an lạc hạnh phúc, mình phải thương người để người thương mình. Mỗi ngày mình biết gieo chút phước đức giúp dân lành, để mình có cuộc sống tốt đẹp.

Ni trưởng dạy trong bài Cư Sĩ:

“Tu phước ngày đêm cội phước trồng,

Phước trồng thắm thoát huệ sanh bông.

Quên thân vì đạo lòng thơ thới,

Học pháp, hành thiền, trí sáng thông”.

Nhờ sự chuyển hoá nội tâm bằng những bài thơ, bài văn hùng hồn cảnh tỉnh Ni trưởng đã làm tăng thêm nhân cách cho chúng con để chúng con sống tốt Đời đẹp Đạo mà trưởng thành trong Chánh pháp.

Qua bốn câu thơ vừa phân tích cho chúng con hiểu rằng, nhờ có giới luật mà chúng con thoát khổ, nhờ giữ giới luật mà khi bỏ thân này không bị đoạ vào 3 đường ác. Trong cuộc sống không ai thập toàn, thập mỹ, chúng con hứa sẽ biết tu sửa, noi gương theo hạnh từ bi và trí tuệ của Ni trưởng, Ngài xứng dáng là bông sen vàng trước ngôi Bảo toạ, chúng con nguyện tiếp bước theo Ngài, nguyện giữ giới trong sạch cho đến ngày giải thoát.

Xin thành kính, kính chúc chư tôn đức pháp thể khinh an, Bồ đề viên mãn, Phật sự viên thành, để hoằng dương Chánh pháp, quý Ngài mãi mãi là những bậc Thầy cao cả để hướng dẫn, dạy dỗ chúng con từng bước đúng đắng ở cõi ta bà.

Xin cầu chúc toàn thể quý Phật tử nhiều sức khoẻ, nhiều niềm vui, luôn sống an lành trong Chánh pháp.

5. NGỌC ĐIỀU

Phật tử Chùa Thuận Phước

GIÁC NGỘ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính lạy Đức Tổ Sư, Tổ khai sáng Hệ phái Khất sĩ

Kính lạy giác linh chư vị Ni trưởng

Kính bạch Quý Ni trưởng, quý Ni sư, quý Sư Cô

Kính thưa toàn thể Quý Phật tử

Hôm nay nhân ngày lễ tưởng niệm 30 năm của Đệ nhất Ni trưởng, con xin thành kính cuối đầu lễ tạ thâm ân. Người là vị Bồ tát hóa thân, là một vĩ nhân đại đức. Người đã truyền thừa lại cho hàng hậu học chúng con một kho tàng pháp bảo vô giá, những bài thơ, bài kệ của Ngài là vầng thái dương, là ngọn đèn chân lý, xoá tan bóng tối vô minh dìu dắt chúng con lìa bỏ bờ mê quay về bến giác.

Hôm nay con xin trình bày một ý nhỏ trong hai từ “Giác Ngộ”, kính dâng lên giác linh Ni trưởng, ngưỡng mong đức Ngài hoan hỷ chứng minh.

Trong cuộc sống, thân bằng quyến thuộc gần xa, bạn bè xa gần, xóm giềng sống chung quanh ta rất là đông, nhưng chỉ có một số ít biết vào chùa quy y Tam bảo, thọ trì ngũ giới, ăn chay niệm Phật làm lành lánh dữ, biết cúng dường bố thí, tin nhân quả và tin vào Phật pháp. Đây là bước đầu sơ cơ trên con đường đi đến giác ngộ giải thoát.

Giác ngộ là tâm chúng ta ngộ ra một chân lý thường hằng vĩnh cữu diệt trừ được gốc bản ngã của mình, không còn vọng tưởng không còn tham, sân, si, đoạn lìa khổ đau phiền não, đưa tâm linh chúng ta đến một cảnh giới thanh tịnh. Trong bài Kệ Chân Lý bài số 64, Ni trưởng Đệ nhất có dạy:

Có khổ nào hơn khổ tử sanh,

Giọt sương, bọt biển, kiếp tơ mành.

Trần gian vốn là biển khổ mà chúng ta đời đời kiếp kiếp trôi lăn mãi không thoát ra được, trong khi tám vạn bốn ngàn pháp môn đang mở mà chúng ta không thể nào thoát ra được là do vô minh che lấp, chúng ta không phân biệt được đúng sai, thiện ác. Sống trong vọng tưởng tạo ra biết bao điều xấu ác tội lỗi để rồi trôi theo dòng nghiệp ràng buộc cuốn trôi ta trầm luân trong sáu nẻo luân hồi. Như chúng ta cũng biết tiền tài, danh vọng, tham dục, luyến ái và vạn vật trên thế gian đều vô thường, thân ta cũng vô thường, tâm ta cũng vô thường, ta biết tất cả đều vô thường nhưng cái biết chỉ là hình thức bên ngoài, chứ không thật sự rõ biết, cho nên cái biết không thâm sâu vào trong tâm thức của chúng ta, nên không diệt trừ được gốc bản ngã, còn chấp thân này là của ta là còn vọng tưởng, vọng tưởng là duyên khởi cho tham, sân, si. Tham, sân, si là nguồn gốc tạo ra ác nghiệp đem đến khổ đau phiền não và trầm luân trong sáu nẻo luân hồi.

Thuở Đức Phật còn tại thế, Đức Thế Tôn đã nhìn thấy được vì sao chúng sanh mãi đắm chìm trong biển khổ, vì thương sót chúng sanh, nên Ngài mới truyền thừa lại cho chúng ta bốn chiếc chìa khóa vạn năng từ bi, hỷ, xả để mở cánh cửa vô minh, trong Kệ Chân Lý bài 30 có dạy:

Từ bi ban rải tiêu oan trái,

Hỷ xả hoà đồng dứt hận sân.

Trong cuộc sống hằng ngày những điều thuận theo ý ta thì ít, những điều nghịch lại ý ta thì nhiều, nhưng những điều nghịch lại ý ta là cơ hội để ta trải tâm từ bi hỷ xả, mở cửa vô minh cho chính mình. Trong bài pháp “Tổ Bách Trượng” và “Ông Già Chồn” có dạy: “Không lầm nhân quả”, có nghĩa là trong cuộc sống hiện tại chúng ta đang được giàu sang quyền cao chức trọng, hay nghèo hèn khốn khổ, chúng ta có đầy đủ trí huệ hay ngu khờ dốt nát, chúng ta đang hưởng phước hay đang gặp họa là do chúng ta tự tạo ra kiếp này hay nhiều kiếp khác, hôm nay đúng thời duyên chúng đến tìm ta, chớ không bị chi phối bởi một vị thánh nhân nào hay một vị chư thiên, Trời, Phật nào có đủ quyền năng, vì thương chúng ta mà ban phước cho ta, hay ghét chúng ta mà đem tai họa đến cho ta. Trong bài thơ Giới Sát, Ni trưởng có dạy:

Muốn qua khỏi biển luân hồi,

Quả kia phải hái cho rồi đừng gieo.

Dừng chân thì bóng chẳng theo,

Nhơn tay thì nghiệp chẳng theo bên mình.

Ni trưởng dạy chúng ta muốn qua khỏi biển luân hồi thì phải hái hết những quả đắng cay mà ta đã gieo trồng từ trước, nếu như tâm ta còn vọng tưởng tham, sân, si dối trá lại những gì nghịch với ý ta là ta hái một trái ớt mà trồng lại một cây ớt.

Trong lời nguyện thứ 18 của Đức Phật A Di Đà nếu chúng sanh nào trước khi xả bỏ báo thân niệm danh Ngài 10 tiếng thì được Ngài rước về cõi Tây phương Cực lạc. Chúng ta đừng nhầm tưởng mỗi ngày ta niệm một hai trăm tiếng A Di Đà Phật thì khi xả bỏ báo thân được Phật A Di Đà rước về cõi Tây phương Cực lạc, không phải vậy. Trong bài thơ “Nguyện Về Cõi Phật”, Ni trưởng có dạy:

Càng quanh lộn mãi, càng si mê hoài!

Mảng lo xây đắp mộng đài,

Ở nơi huyễn cảnh dặc dài thời gian!

Niên hoa mấy độ nở tàn,

Chủ nhân khuất bóng trong màn vô minh.

Cõi trần kiếp kiếp lụy mình,

Dây thương vấn vít, lưới tình bủa giăng!

Áo quần vật chất trói trăng,

Cửa nhà nhốt phạt, miếng ăn hành hà.

Vì sao Ni trưởng dạy: “Niên hoa mấy độ nở tàn, chủ nhân khuất bóng trong màn vô minh”, bởi vì khi ta niệm một câu A Di Đà Phật thì trên ao thất bảo cõi Tây phương Cực lạc một đóa sen được mọc lên, nhưng miệng ta niệm A Di Đà Phật mà tâm ta không hướng về cõi Phật, trong tàng thức của chúng ta không có cảnh giới của Tây phương Cực lạc, không có thân kim sắc của Phật A Di Đà. Miệng ta niệm A Di Đà Phật mà tâm ta hướng vọng về tiền tài danh vọng, tham dục, luyến ái của thế gian, khi ta xả bỏ báo thân ta không thể nào về Tây phương Cực lạc được. Nếu như chúng ta còn sơ cơ, còn thấp kém ta không hiểu được những giáo lý cao sâu ta không thể thực hành theo được, thì hàng ngày ta nên “Quán Tâm”, có nghĩa là nhìn lại tâm mình, nếu như tâm ta hướng vọng theo từ bi hỷ xả thương yêu giúp đỡ những người xung quanh, ăn chay niệm Phật làm lành lánh dữ hay bố thí cúng dường, đây là kết quả an vui giải thoát. Nếu như tâm chúng ta hướng vọng theo hơn thua tham, sân, si, tham dục luyến ái của thế gian, thì đây là kết quả của khổ đau phiền não và trầm luân trong biển khổ.

Nếu như chúng ta có đầy đủ trí huệ tinh thông các pháp, hiểu thông giáo lý mà chúng ta không đem những điều hiểu biết áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, ta không đem những điều hiểu biết đó làm bài trắc nghiệm cho chính bản thân ta. Mỗi ngày ta niệm trăm tiếng A Di Đà Phật, làm mười việc phước lành, nhưng chỉ mong cầu lợi dưỡng thì đời đời kiếp kiếp ta không thể nào về cõi Tây phương Cực lạc được.

Hai từ “Giác Ngộ” ý pháp rất cao sâu thù thắng, với ý kém của con không thể nào giải thích hết được.

Đây là một ý nhỏ hiểu biết của con, xin kính dâng lên quý Ni trưởng, quý Ni sư, quý Sư Cô hoan hỷ chứng minh.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

6. NGỌC HƯNG

Phật tử Chùa Thuận Phước

CUỘC ĐỜI VÀ CÔNG HẠNH CỦA SƯ BÀ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch chư Tôn Đức,

Kính bạch quý Ni trưởng, quý Ni sư, quý Sư Cô,

Kính thưa toàn thể đại chúng.

Ngày 19 tháng 3 năm 2017 là ngày tưởng niệm Sư bà Ni trưởng đệ nhất lần thứ 30.

Con là Phật tử Ngọc Hưng chùa Thuận Phước có duyên phước mới được trở về Tổ đình Ngọc Phương dự thi và thuyết trình về cuộc đời và công hạnh của Sư bà Ni trưởng Đệ nhất.

Con xin cuối đầu đảnh lễ Sư bà, quý Ni trưởng, quý Ni sư, quý Sư cô với tấm lòng thành kính biết ơn và trân trọng.

Chúng con cảm kính Sư bà là một bực thiêng liêng cao cả, một đời vì đạo pháp, một đời vì quê hương đất nước và chúng sanh muôn loại.

Con ít học tu muộn nhưng nhờ đi chùa thường xuyên mỗi lần lễ lớn hoặc ngày Rằm cúng hội thì Sư cô, Sư phụ, Sư thầy chùa Thuận Phước thuyết giảng kể về cuộc đời và công hạnh hành đạo của Sư bà. Chúng con được nghe thật là xúc động và rất hãnh diện về Sư Bà.

Sư bà theo Đức Tổ sư du hành học đạo và hành đạo từ năm 1948 đến năm 1954 thì Đức Tổ Sư lâm nạn và vắng bóng.

Bão xây, gió cuộn, mây vần,

Ào ào lá rụng, lần lần quả rơi.

Bồ đề thọ tơi bời hao hớt,

Bồ đề tràng thưa thớt quạnh hiu.

Sư bà kế tục sự nghiệp Tổ Thầy trực tiếp lãnh đạo hàng Ni chúng Khất sĩ trong phận sự Trưởng Ni giới Khất sĩ. Sư bà tay yếu chân mềm nhưng có tấm lòng bao la rộng lớn chí khí kiên cường, hoá đau thương thành sức mạnh để vững niềm tin lèo lái con thuyền Bát nhã trong đêm tối. Sư bà đem ánh đuốc Chân lý thắp sáng từ Nam đến Trung, mở rộng con đường hành đạo hóa độ chúng sanh, kiến tạo nhiều Tịnh xá thu hút hàng ngàn tín đồ Phật tử.

Trong những năm chiến tranh gian khổ, Sư bà vì yêu dân mến nước nên không thể ngồi yên, Sư bà tham gia xuống đường đấu tranh dành quyền lợi giúp đỡ học sinh sinh viên đòi quyền sống tự do cho dân tộc. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Sư bà khuyến khích Ni chúng học hỏi mở rộng kiến thức Nội điển cũng như Ngoại điển để cho ánh sáng đạo vàng tỏa sáng muôn nơi. Đối với xã hội, Sư bà tiếp tục con đường từ thiện, giúp đỡ người nghèo, trẻ mồ côi, những thương bệnh binh, những nơi thiên tai bão lụt và những mãnh đời đau khổ mà chiến tranh đã gây ra.

Công hạnh phụng Đạo giúp Đời của Sư bà đã được Hoà thượng Thích Từ Thông khen tặng:

“Chí bất khuất vì Hạnh Phúc Tự Do,

chiếc áo Khất sĩ làm vẻ vang trong Ni giới;

Nguyện kiên cường cho Hòa Bình Độc Lập,

tấm thân nữ lưu nêu gương sáng chốn Tòng lâm”.

Từ năm 1976 đến 1981 nhiều nhiệm kỳ Sư bà đảm nhiệm chức vụ Đại biểu quốc hội khóa VI. Phó chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh. Ủy viên Ủy ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhiều chức vụ khác...

Sư Bà để lại rất nhiều Kinh kệ được dịch ra Việt văn, theo nhiều thể thơ như Tinh Hoa Bí Yếu, Kinh Tam Bảo. Trong Tinh Hoa Bí Yếu có những bài Kinh được Sư bà chuyển dịch ra thơ rất dễ đọc, dễ học và dễ nhớ, như là: Kinh Di Giáo, Kinh Từ Bi, Kinh Vô Ngã Tướng, Kinh Pháp Cú…Trong Kinh Tam Bảo Sư Bà viết Kinh A Di Đà, Kinh Phổ Môn, Kinh Báo Hiếu, Kinh Vu Lan …

Như Kinh Pháp Cú được Sư bà chuyển dịch ra thơ rất dễ đọc dễ học và dễ nhớ, vì vậy trong đó con tâm đắc nhất những câu kệ nói về “cái tâm” như:

Trong các Pháp do tâm làm chủ,

Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên.

Tâm nhơ tạo nghiệp chẳng hiền,

Như xe lăn bánh, khổ liền theo sau.

Trong các Pháp do tâm làm chủ,

Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên.

Tâm thanh tạo nghiệp tốt hiền,

Như hình dọi bóng, vui liền theo sau.

Những bài kệ khác như là Thân, Khẩu, Ý, Nhẫn… Sư Bà dạy cho chúng con biết thân này là vô thường,

Thân này chưa biết ra chi,

Của kia lại có chắc gì mà ham?

Phải nên giữ gìn khẩu nghiệp:

Nói chi mắng nhiếc tưng bừng,

Miệng xây núi nghiệp biết chừng nào tan?

Nói chi chửi rủa kêu vang,

Lưỡi đào hố nghiệp biết đàng nào lên?

Là người Phật tử phải biết cúng dường, ăn chay phóng sanh, bố thí, biết thương người nghèo khó, những người già yếu, những người neo đơn và hòa đồng với những người chung quanh, đừng nên bỏn xẻn, keo kiệt, ích kỷ, tham lam thì ngày nhắm mắt chẳng còn chi cả. Còn ngược lại, người có tấm lòng từ bi hỷ xả, thì:

Ngày nhắm mắt chẳng lo chi nữa,

Khối âm công tích chứa từ xưa,

Nẻo về đã có người đưa,

Cõi riêng đã có phước thừa an vui.

Thơ văn, Kinh kệ của Sư Bà viết rất là phong phú, dạt dào, đây là những di sản văn hóa thiêng liêng tuyệt vời mà Sư Bà đã để lại cho đời sau. Đặc biệt là Lời Di Huấn của Sư Bà nhắc nhở đoàn hậu học chúng con luôn tinh tấn dõng mảnh tu tập, khi “ngày đã tận” không còn gì nữa, chỉ còn lại “Giới Định Tuệ” với chí nguyện cao cả:

Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương.

7. NGỌC TN

Phật tử Tịnh xá Ngọc Tháp, Thị xã Kiến Tường - Long An

CHẾ PHỤC LỤC CĂN

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

- Kính bạch Chư Tôn Đức trong Ban Tổ Chức

- Kính bạch Chư Tôn Đức trong Ban Giám khảo

- Kính thưa quí bạn đạo dự thi

Con pháp danh Ngọc Tấn, Phật tử Tịnh xá Ngọc Tháp - Thị xã Kiến Tường - Long An, tham gia vào cuộc thi hôm nay, với tinh thần nhớ và đền ơn các bậc Thầy Tổ đã vun bồi huệ mạng cho chúng con.

Con xin thuyết trình chủ đề trong Kinh Pháp Cú phẩm Tỳ kheo - câu 360- 361.

Chế phục được nhãn căn

Chế phục được nhĩ căn

Chế phục được tỷ căn

Chế phục được thiệt căn

Chế phục được thân căn

Chế phục được ý căn

Lành thay chế phục lục căn

Tức thì giải thoát các phần khổ đau

Câu thứ nhất Đức Phật dạy: “Chế phục được nhãn căn”. Khi nhãn căn được chế phục mắt chúng ta chỉ thấy một màu thanh tịnh. Không nhiễm sắc trần thì sẽ không sanh ra buồn giận, thương ghét, mến, yêu hay liếc trộm nhìn xiên, rồi dậy khởi dục tình, phân biệt đủ điều đẹp xấu, khen chê. Khi ấy chúng ta thấy vạn cảnh mà tâm không mê nhiễm, lúc nào nhìn con người cũng đượm vẻ từ bi. Sắc nước nghiêng thành lòng chẳng ước chi, phú quí công danh xem như giấc mộng.

Mắt thường thanh tịnh quan chiêm,

Đừng hay nhìn liếc, kiếm tìm chi chi.

Ngó đường chánh, ngó nẻo đi,

Ngó vào tâm trí, kiên trì không lơi.

Và khi chế phục được nhĩ căn thì tâm chúng ta mới được sung sướng thanh nhàn, nguyện xa rời sắc tướng thinh âm, tiếng nịnh hót khen chê lòng không mê nhiễm, nghe lại tự tánh mình hòa vào thể vô sanh.

Có câu:

Tai thường thanh tịnh thảnh thơi,

Đừng hay nghe lóng những lời đơn sai.

Nghe thuyết pháp, nghe giảng bài,

Nghe vào tâm trí, hôm mai sửa mình.

Và chế phục được tỷ căn: Phật dạy:

Mũi thường thanh tịnh trong lành,

Đừng hay ngửi hít thơm tanh thế thường.

Ngửi Giới hương, ngửi Định hương,

Ngửi vào tâm trí, hơi thường tinh anh.

Đó là những câu thơ trong bài kệ Ý mà Cố Đệ nhất Ni trưởng viết trong kinh Tam Bảo để chỉ cho những người đã chế phục được tỷ căn, khi ấy chúng ta không còn mê đắm mùi hương, hay phân biệt hương trầm, tinh tấn tu hành cho đạt ngũ phần hương: Hương Giới, hương Định, hương Tuệ, hương Giải thoát, hương Giải thoát tri kiến, phát triển những hạnh lành cho phiền não tiêu tan. Khi thở vô biết rõ ràng, thở ra cũng nhận biết rõ ràng, hơi thở ra vô, dài ngắn, đều nhận biết rõ ràng, thì sẽ được minh tâm kiến tánh, được an tịnh trong thể chơn như, như lời Ni trưởng Đệ nhất đã dạy:

Thở vô dài biết thở vô dài,

Khi thở ra dài cũng biết ngay.

Hơi thở ra vô dài hoặc ngắn,

Biết liền quán sát, giác tâm khai.

(Kệ Chơn Lý - Sổ tức quán)

Còn nếu như thiệt căn được chế phục, tức thì nghiệp lưỡi không còn tham miếng ăn ngon mà sát sanh hại vật, hay chuyện có nói không, buông lời gian dối, lắm chuyện điêu ngoa, thêu dệt trăm điều, không còn tham đắm vị ngon đủ loại trên đời. Ôi thật buồn khi có 3 tất lưỡi mà gian dối lọc lừa ngụy biện khen chê.

Con nguyền vượt khỏi sông mê.

Trang nghiêm giới luật nói lời kệ kinh.

Soi đèn trí tuệ quang minh,

Cho người hiểu được tánh linh nhiệm mầu.

Tiếp theo Đức Phật dạy: Chế phục được thân căn vì nếu không chế phục được thân căn ta sẽ tạo ra vô vàn tội lỗi, nào là sát sanh, trộm cắp tà dâm.Ta phải nên tu tâm tỉnh trí, đem thân phàm làm lợi ích giúp chúng sanh, nguyện trở về thanh tịnh pháp thân, khai mở từ tâm, trang nghiêm tịnh độ, rời ngã chấp sang bời giác ngộ, đền đáp tứ trọng ân cứu khổ ba đường.

Thân thường thanh tịnh xúc trần,

Đừng hay ô nhiễm xúc căn đụng sờ.

Sờ diệu lý, nắm huyền cơ,

Sờ vào tâm trí, xem hờ kẻo quên.

Tiếp theo là câu “Chế phục được ý căn”, khi ý căn được chế phục thì mọi tâm vong đều tiêu tan hết, khi ấy tham, sân, si không còn. Tam độc không còn thì phiền não cũng tiêu tan, lúc ấy chánh niệm sẽ sáng soi trên mỗi bước đường chúng ta đi, lòng gian tham không còn che đi tánh thiện, lửa hận thù không còn vùi lấp hạt giống từ bi.

Ý thường thanh tịnh tự nhiên,

Đừng hay vọng tưởng, rối ren mơ màng.

Tưởng Bát chánh, tưởng Tam không,

Tưởng vào tâm trí, tập trung điển lành.

Câu kết là:

Lành thay chế phục lục căn,

Tức thì giải thoát các phần khổ đau.

Đó là bài kệ mà Đức Phật dạy cho chúng ta thấy được sự giải thoát và hạnh phúc, khi chế phục được lục căn.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân,

Sáu căn tiếp xúc sáu trần nhiễm mê.

Giống như địch thủ gần kề,

Phải nên nhiếp phục hộ trì sáu căn.

Biết rành tập khởi căn trần,

Biết rành đoạn diệt ân cần xả ly.

Nội tâm an tịnh kịp thì,

Cuộc đời chấm dứt thị phi não phiền.

Trong bài thuyết trình, sự hiểu biết của con còn nông cạn, có điều gì sơ sót, kính mong Chư Tôn Đức hoan hỷ tha thứ.

Lời sau cùng con xin kính chúc Chư Tôn Đức Pháp thể khương an, tuệ đăng thường chiếu, kính chúc quí bạn đạo bồ đề tâm kiên cố, tinh cần tu học và nguyện chúng ta sẽ mãi gặp nhau trong chánh pháp.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

8. NGỌC TRÍ

Phật tử Tịnh xá Ngọc Tháp, Thị xã Kiến Tường - Long An

KHẨU

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

- Kính bạch Chư Tôn Đức trong Ban Tổ Chức

- Kính bạch Chư Tôn Đức Ban Giám Khảo

- Kính thưa quí bạn đạo thí sinh.

Nhân ngày lễ tưởng niệm lần thứ 30 Ni trưởng Huỳnh Liên, Đệ nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tại Tổ đình Ngọc Phương tổ chức thi về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng, trong đó có mục thi thuyết trình. Con pháp danh Ngọc Trí, Phật tử Tịnh xá Ngọc Tháp, Thị xã Kiến Tường - Long An, con xin được thuyết trình chủ đề : “Khẩu” trong Phụ Lục Kệ Ngôn - Kinh Tam Bảo trang 162.

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Kính thưa quí bạn đạo.

Theo lời Phật dạy: Thân, Khẩu, Ý là 3 nơi gieo tạo nghiệp, con người tạo nghiệp là do thân, khẩu, ý.

Nghiệp là sự tạo tác nên nghiệp lành hay dữ.

- Khẩu nghiệp là một trong 3 nghiệp rất quan trọng cho nên đối với người cư sĩ Phật tử tại gia Đức Phật đã chế định giới, để người Phật tử vâng giữ trong đó giới thứ 4 là không nói dối, phát xuất từ khẩu để tạo nghiệp và sẽ kết tập thành quả, khẩu là tội mà người bình thường như chúng ta, khi khởi tâm sân, tâm đố kỵ dễ tạo ác nghiệp. Nên trong Kệ Xưng Tụng Tam Bảo, Cố Ni trưởng Đệ nhất khuyên dạy :

“Trăm năm vật đổi người dời.

Một câu quý giá, muôn đời còn ghi.

Mở lời trước cạn xét suy,

Rằng ta cất tiếng ích chi chăng là?

Bằng như lời ấy thốt ra,

Làm buồn kẻ khác thì ta xin đừng…”

Thật là như vậy, vết thương gây ra nơi thân có thể làm lành được, nhưng một lời nói ác sẽ gây cho vết thương lòng khó phôi pha.

- Khẩu nghiệp: có khẩu nghiệp lành có khẩu nghiệp ác mà ở lĩnh vực nào sẽ cho nhân quả đó.

- Khẩu nghiệp lành: từ lời nói ái ngữ, lời hay, ý đẹp đem lại lợi ích cho chính bản thân mình và cho tất cả những người xung quanh.

- Khẩu nghiệp ác: lời nói dối để thủ lợi, nói ác ý, nói thêu dệt, nói đâm thọc... sẽ đem đến hậu quả xấu cho chính bản thân mình và phiền lụy những người xung quanh.

Chuyện kể rằng: Có 1 ông Phú hộ một hôm sai người giúp việc bắt 1 con heo đem làm thịt và phải đem 1 bộ phận nào tốt nhất, ngon nhất dâng lên cho ông Phú hộ ăn, người giúp việc sau khi làm xong con heo liền đem dâng lên cho ông cái lưỡi.

Ông Phú hộ hỏi người giúp việc tại sao lưỡi lại là bộ phận ngon nhất.

- Người giúp việc bèn trả lời rằng: Bẩm ông lưỡi là bộ phận quan trọng nhất, lưỡi có thể nói được lời hay ý đẹp, nói lời dịu hòa, xoa dịu nỗi đau, lưỡi làm ích nước lợi dân.

Ông phú hộ nghe xong khen phải.

Ít lâu sau ông Phú hộ lại sai người giúp việc làm 1 con heo nữa nhưng lần này ông nói đem cho ông bộ phận nào xấu xa nhất trong con heo. Sau khi làm xong người giúp việc cũng dâng cho ông cái lưỡi, ông Phú hộ hỏi sao lại là lưỡi?

Người giúp việc trả lời: Bẩm ngài lưỡi cũng chính là bộ phận xấu xa nhất vì lưỡi biết nói dối, nói lời đâm thọc, lời hung ác, làm cho thị phi, đảo lộn trật tự xã hội và đôi khi lưỡi cũng có thể giết người nữa.

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy được những ích lợi và tác hại do khẩu tạo ra.

Chưa kể đến khẩu tham ăn, miệng đòi ăn món ngon vật lạ bất chấp để thỏa mãn lòng tham mà phải phạm vào sát sanh hại vật đầy thương tâm và cuối cùng để cho thân phải gánh chịu. Sát sanh là không thọ mạng; Tham ăn vô độ sẽ vướng nhiều bệnh nan y và Cố Ni trưởng dạy rằng:

“…Họa tai từ miệng mà nên,

Bệnh căn vì miệng mà truyền vào thân…”

Cho nên khi chúng ta đã hiểu hết những tác hại về khẩu hãy xin dừng lại, sám hối và dè dặt cẩn trọng lời nói của mình.

Hãy nói những lời ái ngữ, nói với nhau những lời dịu hòa, gắn kết yêu thương, hãy giữ thân khẩu, ý được trong sạch thì chắc chắn ta sẽ được nhân quả tốt lành, sống cuộc đời hạnh phúc, an lạc sẽ đến với chúng ta, hãy thực hành theo lời dạy của Ni trưởng, sống đời an lạc, hạnh phúc sẽ đến với chúng ta.

“Miệng ta là cánh hoa sen,

Một khi hé nở, một phen thơm lừng.

Tiếng ta là gió mùa xuân,

Một cơn thổi nhẹ muôn dân mát lòng”.

Kính bạch Chư tôn đức,

Trong bài thuyết trình, sự hiểu biết của con còn nông cạn, có điều gì sơ sót, kính mong Chư tôn đức hoan hỷ tha thứ.

Lời sau cùng con xin kính chúc Chư tôn đức Pháp thể khương an, tuệ đăng thường chiếu, kính chúc quí bạn đạo bồ đề tâm kiên cố, tinh cần tu học và nguyện chúng ta sẽ mãi gặp nhau trong chánh pháp.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

9. NGỌC QUANG

Phật tử Tịnh xá Ngọc Tháp, Thị xã Kiến Tường - Long An

KHI THĂNG TRẦM LÚC VUI BUỒN

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

- Kính bạch Chư tôn đức trong Ban Tổ Chức,

- Kính bạch Chư tôn đức Ban giám khảo,

- Kính thưa quí bạn đạo dự thi,

Nhân ngày lễ tưởng niệm lần thứ 30 Ni trưởng Huỳnh Liên Đệ nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tại Tổ đình Ngọc Phương tổ chức thi về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ nhất, trong đó có mục thi thuyết trình, Con pháp danh Ngọc Quang, Phật tử Tịnh xá Ngọc Tháp Thị xã Kiến Tường, Long An.

Con xin được thuyết trình 4 câu Kệ trích lục trong Kinh Tinh Hoa Bí Yếu - trang 244.

Khi thăng trầm lúc vui buồn,

Giữ tâm như đất, luôn luôn không phiền.

Dầu dơ sạch, dầu chê khen,

Ví tâm như đất, thản nhiên mặc tình.

Kính bạch Chư tôn đức,

Kính thưa quí bạn đạo,

Trong đời sống của mọi người trên thế gian, không ai không gặp những bước thăng trầm.

Lúc được lúc thua - lúc vinh lúc nhục.

Lúc vui lúc khổ - lúc sướng lúc cực.

Lúc lên voi - lúc xuống ngựa.

Lúc danh dự lúc nhọc nhằn - lúc lạc quan lúc bi quan.

Lúc bước lên xe - lúc ngã xuống ngựa.

Lúc được làm vua - lúc thua làm giặc.

Lúc lên đài danh vọng - lúc xuống tận bùn đen.

Lúc tươi cười hỷ hả - lúc cười ra nước mắt.

Lúc hân hoan ra mặt - lúc khóc thầm trong tâm.

Lúc muốn sống dai với đời - lúc muốn chết phứt cho rồi.

Những bước thăng trầm như vậy, sở dĩ làm cho con người phải phiền não khổ đau bởi vì: Khi gặp phải bất cứ cảnh ngộ nào, dù vừa ý hay không vừa ý, tâm trí con người luôn luôn xao động bất an. Cho nên nếu chịu khó tìm hiểu đạo lý thực tâm tu học, kiên trì công phu, quán chiếu tự tâm - thì chắc chắn chúng ta sẽ có an lạc. Chúng ta tự cảm nhận rằng:

Có những hồi thất bại,

Là những dịp trau tâm.

Nếu cứ đắc thế mãi,

Đâu thấy được lỗi lầm.

Thất bại là ông thầy,

Thất bại là bà mẹ.

Năng đánh đập quở rầy,

Cho tội mình được nhẹ.

(Đóa Sen thiêng - Những Hồi Thất Bại, trang 688)

Sự thịnh suy, vinh nhục, được mất khen chê là 8 ngọn gió đời làm chao đảo ngọn đèn tâm của chúng ta.

Chúng ta nên quán chiếu rằng: Ngay cả thân tứ đại của chúng ta nhất định cũng phải bị mất đi, tan rã và trở về cát bụi và bất cứ vật gì có hình tướng cũng đều trải qua 4 giai đoạn “Thành, Trụ, Hoại, Không”, hay “Sanh, Trụ, Dị, Diệt”. Phật đã dạy như vậy, chúng ta nghe hiểu để giảm bớt phiền não và khổ đau trong cuộc đời, để ta có thể giữ tâm được bình thản trước những sự mất mát trên thế gian này.

“Thắng thì sanh oán, sanh thù,

Bại thì đau đớn lo rầu mãi thôi.

Sống đời hoà hiếu an vui,

Chẳng cầu thắng bại lôi thôi nhọc nhằn”.

(Kinh Pháp Cú - Phẩm Lạc, câu 201 trang 63)

Trong hạnh phúc, trong phiền não, lúc thăng, lúc trầm ta hãy giữ tâm như đất. Vì trên đất ta có thể vứt bất cứ vật gì, đất không cự tuyệt.

Dầu dơ sạch, dầu chê khen,

Ví tâm như đất thản nhiên mặc tình.

(Đóa Sen Thiêng - Sức Chịu Đựng, trang 193).

Con người có được tâm như đất đó, sự thản nhiên đó thì phải có nội lực, ý chí kiên cường phải là người thật bản lĩnh, đồng thời phải có tâm quảng đại mới thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền não.

Vạn vật trần gian là vô thường,

Sang hèn vinh nhục tợ như sương.

Thênh thang một cõi không biên xứ,

Tâm trí còn đâu cảnh vấn vương.

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Trong bài thuyết trình trí con hiểu biết hạn hẹp, có điều gì sơ sót, kính mong Chư Tôn Đức hoan hỷ tha thứ, nếu được đồng thuận con xin đem công đức đó hồi hướng cho khắp chúng hữu tình, kẻ âm siêu thoát, người dương thơ thới.

Lời sau cùng con xin kính chúc Chư tôn đức, pháp thể khương an, tuệ đăng thường chiếu. Kính chúc quí bạn đạo, bồ đề tâm kiên cố, tinh cần tu học.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

10. HUỆ THẠNH

Phật tử Tịnh xá Ngọc Tháp, Thị xã Kiến Tường, Long An

GIÁC NGỘ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Chư Tôn Đức trong Ban Tổ Chức

Kính bạch Chư Tôn Đức Ban giám khảo.

Kính thưa quí bạn đạo dự thi.

Nhân ngày Lễ tưởng niệm lần thứ 30 Cố Ni trưởng Huỳnh Liên Đệ nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tại Tổ đình Ngọc Phương tổ chức thi về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ nhất. Trong đó có mục thi thuyết trình, Con pháp danh Huệ Thạnh, Phật tử Tịnh xá Ngọc Tháp - Thị xã Kiến Tường, Long An.

Con xin thuyết trình đề tài Giác Ngộ trong Kệ Chơn Lý số 30 (Tinh Hoa Bí Yếu trang 253).

Địa ngục Thiên đường cũng tại tâm,

Nhơn nào quả nấy há sai lầm.

Từ bi ban rải tiêu oan trái,

Hỷ xả hoà đồng dứt hận sân.

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Kính thưa quí bạn đạo,

Kiếp sống nhơn sinh mỗi con người, đều trải qua qui luật, không ngoài 4 chữ: Sanh, già, bệnh, chết, như lời Ni trưởng Đệ nhất đã dạy:

Món đồ gốm có ngày bể nát,

Tánh bể kia theo sát món đồ.

Thân ta cái chết chực hờ,

Luôn luôn “cái tử” đợi chờ “cái sanh”.

(Kệ Trích Lục - Tinh Hoa Bí yếu, trang 223)

Mỗi con người sinh ra nơi cõi Ta bà này, với tấm thân giả tạm, nhưng luôn luôn mong cầu đủ điều để lo cho tấm thân ấy.

Là hàng cư sĩ, chúng ta có bao giờ tư duy vì sao Đức Phật ngày xưa sẵn sàng từ bỏ cung vàng - điện ngọc, vợ đẹp - con xinh để đi tìm chơn lý giác ngộ - giải thoát. Để tìm ra chân lý, Ngài cũng đã trải qua vô vàn sự quán sát, trực nhận sự thật nơi các pháp, để rồi tỉnh thức - giác ngộ mà rõ nhất, hiện thực nhất từ bản thân, từ kiếp người khổ đau, mà tìm ra chân lý con đường đưa đến an vui vĩnh viễn. Trạng thái chứng ngộ của Đức Phật được Đệ Nhất Ni trưởng thi hóa trong bài Kệ Khải Hoàn.

Trải bao nhiêu kiếp luân hồi,

Ta đi đi mãi tìm hoài không ra.

Ai là người thợ cất nhà,

Dựng nên kiếp sống, tạo ra cuộc đời.

Hỡi này người thợ kia ơi !

Ta vừa tìm gặp được ngươi đây là.

Từ nay ngươi khỏi cất nhà,

Những sườn cùng nóc ta đà phá tan.

Như Lai đã chứng Niết bàn,

Tận trừ ái dục vào hàng Vô sanh.

(Kệ Trích lục - Tinh Hoa Bí Yếu, trang 216)

Khổ đau, là trạng thái địa ngục bất như ý xứ - Thiên đường, là cõi an vui giải thoát - hai trạng thái đó ở tại nơi tâm, từ tâm.

Thật rõ ràng:

“Địa ngục Thiên đường cũng tại tâm,

Nhơn nào quả nấy há sai lầm”.

(Chơn Lý – Số 30: Giác Ngộ - NT Huỳnh Liên)

Trong cuộc sống hàng ngày với bản thân, với gia đình, với xã hội, trong các bổn phận như: sự giao tiếp, đối đãi, từ nơi thân, khẩu, ý có được thiện lành, lợi lạc cho ai chưa?

Chúng ta bị mê hoặc vì những vọng chấp nhỏ nhen. “Người và Ta” nên lòng ích kỷ tràn đầy, át hết cả tâm tính chân như, khiến ta chỉ mong cho mình giàu sang, sung sướng, hưởng mọi sự tốt đẹp hơn người, mà làm hạn hẹp vòng sống của tâm, không mở rộng lòng từ bi yêu thương, giúp đỡ người chung quanh mà gây nên mọi oan trái khổ đau.

Một vị Giáo sư khuyên 1 người muốn tự tử chết rằng: “Mỗi ngày anh hãy làm một việc thiện, chẳng hạn cho 1 con chó 1 chén cơm, dắt 1 bà lão băng qua đường, việc làm đó không tạo niềm vui, hạnh phúc nơi tâm anh, thì anh muốn chết tôi không cản, vì đời người của anh không làm lợi lạc cho ai”.

Cho nên trong Kệ Chơn Lý bài Giác Ngộ Đệ nhất Ni trưởng đã cô đọng:

“Từ bi ban rải tiêu oan trái,

Hỷ xả hoà đồng dứt hận sân”.

Tóm lại: Tâm làm chủ, tâm tạo tác, tâm dắt dẫn ta lên xuống 3 cõi 6 đường. Nên chúng ta hãy mở rộng lòng thương, phát triển 4 tâm “Từ - Bi - Hỷ - Xả” để xóa tan mọi sân hận trái oan thì cuộc sống chúng ta sẽ được an vui, hạnh phúc.

“Không làm nghiệp ác là hơn,

Nhơn ác, nhất định, thọ cơn khổ nàn.

Nên làm nghiệp thiện là hơn,

Nhơn lành, nhất định lãnh phần an vui”.

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Kính thưa quí bạn đạo,

Bài thuyết trình của con biết sao nói vậy theo kiến thức của mình, nên không tránh khỏi những sơ sót, kính mong Chư Tôn Đức hoan hỷ tha thứ.

Sau cùng con xin kính chúc Chư Tôn Đức sức khỏe dồi dào, lợi lạc quần sanh. Kính chúc quí bạn đạo bồ đề tâm vững chắc như cây tùng bá, ước mong chúng con sẽ cùng hội ngộ trùng phùng làm quyến thuộc với quí vị nơi đạo tràng chánh pháp Phật Đà.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

11. YẾN NGỌC

Phật tử Tịnh xá Ngọc Nguyên, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

TƯỞNG NIỆM

Thời gian thắm thoát qua nhanhmới đó mà đã kỉ niệm 30 năm ngày Ni trưởng đệ nhất trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam viên tịch.Con ngồi đây nơi hội trường tịnh xá Ngọc Phương cùng đông đảo Phật tử khắp trong cả nước tụ họp về dự lễ tưởng niệm của Người. Con bồi hồi và xúc động làm sao khi được về chốn Tổ đình của Ni giới Khất Sĩ, nơi mà con lưu lại quá nhiều dấu tích của Ni trưởng.

Trong kho tàng thơ văn của Ni trưởng, con tâm đắc nhất là bài Khẩu. Lời nói là phương tiện giao tiếp hằng ngày giữa người với người. Lời nói có thể làm cho người ta xích lại gần nhau và cũng có thể khiến cho con người trở thành thù hận, oán ghét lẫn nhau. Có lời nói hàm chứa ý nghĩa cao xa thâm thúy được người đời lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ đất nước này sang đất nước khác, trở thành danh ngôn bất hủ. Ngược lại cũng là lời nói phát ra từ tâm ý con người, nhưng khiến người nghe khó chịu và đau khổ đôi khi mang theo đến chết cũng không quên được. Chính vì thế, mở đầu bài kệ Khẩu, Ni trưởng đã khuyên mọi người :

“Trăm năm vật đổi người dời,

Một câu quý giá, muôn đời còn ghi”

Hay là:

“Bằng như lời ấy thốt ra,

Làm buồn kẻ khác thì ta xin đừng”.

(Khẩu - NT. Huỳnh Liên)

Qua lời dạy của Ni trưởng chúng ta thấy lời nói phát ra từ miệng mỗi người nó quan trọng như thế, nên trước khi nói lời nào chúng ta nên cẩn trọng. Tục ngữ Việt Nam cũng có câu:

“Lời nói không mất tiền mua,

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

Trong 5 giới của Phật tử hay trong thập thiện, tội về lời nói (vọng ngữ) được đức Phật quy thành bốn tội danh cụ thể mà Phật tử chúng ta cần biết và cần phải tránh, đó là: “Nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói lời ác khẩu”. Dù là tội danh nào, chung quy cũng là tội đã gây nên những tác hại, khổ đau cho người khác, đồng thời cũng là tổn hại cho chính bản thân mình. Chỉ việc giữ gìn lời nói thôi mà trong khi tu thập thiện Phật tử chúng ta đã làm được bốn điều. Cho thấy rằng việc nói năng quan trọng biết bao trong đời sống tu học của những người con Phật. Con nhớ Ni trưởng đã từng dạy:

“Cũng thời tiếng nói thốt ra,

Của chư Phật Thánh dịu hoà biết bao”.

(Khẩu - NT. Huỳnh Liên)

Lời nói không chỉ đơn giản là thông tin đến người nghe, mà nó còn đi sâu vào tâm hồn của người nghe nữa. Vì vậy, Phật tử chúng ta đừng tiết gì những lời nói dịu dàng, lời nói đẹp, lời nói hay dành cho ngững người sống xung quanh ta. Đôi khi chính lời nói đó sẽ giúp cho người nghe thay đổi cả lối sống và việc làm mà bấy lâu nay họ không nhận ra sai lầm. Đúng y như lời Ni trưởng đã dạy:

“Ta nên cất tiếng ôn tồn,

Phá tan những giấc mộng hồn tối đen!”

(Khẩu - NT. Huỳnh Liên)

Thực tế cho thấy, những câu nói nổi tiếng của các bậc vĩ nhân đã từng ngày từng giờ tác động và làm thay đổi biết bao cuộc đời của người có duyên đọc nó. Hai câu thơ bất hủ của Ni trưởng đã làm triệu triệu con tim thức tĩnh giác ngộ cả đạo lẫn đời:

“Nguyện xin hiến trọn đời mình,

Cho nguồn Đạo Pháp, cho tình Quê hương”.

Nhớ ngày đầu tiên con vào Tịnh xá đọc kinh mỗi buổi tối cùng với quý Sư cô và Phật tử. Cuối thời kinh sau khi đảnh lễ Tổ Sư, đạo tràng đã đọc hai câu thơ bất hủ trên của Ni trưởng để đảnh lễ và nhớ đến công hạnh của Người. Con thuộc lòng ngay sau vài hôm và thuộc mãi cho đến tận bây giờ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, bậc danh nhân thế giới, Bác đã có lời kêu gọi đồng bào Việt Nam nhân ngày lễ Quốc Khánh 2 tháng 9: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Sau bao năm chịu nhiều gian khổ, đói nghèo sống dưới gông cùm xiềng xích của ngoại bang, nhân dân Việt Nam đã kiên cường đứng lên chống giặc ngoại xâm, khiến đất nước thoát khỏi ách nô lệ, độc lập, tự do như ngày hôm nay.

Lời nói luôn xuất phát từ tâm ý mỗi người, hãy chọn lọc và thể hiện những lời nói tốt đẹp gửi đến những người xung quanh mình. Lời nói nằm trong khẩu miệng của mỗi người. Mỗi người là chủ nhân của lời nói. Tạo ác nghiệp hay thiện nghiệp hoàn toàn là do phụ thuộc vào lời nói của chính mình. Lời nói chính là thước đo để đánh giá nhân cách một con người, là thước đo chiều cao, chiều rộng của một tâm thức. Lời nói không phải để gió cuốn đi, lời nói như những hạt mầm gieo vào tâm trí của người nghe, người nhận, để từ đó sẽ nảy nở thành hoa, thành trái xanh tươi thơm ngát như lời thơ của Ni trưởng đã đúc kết cuối bài kệ Khẩu:

“Miệng ta là cánh hoa sen,

Một khi hé nở, một phen thơm lừng!

Tiếng ta là gió mùa xuân,

Một cơn thổi nhẹ, muôn dân mát lòng!”

(Khẩu - NT. Huỳnh Liên)

Chúc tất cả lời nói của người con Phật đều thơm ngát như đóa hoa sen.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

12. NGỌC BÍCH

Phật tử Tịnh xá Ngọc Nguyên, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

CẢM NHẬN VỀ NI TRƯỞNG

Nam mô Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch quí Ni trưởng, quí Ni sư, quí Sư cô

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày đệ nhất Ni trưởng viên tịch, con xin kính dâng đôi dòng tưởng niệm về người Thầy, bậc nữ lưu đáng kính đã “hiến trọn đời mình cho đạo pháp, cho tình quê hương”.

Kính bạch quí Ngài,

Tháng ba những tia nắng cuối xuân vẫn còn vương trên cành cây hoa cỏ. Tháng ba, một tháng đáng nhớ của Ni giới Hệ phái Khất sĩ, một tháng với sự mất mát lớn lao khó có gì bù đắp khi đệ nhất Ni trưởng đã về cõi vĩnh hằng. Đã 30 năm Ni trưởng vắng bóng nhưng hình ảnh Người vẫn luôn ghi đậm trong trong tâm khảm của hàng Phật tử chúng con. Bởi những bài kệ, bài thơ được Ni trưởng chuyển thể từ các bài kinh của Đức Thế Tôn vô cùng dễ nhớ dễ hiểu giúp cho những Phật tử sơ cơ như chúng con dễ dàng tiếp xúc với đạo hơn.

Chúng con có nghe:

“Mùi hương hoa quí tiết ra,

Khó bề ngược gió bay xa khắp cùng.

Mùi hương đức hạnh ngát lừng,

Mặc dầu ngược gió bay cùng bốn phương”.

(Kinh Pháp Cú - NT. Huỳnh Liên)

Thật vậy, cuộc đời Ni trưởng là “bài pháp không lời, cho con sức sống rạng ngời niềm tin”. Người đã để lại những bài thơ, bài kệ mà từng câu, từng chữ của nó vô cùng sâu sắc, càng đọc con càng thấy thấm thía. Mặc dù không được sinh ra vào thời kỳ Ni trưởng còn trụ thế, cũng như không có duyên được nghe lời giảng của Người. Nhưng chúng con may mắn được đọc các tác phẩm thơ văn của Người như Tinh Hoa Bí Yếu, Kinh Tam Bảo, Kinh Xưng Tụng Tam Bảo, Đóa Sen Thiêng... Từ đó, chúng con đã cảm nhận được rất nhiều điều. Chúng con hiểu được bản chất vô thường của cuộc đời. Kiếp sống của con người tạm bợ, thân người giả tạm như sương móc ban mai. Dù cho sương có lóng lánh đến đâu chăng nữa khi nắng lên sương sẽ tan nhanh trong phút chốc mà thôi. Như Ni trưởng đã dạy:

Chắc chi bọt nước đầu gành,

Chắc chi sương đọng trên cành ban mai.

Bọt kia làn gió nhẹ lay,

Sương kia ánh nắng chiếu ngay tan rồi.

(Thân - NT. Huỳnh Liên)

Nhưng thật đáng thương cho các hàng Phật tử chúng con, lại không hiểu được bản chất vô thường của vạn vật, mãi đắm chìm trong cái gọi là ngã chấp xem thân này là “của tôi”, tình cảm này là “của tôi”, gia đình này là “của tôi” để rồi tạo không biết bao nhiêu nghiệp xấu ác. Chúng con thật đúng là:

“Đem thân làm kẻ tội đày,

Cho bao vật chất nó cai trị mình.

Để tâm làm vật hy sinh,

Suốt đời theo lịnh dục tình dắt lôi”.

(Thân - NT. Huỳnh Liên)

Chúng con nào biết đâu càng chạy theo vật chất, danh lợi, ngũ dục thì càng khổ đau, càng quay lộn trong sinh tử luân hồi bởi nghiệp đã mà mình đã tạo. Khi ta chào đời với hay bàn tay trắng lúc ra đi cũng chẳng mang được gì, có chăng là nghiệp sẽ theo ta như hình với bóng. Như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết trong lời bài hát: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi trở về với các bụi”. Nhưng không phải ai cũng hiểu được điều này, phần lớn con người luôn chạy theo tiền bạc vật chất để thỏa mãn lòng tham.

“Cái tham bao thuở cho rồi,

Cái không một phút tỉnh hồi là xong.

Dã Tràng xe cát biển Đông,

Vô tình lượn sóng cướp công nhọc nhằn”.

(Thân - NT. Huỳnh Liên)

Chỉ vì tham đắm tiền tài, danh lợi con người đã tạo biết bao nghiệp miệng nói ác, nói xấu hoặc “mắng nhiếc tưng bừng, chửi rủa kêu vang” miễn sao được lợi cho bản thân, tìm đủ mọi cách để vun vén cho thân:

“Của người nhọc đổ mồ hôi,

Dùng mưu chước lấy đắp bồi thân ta”.

(Sám Hối Tam Nghiệp - NT. Huỳnh Liên)

Với cái nhìn tuệ trí Ni trưởng thấy được sự vô minh của chúng sanh nên Người đã dẫn lối chỉ đường bằng những câu thơ thật dễ hiểu:

“Đòn cân phước thưởng, tội trừng,

Biết công hay nợ, biết mừng hay lo?

Thử theo công quá mà so,

Tội dồn muôn kiếp biết to thế nào?”

(Thân - NT. Huỳnh Liên)

Qua đoạn thơ, Ni trưởng nhắc nhở chúng con chỉ có con đường tu tập mới giúp ta dứt bỏ những nghiệp duyên đã tạo mà thoát khỏi luân hồi sinh tử. Nếu cứ mãi chạy theo danh lợi hoặc tự cao ngã mạn không nổ lực tinh tấn tu tập, mãi dong ruỗi theo trần cảnh, không quay về chơn tâm Phật tánh thì không thể tìm được niềm vui chân thật trong cuộc sống. Những thứ vui ở thế gian nếu có cũng chỉ là giả tạm mà thôi. Như một thi sĩ đã nói:

Bể khổ mênh mông nước ngập trời,

Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi.

Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió,

Ngẫm lại cùng trong bể khổ thôi.

Không ai có thể giúp chúng ta vượt qua bể khổ trần gian ngoài bản thân chúng ta. Vậy còn chần chừ gì nữa mà chúng ta không tự mình đưa tay tháo bỏ dây dục tình, đoạn trừ vô minh phiền não trở về tánh linh vốn có nơi mỗi người:

Chán chê mộng cảnh đọa đày,

Đưa tay trí tuệ, tháo dây dục tình.

Đoạn trừ hoặc chướng vô minh,

Tâm chơn trở lại, tánh linh đem về.

(Thân - NT. Huỳnh Liên)

Ni trưởng đã cho chúng con hiểu được cõi trần là tạm bợ, sớm còn tối mất. Vì vậy, phải biết mượn thân giả tạm vượt bến mê trở về bờ giác.

“Ngày đã cận cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa.

Định Huệ không thiếu không thừa,

Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”.

(Lời Dạy Cuối Cùng - NT. Huỳnh Liên)

Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng tất cả các pháp căn bản để tu tập. Bốn câu này, ý muốn khuyến khích người học Phật cẩn phải tinh tấn nổ lực lấy Giới làm kinh chỉ nam cho việc tu tập để làm hàng rào ngăn chặn những nghiệp xấu. Giới sẽ giúp người học Phật không nghĩ sai, làm sai giữ được ba nghiệp thân, khẩu ý trong sạch, thanh tịnh. Và nhờ giữ giới sẽ có Định. Khi tâm Định thì Huệ phát sinh. Nhờ có Huệ người học Phật sẽ hiểu rõ bản chất vô thường, quán nghiệp quả nhân duyên, thấu rõ lý tứ Diệu Đế... Như vậy Giới, Định, Huệ cả ba không thể tách rời. Đồng thời Ni trưởng còn nhắc nhở chúng con không chỉ tu vì lợi ích cá nhân mà còn phải vì tất cả mọi người, vì quê hương đất nước, đem lợi ích cho mọi người theo khả năng của riêng mình.

Kính bạch quí Ni trưởng, quí Ni sư, quí Sư cô

Dù không có duyên được nghe pháp từ kim ngôn của Đệ nhất Ni trưởng nhưng những lời dạy của Người mãi hiện hữu trong tâm khảm chúng con. Người mãi là đóa sen vàng tỏa ngát hương thơm trong lòng dân tộc. Người mãi là ngọn đuốc thiêng soi đường cho chúng con. Chúng con nguyện tinh tấn tu tập, thực hành lời dạy của Người, dừng nghiệp xấu, gieo nghiệp thiện, phát Bồ đề tâm. Bởi:

Tâm phải phát,

Nguyện phải lành,

Việc mới thành.

Cuối cùng con thành kính cảm ơn quí Ni trưởng quí Ni sư, Sư cô đã cho phép con nói lên cảm nghĩ của mình nhân ngày lễ tưởng niệm 30 của đệ nhất Ni trưởng. Con xin kính chúc quí Ngài mãi là ngọn tuệ đăng soi đường cho chúng con tiến bước trên con đường giải thoát.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

13. NGỌC LỄ

Phật tử Tịnh xá Ngọc Nguyên, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

LỜI DẠY CỦA CỐ NI TRƯỞNG

Kính bạch Quí Ni trưởng, quí Ni sư, quí Sư Cô!

Con : Đặng Kim Dung - Pháp danh: Ngọc Lễ là Phật tử Tịnh xá Ngọc Nguyên, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Nhân dịp tưởng niệm 30 năm ngày Ni trưởng Đệ nhất viên tịch, cho con nêu lên đôi dòng cảm nghĩ, lòng tri ân với bậc Thầy khả kính.

Kính bạch Quý Ngài!

Ba mươi năm không còn Đệ nhất Ni trưởng hiện diện trên cuộc đời nhưng hình bóng Người vẫn sống mãi trong lòng Phật tử chúng con. Bản thân con dù không được gặp và nghe các bài giảng của Ni trưởng, chỉ nghe qua lời kể của cố Sư Phụ Nguyệt Liên hoặc qua những bài giảng của Thượng Tọa Giác Nhân, Giác Tây trong những ngày thọ bát quan trai nơi đạo tràng tịnh xá Ngọc Nguyên. Càng nghe con càng kính ngưỡng công hạnh của cố Ni trưởng, một bậc nữ lưu hết lòng vì đạo pháp, vì dân tộc. Cố Ni trưởng đã để lại biết bao bài kệ để chỉ dạy Phật tử chúng con. Hàng ngày cuối buổi công phu tối, chúng con được đọc bài kệ:

“Ngày đã cận cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa.

Định Huệ không thiếu không thừa,

Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”.

Chỉ bốn câu kệ ngắn gọn nhưng đã thâu tóm cả con đường tu tập đi đến giải thoát. Từ bốn câu kệ, con đã hiểu Ni trưởng khuyên chúng con cần phải tinh tấn tu học, không nên giãi đãi, buông lung, chạy theo cuộc sống đời thường, chạy theo vật chất thế gian. Được sinh ra làm người, được gặp Phật Pháp là điều may mắn cho chúng con. Nhưng nếu không biết thực hành lời Phật dạy đúng pháp, sẽ dễ dàng tạo nghiệp xấu ác. Bởi lẽ chúng ta hiện hữu và đến với cuộc đời này đều do nghiệp mà chính chúng ta đã tạo tác từ vô lượng kiếp.

Áo trần con lỡ mặc vào,

Nợ trần con biết ngày nào cởi ra!

(Nguyện Về Cõi Phật)

Với cái nhìn tuệ trí cố Ni trưởng đã thấy cuộc đời là vô thường, mạng sống con người không biết sẽ trả về cho tứ đại lúc nào nên Người đã ân cần nhắc nhở:

“Ngày đã cận cần tu gấp rút”

Thời gian qua đi không thể trở lại, vì thế cần phải gấp rút tu tập, dù là Phật tử tại gia cũng cần có ý thức nổ lực tinh tấn tu tập, đừng để già đến, sức khỏe không còn, có hối tiếc không kịp nữa.

“Giới giữ sao trong sạch như xưa”

Là người con Phật cần lấy giới làm kim chỉ nam, giới làm rào cản giúp Phật tử không bị vướng vào nghiệp ác. Khi qui y bất cứ người Phật tử nào cũng được nghe giảng về năm giới của Phật tử tại gia. Chính năm giới là con đường đưa ta về bản tánh trong sạch, thanh tịnh, chơn tâm Phật tánh vốn có của mỗi người. Và câu kệ như một lời nhắc nhở ngày quy y chúng ta đã phát tâm thọ trì giới thì giờ đây phải cố gắng hành trì, giữ gìn trong sạch đến trọn đời.

“Định Huệ không thiếu không thừa”

Nhờ có giữ giới giúp ta không buông lung, phóng dật, dứt trừ các tạp niệm sinh khởi trong tâm nên dễ dàng đi đến Định. Khi tâm đã định, trí tuệ sẽ phát sanh. Nhờ có trí tuệ, chúng ta sẽ có cái nhìn đúng theo Phật Pháp, có suy nghĩ đúng. Từ đó, thấy được bản chất của cuộc đời, cội gốc của khổ đau. Và từ đó vô minh cũng sẽ bị đẩy lùi, con người sẽ tìm được an lạc, hạnh phúc. Là người Phật tử cần lấy trí tuệ làm sự nghiệp, lấy Giới, Định, Tuệ làm pháp học căn bản tu tập để hoàn thiện bản thân. Nhưng nếu chỉ lo cho bản thân, cho tâm mình được an lạc thì cũng chưa đúng với quan điểm từ, bi, hỷ, xả của đạo Phật. Cần phải nghĩ đến người khác, đến nhân sinh. Cho nên cố Ni trưởng đã nhắc nhở:

“Lợi ích dân chúng, đúng vừa khả năng”

Cái nhìn của cố Ni trưởng sâu sắc làm sao! Bởi lẽ, là con người ai cũng có bản ngã, luôn lấy cái tôi làm trung tâm, luôn nghĩ mình là đúng, là giỏi hơn người. Và như vậy dễ sa vào ngã mạn. Chính ngã mạn là vật cản con người tiến bộ và hủy diệt mọi công đức đã tạo ra, hoặc có người do quá đề cao mình dễ dàng làm những việc quá khả năng, quá sức và tất yếu dễ đi đến chán nản, thất vọng khi thất bại, thậm chí còn ảnh hưởng đến sự việc chung. Hoặc đôi lúc vì sĩ diện mà không chấp nhận khả năng hạn chế của mình hay vì sĩ diện ảo làm những việc quá trình độ ảnh hưởng đến cái chung trở thành kẻ phá hoại. Cho nên là Phật tử muốn đem lại lợi ích cho chúng sanh cần phải biết nhìn lại bản thân mình để hiểu rõ khả năng điều kiện cũng như căn cơ, hoàn cảnh của bản thân.

Tóm lại, bài kệ di huấn của Đệ nhất cố Ni trưởng giản dị nhưng mang đậm màu sắc giáo lý Phật đà. Bài kệ là kim chỉ nam định hướng cho hàng hậu học chúng con tu tập Giới, Định, Tuệ để đạt đến giải thoát. Hàng ngày trì tụng bốn câu kệ như một lời nhắc nhở cho hàng Phật tử chúng con. Và chúng con xin nguyện y giáo phụng hành.

Cuối cùng con nguyện cầu Mười Phương Chư Phật gia hộ cho quí Ni trưởng, quí Ni sư, Sư Cô pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, Phật sự viên thành. Kính chúc quí Phật tử thân an tâm lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

    Chia sẻ với thân hữu:
     
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 (0 Votes)

Các bài viết liên quan

Về trang trước     Về đầu trang      In bài      Gửi Email