Đạo Phật Khất Sĩ

Panner Web HPKS  002a 980x165

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam

Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam - 4.0 out of 5 based on 1 vote
Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam - 4.0 out of 5 based on 1 vote

Ban biên tập: Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam là đề tài luận văn tốt nghiệp khóa V tại Học viện PGVN tại TP. HCM được đăng tải trên mạng quangduc.com. Bản luận văn cần bổ túc, giảo đính để hoành chỉnh hơn nữa về sự chính xác của sử liệu và ý tưởng, nhưng đây là kết quả của một quá trình tìm hiểu và nhận thức của một sinh viên được đào tạo tại Học viện trước khi tốt nghiệp. Do đó, chúng tôi để nguyên văn, chỉ chỉnh sửa một số lỗi chính tả mà thôi.

DẪN NHẬP:

Bất luận một tôn giáo nào dù cho xuất hiện sớm hay muộn, sản sinh cho đời nhiều học thuyết về nhân sinh vũ trụ, hay đạo lý mà không thể hiện được bản sắc của dân tộc mình, gần gũi thực tiễn khoa học áp dụng được cho mọi tầng lớp trong xã hội thì tôn giáo ấy không thể đứng vững trong lòng dân tộc và không có sức lan tỏa rộng lớn. Vì lẽ đó Đạo Phật nói chung và Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam nói riêng, ra đời đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của thời duyên, phát huy bản sắc dân tộc, tạo được thế đứng vững chắc trong lòng dân tộc làm nền tảng tinh thần trong cuộc sống qua phương châm: “Đạo Pháp Dân Tộc – Chủ nghĩa Xã hội”.

Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam xuất hiện tại Việt Nam từ thập niên 1940 giữa thế kỷ 20, bắt nguồn từ hai Hệ Phái lớn Nam Tông và Bắc Tông PG, được chắc lọc tinh hoa từ hai hệ Phái chính truyền của PG và hình thành nên một hệ tư tưởng mang đậm tính dân tộc sâu sắc bởi hình thức tu học, phương pháp hành trì, kiến trúc đạo tràng, thờ phượng… tất cả đều thuần một bản chất của người Việt Nam, thể hiện được tính phổ biến, gần gũi và dễ hiểu, dễ học, dễ hành trì của người dân tộc Việt. Thế cho nên, mặc dù ra đời sau hai Hệ Phái lớn nhưng không non kém về hình thức, phương pháp tu tập. Vì sự lợi ích thiết thực ấy đã có sức lan tỏa rộng lớn ra mọi nơi, mọi chốn, làm nền tảng đạo đức trong cuộc sống của người Việt Nam, bổ sung một phần không thể thiếu trong đời sống, để gia đình và xã hội, vật chất và tinh thần được cân bằng, quân bình, rồi từ đó trở thành một đòn bẩy đưa Phật giáo nói chung và Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam nói riêng thành một Tôn Giáo thực tiễn và rất khoa học, mang dấu ấn, ảnh hưởng sâu đậm tính dân tộc mà chỉ có ở Việt Nam. Đặc điểm nổi bật nữa là trong thập niên 1940 – 1950, Phật giáo Việt Nam đang trong thời kỳ từng bước chuyển mình, chấn hưng Phật giáo nước nhà, Tổ Sư Minh Đăng Quang - người khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ đã thích nghi vận dụng kết hợp hài hoà được hai truyền thống lâu đời của Phật giáo thế giới và bản xứ mà hình thành một hệ tư tưởng xác lập tính đặc thù của dân tộc với chí nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”.

Với bổn nguyện độ sanh, bắt nguồn bởi lòng từ bi, vị tha, bác ái, thúc giục Ngài không một phút ngừng nghỉ. Ngài hành đạo, mở mang mối đạo, mưa pháp xối chan lợi lạc biết bao nhiêu chúng sanh và bởi lối tu tịnh hạnh giải thoát ấy mà bóng y vàng khắp nơi tỏ rạng chẳng khác chi vừng thái dương ló dạng đã xóa tan đi bóng đêm trùm khắp nhân gian. Cũng vì thế mà ánh đạo vàng đã lan tỏa, làm chuyển đổi cuộc đời này, đưa con người rời xa sông mê trở về bến giác, nên vắng đi thân ngũ uẩn nhưng bóng pháp thân thanh tịnh vẫn hiện hữu. Dù trải qua thăng trầm, sự nghiệp hoằng dương Chánh Pháp của Ngài từng thời kỳ càng thêm khởi sắc, càng được nảy nở thêm, các Giáo đoàn Tăng, Ni sau thời gian trụ xứ để tự tu trì, trong giai đoạn đất nước đang chuyển mình đổi mới cũng đã từng bước hội nhập trong lòng đạo pháp, cùng lãnh đạo giáo hội tham gia vào Ban vận động Tăng, Ni Phật giáo Việt Nam và là thành viên Giáo Hội Phật giáo Việt Nam. Giờ đây, bao thăng trầm đã đi qua nước non cuối cùng đã thu về một mối, tinh thần dân tộc được ổn định, bản sắc văn hóa vẫn còn giữ gìn, phần lớn là sức mạnh đoàn kết của toàn dân, trong đó Tôn Giáo đóng vai trò chủ đạo nối kết mọi tư tưởng, tinh thần dân tộc bằng tấm lòng xả kỷ lợi tha, hơn thế nữa đã và đang tiếp tục là nòng cốt, tiên phong trong cuộc sống xây dựng và phát triển đất nước.

Ngày nay, trong xã hội kinh tế thị trường, xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì mọi hoạt động, tư duy nghiên cứu, sống và làm việc v.v…tất cả đều mang tính khoa học rất cao, nó phải chứa đựng tầm nhìn lớn lao trong mọi lãnh vực, phải tồn tại lâu dài trên mặt không gian, phải áp dụng được thực tiễn trong cuộc sống, cải tiến được xã hội, đưa xã hội và con người đi dần lên đến đỉnh cao của thế giới chân thiện mỹ. Bộ chơn lý của Tổ Sư Minh Đăng Quang, người Thầy khai sáng Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam đã khẳng định được điều này, trình bày một cách đúng đắn, khoa học, hợp lý về nguồn gốc con người, triết lý con người và thiên nhiên về đời sống đạo đức xây dựng một xã hội an lành hạnh phúc cho khắp nhân gian này.

Nói đến vị Thầy khai sáng Hệ phái Khất Sĩ Việt Nam thì không thể không nhắc đến bộ Chơn Lý mà Người đã dày công thân chứng nói ra. Thật là một công trình vĩ đại của một bậc chân tu, một vị Bồ-tát nay đủ hạnh nguyện lợi tha. Nội dung bộ Chơn Lý đã khẳng định được trí huệ, tu chứng của Ngài hết sức thâm hậu, cao niên, mang tầm cỡ của bậc đại trí, đa văn, xây dựng xã hội, xây dựng con người vượt qua đêm tối vô minh, lạc hậu không đi theo huyễn hoặc, siêu hình, tìm hạnh phúc chân thật từ chính cuộc sống này, từ con người này, từ xã hội này, tạo nên mắc xích giữa con người và xã hội, con người với thế giới tự nhiên, con người với con người.

Lý do chọn đề tài

Với sự nghiệp thiêng liêng của Tổ Thầy như vậy là lý do để chúng con chọn đề tài Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam. Vì mục đích trước hết là để kiến giải cho mình những thắc mắc, những thiếu sót của tự thân về tiền đồ của Hệ phái, là hàng hậu học vẫn còn rất nhiều ưu tư, băn khoăn trăn trở về sự nghiệp của Tổ Thầy, làm sao cho ngọn đèn ấy ngày mỗi sáng lên lan tỏa rộng ra làm lợi ích cho khắp vũ trụ, nhân loài. Vì Đạo Phật Khất Sĩ đã và đang là một tôn giáo dân tộc, trong lòng dân tộc, cho nên nhận thức được điều này, tự thân đã mạnh dạn cầm bút lên tìm tòi, nghiên cứu, chắc lọc những tinh hoa đặc sắc, biệt truyền của Hệ phái, hầu nhân đôi sức mạnh của niềm tin Chánh Pháp cho mình và cho hết thảy mọi tín đồ, pháp hữu gần xa về một Hệ phái của dân tộc.

Lý do thứ hai của mục đích chọn đề tài là để đáp ứng nhu cầu học, hiểu, tu tập về phương pháp hành trì truyền thống của Hệ phái do số đông Phật tử hữu duyên ở vùng xa đã thôi thúc người viết mạnh dạn thỉnh ý kiến của giáo sư hướng dẫn và bắt tay vào sự nghiên cứu tìm tòi học hỏi thêm.

Lý do thứ ba : Vì tự thân xét thấy hạnh nguyện nối truyền Thích Ca Chánh Pháp của Tổ Sư là một hạnh nguyện thiêng liêng tối thượng, một sự nghiệp lớn lao sâu dày của bao thế hệ tiền bối đã và đang nối tiếp truyền thừa. Vì thế ôn lại và làm sáng ngời sự nghiệp ấy chính là đền đáp công ơn của Tổ Thầy trong muôn một.

Có được ngọn đèn Chánh Pháp tỏa sáng đúng nghĩa ngày hôm nay là đã trải qua biết bao thăng trầm gian truân, dày công khai sáng vun đắp. Ý thức được đều này, hàng hậu học luôn luôn tâm nguyện ghi nhớ công ơn và sẽ giữ gìn ngọn đèn ấy sáng mãi trên thế gian .

Phương pháp thực hiện

Đứng trước một di sản quý báu, người viết tự thấy mình phải có một ý thức giữ gìn tôn tạo, vì vậy phương pháp nghiên cứu có khoa học, có độ chính xác là một công việc không thể thiếu trong khi thực hiện đề tài, đồng thời chắc lọc tinh hoa từ nguồn sử liệu, sử lý tài liệu, hình ảnh và đánh giá, nhận xét giá trị tài liệu, sử liệu ấy. Cho nên phạm vi giới hạn đề tài người viết không nói lại những gì bậc đi trước đã nghiên cứu, có thể sử dụng một số sử liệu có nhân chứng, thực chứng. Ngoài ra, mục đích chính của người viết là giới thiệu giá trị, ý nghĩa sự – lý viên dung mà Sư Tổ đã kết hợp hài hòa, độc đáo, nhuần nhuyễn trong lối kiến trúc thờ Phật, nội dung tu tập và phương pháp hành trì của Hệ phái vào trong giáo lý Phật Đà, vì thế người viết chỉ nghiên cứu Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam do Sư Tổ sáng lập mà không tìm hiểu rộng những Hệ phái Khất Sĩ khác và vì đây là một luận văn mục đích tạo thêm niềm tin Chánh Pháp cho mình và cho người.

Phạm vi giới hạn: Người viết không nói lại những gì bậc đi trước đã nghiên cứu, có thể sẽ dùng một số sử liệu, nhân chứng, thực chứng đã có được. Ngoài ra mục đích chính của người viết là giới thiệu giá trị, ý nghĩa sự - lý viên dung mà Sư Tổ đã kết hợp hài hoà độc đáo, quyện chặt, nhuần nhuyễn trong lối kiến trúc thờ phượng, nội dung tu tập và phương pháp hành trì của Hệ phái vào trong giáo lý Phật Đà. Vì thế người viết chỉ nghiên cứu đạo phật Khất Sĩ Việt Nam do Sư Tổ sáng lập.

NỘI DUNG

Chương 1: Vài nét về Tổ Sư Minh Đăng Quang và Hệ phái Khất Sĩ

Thân thế thời niên thiếu

Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang thế danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, ra đời lúc 10 giờ tối ngày Tân Tỵ, 26 tháng 9 năm Quý Hợi (1923), tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình (tỉnh Vĩnh Long ngày nay).

Thân phụ ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Nhàn. Từ bao đời, gia đình song thân vốn có nề nếp ăn ở theo đạo Thánh Hiền, tu nhân tích đức được người đương thời khen ngợi là gia đình hiền lương nhân nghĩa. Gia đình ông bà cụ có tất cả năm người con, Ngài là út, trước Ngài có bốn anh chị, cụ bà đều thọ thai sinh nở bình thường nhưng đến Ngài thì cụ bà mang thai đến 12 tháng mới khai hoa. Mười tháng sau, ngày 25 tháng 7 năm giáp Tý (1924), cụ bà bệnh nặng qua đời, hưởng dương 32 tuổi. Từ đó về sau Ngài được thân phụ và kế mẫu Hà Thị Song nuôi dưỡng đến ngày trưởng thành. Cụ ông mất ngày mùng 5 tháng Giêng năm Mậu Thân (1968), thọ 75 tuổi. [6, 7 - 17]

Thuở nhỏ, tuy sinh trưởng ở một làng quê nhưng Ngài có trí thông minh khác thường, ngoài giờ học ở trường, ở nhà những lịch sử các danh nhân, những kinh sám, truyện, sự tích được Ngài chú ý xem coi, xem đến đâu thì nhớ hết cùng luận giải phê phán, có phương pháp và rõ rệt, sự phát tâm thương người từ lúc nhỏ nên Ngài cũng ăn chay theo cha, cũng niệm hương cúng Phật mỗi tối. Thế là lòng từ bi thương người vật và lòng kính ngưỡng Đạo Phật từ đó phát hiện rõ rệt.

Cây lành sanh trái ngọt, vốn được hấp thụ nề nếp đạo đức nho phong nên Ngài thường tới lui các nhà trưởng thượng đương thời để tham vấn đạo lý, tìm tòi những điều còn huyền bí trong vũ trụ bao la, suy tư quán chiếu lại nội tâm, nhận biết cuộc đời là huyễn ảo, Ngài có tạo phía sau nhà một cái thất nhỏ để hàng ngày tiện bề tu tập, tham thiền. Với tinh thần hướng thượng sẵn có, nhiều đêm suy nghĩ, Ngài tự nhủ kiếp phù sinh cứ mãi lăn xoay trong vòng sanh già bệnh chết…cuối cùng Ngài quyết tâm dõng mãnh cất bước ra đi, cắt đứt tình thân.

“Thôi thì thôi, thế thì thôi

Vẹn nguyền xin chịu lỗi nghì với cha

Thiếu niên ngày nọ lìa nhà

Vượt biên giới Việt, Miên xa dặm ngàn

Lên non tìm động hoa vàng

Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành .”

               (Thơ Trụ Vũ, Trích Ánh Minh Quang)

Tầm đạo tu tập và thân chứng

Do chủng tử nhiều đời, căn cơ sâu dày, cộng thêm tư tưởng của một thanh niên có học vấn, nhìn cuộc đời thông thoáng, hướng thượng. Cuộc sống thường tình giả tạm không làm cho Người cảm thấy an ổn, vui vẻ. Mà cuộc sống của bậc xuất trần thượng sĩ đem lại an lạc cho tất cả nhân sinh đó mới là đích thực, là niềm vui vĩnh cửu. Năm 1938, Người đã đi Nam Vang, tìm đến xứ Cao Miên tầm thầy học đạo và tu theo Phật giáo Nam Tông. Tu thân cực nhẫn với cuộc sống xứ người, làm mọi công việc để nghiệp mòn sinh phước, giúp cho Người có nhiều tiến bộ có nhiều kinh nghiệm nhưng con đường tìm đạo quả giác ngộ giải thoát cho mình đầy chông gai thử thách, để đạt được đạo quả sâu dày không thể chỉ một thời gian tu tập ngắn mà thành tựu được. Khi quyết tâm đi tìm cho mình con đường xuất thế xa lìa mọi sự hưởng thụ của ngũ dục, lục trần thì cũng là lúc đương đầu với oan khiên của quá khứ, mà người đi tầm đạo tu tập giải thoát là người đi ngược dòng nước và thanh niên Nguyễn Thành Đạt thật phi thường, chấp nhận đi ngược dòng đời đối đầu với nghiệp lực của bản thân. Nghiệp lực đầu tiên người thanh niên ấy phải trả đó là cô gái vì ân nghĩa cứu tử đã tình nguyện theo nâng khăn sửa túi để đáp nghĩa cho họ Nguyễn này, cô tên Kim Huê là con gái nuôi của Hội Đồng Nhiều người tỉnh Chợ Lớn.

Một mái ấm gia đình hạnh phúc đã hình thành, có thể nói như vườn hoa tươi nở buổi rạng đông đượm thắm sương mai và hãnh diện khoe màu cùng tia nắng sớm. Thế nhưng, cuộc đời có ai muốn mình đau khổ và có ai không muốn mình được hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc trọn vẹn như mình ước mơ thì ít ai đạt được trên thế gian này :

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Người bạn đời sau khi sanh một gái đặt tên là Nguyễn Kim Liên thì đã lìa trần để lại cho Người một nỗi đau trần thế và nỗi đau này chồng chất nỗi đau ngay sau đó, đứa con thơ 1 tuổi cũng vĩnh viễn ra đi. Bài học vô thường biến đổi, hiện rõ quá nhanh giúp Ngài tăng thêm nỗi niềm suy quán hằng ngày. Người thường trầm lắng ưu tư, thường dõi mắt đăm chiêu nơi tận chân trời xa, như khẩn cầu, như bày tỏ tâm tư :

“Mùi thiền đã bén muối dưa

Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sòng

Sự đời đã tắt lửa lòng

Còn chen vào đám bụi hồng làm chi

Dở dang nào có hay gì

Đã tu tu trót kiếp thì thì thôi”

(Truyện Kiều)

Một ý chí đanh thép bùng cháy trong Người, lòng Bồ-tát quyết chí ra đi tầm đạo quả chơn lý hạnh phúc của con người. Vào một buổi chiều, Ngài ngộ đạo ngay sau khi thấy những chiếc thuyền đánh cá bấp bênh trên mặt nước, làn sóng biển dồn dập tựu tán Ngài đạt lý vô thường khổ não vô ngã, cảnh khổ trầm luân xoay tròn, như Sa môn Gotama sau 49 ngày ngồi dưới gốc cây Bồ đề thiền định quán chiếu và chứng đạt chân lý Tứ Đế là bài pháp đầu tiên. Cũng vậy, Ngài cũng nói lên bài pháp đầu tiên đó là Thuyền Bát Nhã làm tiêu chuẩn cho nền đạo pháp của Ngài.

Mỗi vị giáo chủ đều có những thuyết do mình ngộ đạo đề xướng và làm căn bản cho sự truyền đạo.

Thành lập Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam

Những lần qua Campuchia, nhiều lần sống ở miền Nam, Tổ Sư Minh Đăng Quang đã có cái nhìn về hai hệ phái Bắc truyền, Nam truyền và các đạo giáo mới, cộng với yếu tố thấu đạt lý đạo, chính đây là yếu tố quan trọng góp phần dẫn đến sự ra đời của Hệ phái Khất Sĩ. Vì Hệ phái Khất Sĩ ra đời, hình thành và phát triển đều dựa trên nền tảng bối cảnh lịch sử chính trị, kinh tế, văn hóa, địa lý, xã hội của Nam bộ đương thời. “Lúc bây giờ về mặt chánh trị, đất nước Việt Nam năm 1945 đã bị thực dân Pháp đặt quyền cai trị, riêng ở Nam kỳ, Pháp đã chiếm giữ sớm nhất. Năm 1862 triều Nguyễn cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, đến 1867 triều Nguyễn tiếp tục cắt ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ cho Pháp. Đặt biệt đến 1884 khi triều Nguyễn cúi đầu ký hiệp ước patenote tư cách độc lập của triều Nguyễn mới hoàn toàn bị thủ tiêu”. [148 – 21]

Do cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc và miền Trung, tạm chiếm miền Nam của thực dân Pháp nên Phật giáo miền Nam cũng có sự khác biệt hơn Phật giáo ở hai miền trên, cụ thể là sự ra đời mới mẻ của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam.

Về địa lý, Nam bộ được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu ôn hòa, ít thiên tai, con người miền Nam hài hòa, cởi mở, dễ tánh, ngay thẳng, chất phác, xung quanh có phù sa hai con sông Tiền và sông Hậu bồi đắp vừa có núi vừa có biển (như ở Hà Tiên). Từ điều kiện địa lý như trên đã góp phần tạo nên sự thuận lợi cho việc hình thành Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam.

Về tôn giáo, do Nam bộ nằm ở vị trí ngã tư giao lưu văn hóa giữa hai nền văn minh lớn là văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Quốc nên ở đây tôn giáo rất phong phú, về hệ phái Nam truyền thì có Phật giáo Nam Tông của người Khmer vốn đã có từ lâu. Đến 1938, ra đời Phật giáo Nam truyền của người Việt Nam do Ngài Hộ Tông thành lập, đối với Phật giáo Bắc truyền cũng có du nhập vào vùng đất này từ thời triều Nguyễn. [35 - 10]

Nhìn chung, đây là thời kỳ phát sanh ra nhiều mối đạo mới. Phần lớn mang tính chất của Phật giáo như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Cao Đài, đạo Phật giáo Hòa Hảo, chủ yếu dạy lớp người cư sĩ, về mặt cơ bản ăn chay, tin luật nhân quả, trong bối cảnh lịch sử Tôn Giáo như thế, Hệ phái Khất Sĩ đã có nhân duyên ra đời dựa trên cơ sở chấn hưng Phật giáo bằng con đường nối truyền Thích Ca Chánh Pháp, nâng cao hơn về trình độ tu tập, giải thoát văn hóa.

Sự xuất hiện những yếu tố văn hóa mới trên nền của những yếu tố văn hóa truyền thống, đan xen với những yếu tố văn hóa truyền thống có thể thấy kiểu cư trú và quan hệ cộng đồng của người Việt miền Nam. Người Việt miền Nam cư trú thành làng xã, mọi làng xã của người Việt Nam bộ không có tính chất khép kín, nhà ở thông thóang mát mẻ, cửa theo nhiều hướng để đón gió thiên nhiên, mô hình bát giác có nhiều cửa lớn, đi vào bên trong chánh điện, cùng xuất phát từ truyền thống văn hóa Phật giáo kết hợp nền văn hóa Nam bộ. Về y phục truyền thống nhuộm màu nâu vì màu chàm của người dân miền Bắc và miền Trung [317 – 10] và y phục này thuở ban đầu hành đạo, nhà sư Minh Đăng Quang cũng đã khoác lên mình tấm vải nâu sòng để hòa mình cùng với người dân, một bình bát đi khất thực muôn nhà đủ ăn, không chất chứa, không dư dả để như bà con nông dân cuộc sống vừa đủ ăn, đủ mặc, làm ruộng phước để cho chúng sanh gieo hạt giống bố thí cúng dường. Ngài đi hóa duyên ban rải ánh sáng từ bi, ánh sáng trí tuệ, đem hình bóng đạo đức mô phạm cho nhân gian này. Tính cách người Nam bộ đã sẵn thẳng thắn, bộc trực, trọng nghĩa quên mình, trọng thực tế hơn lý thuyết, trọng đạo lý hơn giàu sang, ghét sự tính toán hơn thiệt [317 – 10] cho nên dễ tiếp nhận giáo lý đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, dễ hiểu gần gũi và phù hợp truyền thống và đạo đức của người Việt Nam. Và đây là một phần tạo nên sự hình thành đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam. Như vậy, với nền đạo mới ra đời ở Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho, với mệnh danh “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam” do Tổ Sư Minh Đăng Quang khai sáng, chính thức thành lập Giáo hội vào năm 1946, thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long ở Nam bộ.

Chương 2: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập trong lòng Đạo Pháp dân tộc

Đạo Phật Khất Sĩ VN với tâm nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp” buổi đầu do Tổ Sư Minh Đăng Quang trực tiếp khai lập, dần dần hình thành Tăng đoàn. Tổ thu nhận Tăng, Ni xuất gia, Tổ hướng dẫn đi hành đạo khoảng từ năm 1947 – 1954 khi giáo đoàn Tăng, giáo đoàn Ni được hình thành, Tổ vắng bóng. Từ đó đến nay, giáo pháp Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam trải qua bốn giai đoạn như sau:

2.1 Từ năm 1944 – 1954 là thời gian vừa tròn 10 năm, 10 năm cho một tiền đồ hệ phái thì đấy là một công trình vĩ đại và đáng trân trọng giữ gìn nếu không là 1ụy hệ phái nối truyền thì không thể có được sự hình thành và sự lan tỏa rộng trong lòng dân tộc như vậy. Vì đã có nguồn gốc, có người khai sáng, Sư Tổ là người dày công khơi vẹt mở mang mối đạo cho rộng thêm, cho nên dù gặp nhiều gian nan bước đầu nhưng không có dấu hiệu của sự lu mờ mà sự hành đạo rộng ra khắp các miền từ miền Tây lan dần đến miền Đông và ra tới miền Trung xa xôi. 64 ngôi Tinh Xá là vật chứng để đánh dấu sự hành đạo của Sư Tổ, trong suốt 10 năm cho đến ngày vắng bóng, hàng đệ tử đã nhân đôi sự phát triển. Đó là nguyên nhân nảy nở các giáo đoàn Tăng, Ni.

2.2 Từ năm 1955 – 1975, đây là thời kỳ phát triển đã lên đến 100 Tăng Ni nên Giáo hội đã hoạch định đường hướng phát triển cho việc phân giáo đoàn và dựa trên tính thống nhất có một Giáo hội Trung ương như trong Luật Nghi Khất Sĩ có quy định về phân giáo đoàn: “Người xuất gia mới nhập đạo phải theo Thầy ở chung trong giáo hội 2 năm, kế đi tách riêng 1 mình 2 năm nữa, trên 4 năm được thâu 1 người tập sự, trên 6 năm mới thâu nhận 1 người đệ tử và một người tập sự, được trên 12 năm tách ra đi lập đạo riêng, dạy số đông”. [39 – 40,14]

Về tinh thần thống nhất có một Giáo hội Trung ương như trong 114 điều luật ở quyển Luật Nghi Khất Sĩ có ghi: “Cấm không đặng thiếu sót sự hành đạo của Tăng mỗi chỗ phải do giáo hội chứng minh và các giáo hội nhánh mỗi kỳ 3 tháng phải trình bày về trung ương một lần về sự tu học”. [83 – 238,14]

Tăng, Ni hệ phái Khất Sĩ có 2 giáo đoàn: giáo đoàn Tăng và giáo đoàn Ni. Giáo đoàn Tăng gồm có 6, giáo đoàn Ni gồm có 3. Bắt đầu từ năm 1956 TT. Giác Chánh dẫn đoàn hành đạo ra miền Trung…và giáo hội đặt tên cho những giáo đoàn thứ tự như sau:

Giáo đoàn Tăng gồm có 6:

Giáo đoàn 1: Do TT. Giác Chánh và TL. Giác Như lãnh đạo

Giáo đoàn 2: Do TL. Giác Tánh và TL. Giác Tịnh lãnh đạo

Giáo đoàn 3: Do TL. Giác An lãnh đạo

Giáo đoàn 4: Do TT. Giác Nhiên lãnh đạo

Giáo đoàn 5: Do TL. Giác Lý lãnh đạo

Giáo đoàn 6: Do TT. Giác Huệ và TT. Giác Đức lãnh đạo.

Giáo đoàn Ni gồm có 3:

Giáo đoàn của Ni Trưởng Huỳnh Liên

Giáo đoàn của Ni Trưởng Ngân Liên

Giáo đoàn của Ni Trưởng Trí Liên.

Tuy là chia ra 9 giáo đoàn nhưng đều có sự hợp nhất về pháp lý, lấy TX. Trung Tâm làm tổ đình bên Tăng và TX. Ngọc Phương là tổ đình bên Ni.

2.3 Từ năm 1976 – 1980 là giai đoạn hội nhập trong lòng đạo pháp và dân tộc khi nước nhà đã thống nhất hòa bình, độc lập hoàn toàn, ĐPKSVN đã nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đóng góp vào nền hòa bình và trong Giáo hội PGVN. Trong số đệ tử của Tổ Sư bên Tăng có cố HT. Giác Nhu và TT. Giác Toàn là những bậc có công trong việc đưa GHKS hội nhập vào trong lòng dân tộc, bên Ni có cố NT. Huỳnh Liên và NT. Ngoạt Liên. Phái đoàn PGVN đi dự đại hội tôn giáo thế giới vì hoà bình về vấn đề giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Matxcova (từ ngày 6 – 10 tháng 6 năm 1977) trong không khí thân mật tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa các nước anh em, NT. Huỳnh Liên đã cảm tác một bài thơ:

“Bỗng dưng mình lại hóa thành tiên

Lướt gió tung mây gặp bạn hiền

Dự tiệc bàn đào tiên nữ đãi

Hòa bình đạo ấm nghĩa đào tiên”

(NT. Huỳnh Liên – Sen nở đầy hồ )

Và hệ phái còn tham gia trong MTTQTPHCM, trong Ủy ban bảo vệ Hòa bình Thế giới TPHCM.

2.4 Từ năm 1980 đến 2004 là thời kỳ trụ xứ, bên cạnh đó cũng tham gia Ban vận động Thống nhất PGVN, đến 1981 tham gia Đại hội Thống nhất PGVN cả nước tổ chức tại chùa Quán Xứ, Thủ đô Hà Nội và là thành viên trong GHPGVN.

Do tình hình thống nhất đất nước cho nên đạo Phật cũng phải thống nhất, vào năm 1981 đại hội PG thống nhất tất cả 9 hệ phái trong đó có Hệ phái Khất Sĩ là một thành viên của giáo hội PGVN. [27 - 20]

Về trụ xứ: Theo truyền thống của GHTGKSVN hành đạo theo đoàn du Tăng, số còn lại ở Tịnh Xá nhưng phải đổi chỗ trong thời gian 3 tháng hoặc 6 tháng có sự hành đạo chủ yếu đi khất thực. Trong tình hình chung của xã hội đang lúc giao thời, theo hệ thống quản lý hành chánh của chính quyền hiện giờ người tu phải có hộ khẩu thường trú ở TX hoặc giấy tờ tạm vắng, do đó việc giấy tờ thủ tục hành chánh cần phải có, khi có nhu cầu tạm vắng tạm trú. Đây là một điểm mới so với trước kia, thế nên Tăng, Ni giờ đây đã có đăng ký hộ khẩu, khởi điểm bắt đầu cho thời kỳ có đời sống tu học trú xứ. ( sđd tr 27 )

Chương 3: Nội dung tu tập, phương pháp hành trì

3.1 Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp ĐPKSVN: giữ gìn Y, Bát chơn truyền.

Đời sống của một Tỳ kheo chơn chánh thì tài sản chỉ có 3 Y và bình Bát. Đức Thế Tôn là hình ảnh gương mẫu cho tinh thần này, trở thành người vô sản ngay từ khi quyết định ra đi tìm con đường giải thoát cho nhân loại. Một mình một bóng, Ngài dấn thân vào kiếp sống tu hành khổ hạnh giữa chốn rừng già, Ngài biết rằng cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, uy quyền thế lực là chất men nồng cao độ nó sẽ làm đê mê say cuồng và có thể giết chết một ông Hoàng giữa vòng tục lụy, cũng như bao nhiêu khách trần khác, ròng rã hơn mười năm con người ấy đã thật sự thoát ly những khổ đau trói buộc của phàm tình, đầu tiên trên bước lữ hành ôm bát hóa duyên theo hạnh xưa của ba đời chư Phật. Ngày trở về thành để thăm Hoàng tộc, Ngài đã dùng hình ảnh này để hóa độ hoàng thân quốc thích. Thử hỏi còn hình ảnh nào cao đẹp hơn và hạnh phúc hơn Người đã cắt ái ly gia, chỉ xem vật chất là thứ yếu, nêu cao tinh thần thiểu dục tri túc để hòa nhập san sẻ cùng với tất cả chúng sanh để hóa độ chúng sanh không còn khổ đau trói buộc trong cuộc đời giả tạm vô thường. Một cuộc đời nhẹ nhàng giải thoát không tham cầu ước muốn thì như cánh chim trời lộng gió bay khắp muôn phương đem tình thương cho khắp mọi loài. Một hình bóng chỉ có duy nhất ở Đạo Phật mà không có ở đạo giáo khác.

Ba Y gồm Y Thượng, Y Hạ, Y Trung. Bát phải được làm bằng đất nung đỏ, vuốt tròn, đốt đen có lăn sáp bên ngoài để không còn có giá trị sang trọng, 1 cái nắp đậy bát bằng nhôm trắng nhẹ, 1 cái túi vải tròn vừa với bát có nắp phủ có quai mang choàng vào vai. Y tượng trưng cho bầu trời, Bát tượng trưng cho vũ trụ càn khôn, Bát là ruột Y là da, luôn luôn gìn giữ trân quý. Tấm Y đã được giáo pháp của Phật ba đời truyền trao khi thực sự đứng vào hàng trưởng tử của Đức Như Lai thì Y Bát là một pháp khí thiêng liêng đánh dấu sự trưởng thành đầy đủ giới đức trang nghiêm xứng đáng đứng vào hàng ngũ của tăng đoàn. Vì vậy Y Bát đã được Tổ Sư truyền thừa sau Đức Phật nhập diệt, không có Y Bát hành giả như chim mất cánh, như cây lìa cành, vì Y Bát là đôi cánh cho hành giả hướng đến một phương trời cao rộng, vượt thoát ấm ma, làm bậc xuất trần thượng sĩ, làm lợi lạc quần sanh, tạo Niết Bàn tịnh lạc ngay cõi trần gian này. Người Khất Sĩ đã tiếp nối truyền thống Thích Ca, xây dựng Chánh Pháp tại thế gian này qua hình ảnh tiêu biểu:

“Y vàng nhẹ bước vân du

Bát nung nặng mối tình thu muôn ngàn.”

Đấy là hình bóng của Tổ Sư Minh Đăng Quang đầu tiên hành đạo ở làng Phú Mỹ ngày xưa, Ngài đã nối truyền Thích Ca Chánh Pháp lập nên ĐPKSVN với Y Bát chơn truyền đi khắp đó đây để:

“Trên xin giáo pháp Phật Đà

Dưới xin cơm áo để mà nuôi thân”

Ngài đã nối hạnh Phật xưa ôm Bát hóa duyên, hóa độ chúng sanh lập nên hệ phái biệt truyền với ý nghĩa nhiệm mầu của đoàn du tăng Việt Nam, với chí nguyện thiêng liêng cao cả ĐPKSVN đã làm rạng ngời giáo pháp Tổ Thầy.

“Một bát cơm ngàn nhà

Thân đi muôn dặm xa

Mắt xanh xem trần thế

Mây trắng hỏi đường qua.”

Y Bát đã làm lợi lạc cho muôn loài, cho tất cả, cho nhân loại, đem tinh thần xả kỷ lợi tha, giáo hóa chúng sanh cang cường dị độ, lấy hạnh từ bi bình đẳng để đến với muôn người, không phân biệt nghèo giàu. Tấm y có năng lực Bố ma Phá ác ngăn ngừa mọi lỗi lầm có thể xảy ra, “bởi khất cái với Khất Sĩ cũng tương tự in nhau, vì kẻ gian manh muốn sắm áo bát bao nhiêu cũng được người Khất Sĩ phải là có thật học, phải đủ đức hạnh, phải có chơn tu mới được gọi đúng danh từ Khất Sĩ” (tr 303 – Y Bát chơn truyền) và tạo nên miếng ruộng Phước điền cho người gieo hạt giống bồ đề, chiếc bát có công dụng diệt trừ tham sân si, tăng trưởng tinh thần thiểu dục tri túc của người xuất gia.

Cụ túc hạnh Tứ y pháp:

Tứ y pháp là bốn điều khuyên dạy của Đức Thế Tôn cho hàng Tỳ kheo khi đã thọ Cụ túc giới phải hành trì suốt đời với mục đích làm thanh tịnh hàng ngũ Tăng chúng, xa lánh hai cực đoan, giải thoát mọi sự ràng buộc của vật chất đời thường sống hạnh thiểu dục tri túc, bỏ đời sống cao sang để thực hành nếp sống thanh bần đạm bạc của một nhà sư phạm hạnh, nâng cao đời sống tinh thần làm mô phạm cho nhơn thiên và loài người trên thế gian này.

Tứ y pháp gồm :

1. Nhà sư Khất Thực phải lượm những vải bỏ mà khâu lại thành áo nhưng có ai cúng vải thì được nhận .

2. Nhà sư Khất Thực chỉ ăn đồ xin mà thôi nhưng ngày hội thuyết pháp đọc giới bổn, thuyết pháp thì được ăn tại chùa.

3. Nhà sư Khất Thực phải nghỉ dưới cội cây nhưng có ai cúng liều am nhỏ thì được ở.

4. Nhà sư Khất Thực phải lượm phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc dầu đường thì được dùng.

Gót chân hành đạo của nhà tu Khất Sĩ bước lần rộng ra từ phạm vi làng này đến làng khác, mình mang choàng vàng y, tay ôm bình bát đi khất thực, không nhà cửa, chẳng vợ con gia đình quyến thuộc, không cất giữ chứa chấp món gì, không ở một nơi nào nhất định, không cất tiền bạc v.v…Sư Trưởng Minh Đăng Quang đã hành đúng theo luật giới Tỳ kheo Cụ túc hạnh và Tứ y pháp. Đây là nền móng xây giáo lý và Giáo hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam. Người đã giác ngộ lý nhơn duyên tột lẽ:

“Trời cũng không đất lại cũng không

Người đời phái phái ở nơi không

Nhựt cũng không mà nguyệt cũng không

Đông lên Tây lặn chẳng cần công

Vườn cũng không, ruộng lại cũng không

Thác rồi nào đặng ở tay trong

Vợ cũng không con lại cũng không

Huỳnh tuyền đường nọ chẳng tương phùng

Sớm qua tây tối lại sang đông

Người đời tỷ thí tợ con ong

Hễ đặng trăm bông trên mật đó

Rốt đời đến thác cũng hoàn tay không”.

[32-33,12]

Ngài phát nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp” lập ra Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, thực hành Tứ y pháp của Phật.

Lượm vải bỏ ở đống rác bên đường còn gọi là y phấn tảo. Phấn tảo tiếng phạn là pamsukula nghĩa là bụi bặm. Bụi bặm ở nghĩa địa hay ở đống phân, đem về giặt sạch phơi khô và khâu lại thành áo, vì muốn thực hành hạnh khổ hạnh, để diệt trừ lòng ham thích, thỏa thích về cái đẹp, cái sở hữu của ta, tạo đời sống thanh cao nhẹ nhàng không cất giữ chất chứa, tâm hồn thảnh thơi, rỗng không để tiếp nhận nguồn trí tuệ phát sanh từ trong giáo lý Phật Đà và cũng để hòa mình giáo hóa chúng sanh, khuyên người dư dả bớt se sua chưng dọn và an ủi kẻ thiếu rách nghèo nàn, làm gương tiết kiệm cho chúng sanh không phân biệt kẻ giàu người nghèo.

Trong Thanh Tịnh Đạo Luận nói về lợi ích của hạnh mặc y phấn tảo “vị này không đau khổ do phải giữ gìn y phục, sống không tùy thuộc vào người khác, không sợ trộm cướp, không có sự thèm muốn đối với y phục. Vì những vải ấy dễ kiếm, ít giá trị, nhờ đó sẽ phát sinh kết quả ít muốn biết đủ và tinh tấn tu tập”. [32 – 15]

Nhà Sư Khất Sĩ đầu đội trời chân đạp đất, đi khắp đó đây để giáo hóa chúng sanh, tự lợi và lợi tha, vũ trụ là nhà, chúng sanh là thân bằng quyến thuộc. Ngài đi giáo hóa, gieo duyên Phật pháp với tất cả muôn loài, đêm về tĩnh tọa dưới gốc cây, lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu, không gì của ta, tâm thảnh thơi giải thoát, không lo lắng buồn phiền. Trong Thanh Tịnh Đạo Luận trang 36 có mô tả về hạnh ở gốc cây: “ Người theo hạnh này phát nguyện. Tôi theo khổ hạnh ở gốc cây hoặc tôi từ chối một mái nhà có 3 cấp bậc: cấp thượng là không được phép quét dọn sạch sẽ gốc cây đã chọn, cấp trung có thể nhờ người nào đó quét dọn gốc cây, cấp hạ là có thể sai những chú tiểu trong chùa quét dọn sạch sẽ trải cát bằng phẳng xung quanh gốc cây”.

Ngồi dưới gốc cây thấy lá cây rơi rụng quán chiếu được sự vô thường biến đổi, hợp tan, ly biệt, tụ tán, hoại không mà đoạn trừ được lòng tham, vì mục đích cao thượng ấy người du tăng Khất Sĩ đã chọn cho mình lý tưởng thoát trần này để làm mục tiêu cho chí nguyện xuất gia với tinh thần lục hòa được Tôn Sư Minh Đăng Quang đề cao “Nên tập sống chung tu học”:

“Trên xin giáo pháp Phật Đà

Dưới xin cơm áo để mà nuôi thân”.

Đó là hạnh nguyện độ tha của du tăng Khất Sĩ khi chọn cho mình pháp môn thực hành Khất Thực ôm bát hóa duyên, không nấu nướng để nuôi dưỡng lòng từ, không bận rộn để dành thời gian tham thiền nhập định, không cất giữ của riêng đồ ăn uống để tâm trí rảnh rang cất chứa giáo lý Phật Đà, làm tài sản để ban phát cho tất cả chúng sanh, làm hành trang cho mình đi về bến bờ giác ngộ. Trong Thanh Tịnh Đạo Luận nói có 3 cấp bực về hạnh Khất Thực. Cấp thượng là nhận đồ ăn do người ta đem đến trước mặt và sau lưng (đi qua rồi thí chủ mới chạy theo cúng), cấp trung có thể ngồi chờ người ta mang đồ ăn đến, cấp hạ là có thể ăn đồ ăn được hứa mang đến hôm sau và hôm sau nữa. [33 – 15]

Sự sống không lệ thuộc vào kẻ khác được tự tại, an nhàn, hạnh phúc trong thiểu dục tri túc, sự phóng dật được trừ khử, không buông lung đi đúng với Chánh Pháp, mạng sống thanh tịnh thực hành được các học pháp dễ dàng đạt được kết quả từ bỏ sự quyến luyến đối với các gia đình có lòng từ mẫn một cách bình đẳng tránh được sự ràng buộc bởi một gia đình.

Nhà Sư Khất Thực chỉ dùng phân bò làm thuốc trong khi đau. Đó là một cách chữa bệnh của người dân Ấn Độ thời Đức Phật còn tại thế. Theo thời đó bò là con vật linh thiêng được người dân tôn thờ, là con vật duy nhất đem sự sống đến cho con người nên người dân Ấn Độ có tục thờ bò thần và hơn nữa bò chỉ ăn cỏ lá non mọc ở trên mặt đất hay đồng ruộng luôn luôn có những vị thuốc quý hiếm trị được nhiều bệnh mà bò đã ăn vào, đó là một lý giải. Và một lý giải thứ hai cho rằng một trong Tứ y pháp này là Đức Phật dạy Tỳ kheo dùng thuốc hủ lạn, thuốc hủ lạn là những vị thuốc được bào chế ít tốn công phu rẻ tiền tuy phản ứng chậm trong cơ thể nhưng vẫn chữa lành bệnh. Đức Phật muốn đệ tử mình kiểm đức, không nên vì những việc nhỏ nhặt mà làm hao tốn tiền của thí chủ nên khuyên dùng thuốc hủ lạn, thứ thuốc mà người thế gian những kẻ giàu có ít ai dùng đến. [16 - 67]

Ngày nay với khoa học phát triển, sự thông thương giao lưu kinh tế văn hóa v.v…giữa các nước với nhau, thì sự điều trị chữa bệnh, hàng tiêu dùng đều mang chất lượng rất cao, có thể trị dứt các bệnh khó trị, ngày nay khí hậu và môi trường làm cho con người yếu đuối bệnh hoạn nếu chấp thủ vào Tứ y pháp của đạo Phật chỉ dùng phân uế của bò hay thuốc hủ lạn làm sao cho giữ được thân thể khoẻ mạnh để phát sanh trí tuệ chèo lái con thuyền Phật pháp trong những giai đoạn cuối cùng. Như thế là chúng ta đã hiểu sai ý của đạo Phật. Tham sân si mới là ba chứng bệnh lớn, chúng ta đã được Phật Tổ trao truyền phương thuốc trị liệu, lấy bố thí trị san tham, lấy từ bi để diệt hận thù, lấy trì giới nhẫn nhục độ si mê làm phương châm để chữa trị cho mình và cho người, đem kinh nghiệm ấy truyền đạt cho chúng sanh. Mỗi chúng ta đều có một căn bệnh trầm kha mới chịu đọa đày trầm luân trong sanh tử. Nhưng điều quan trọng phải tự nhìn nhận chứng bệnh của riêng mình để có được một phương thuốc thích hợp, chúng ta hãy nhìn xa ba cõi sáu đường mà nhắc nhở nhau từ bỏ những tư lợi tầm thường để xây dựng một hàng Tăng bảo mô phạm giải thoát cho vạn loại hàm linh. [16 - 68]

3.2 Thực hành hạnh khất thực – giáo hóa độ sanh

Hạnh khất thực là phương tiện là bản hoài của chư Phật ba đời để giáo hóa chúng sanh, ngày xưa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng như vậy và đệ tử Ngài cũng như thế. Hình ảnh Tăng đoàn ôm bát hóa duyên đã trở thành một nếp sống sinh hoạt quen thuộc của người dân Ấn, phương pháp khất thực là phương pháp thiết thực nhất để đem đạo vào đời bởi không gì khó khăn hơn là tự hạ thân mình để đi xin từng nhà, người thế gian sẽ không làm được, nhưng đệ tử Phật hàng Tỳ kheo đã làm được vì thấm nhuần giáo pháp của Ngài, vì không gì cao lớn hơn cái tự ngã của mình, làm chướng duyên trên bước đường giải thoát giác ngộ, vì vậy để dẹp bỏ cái ngã đồ sộ ấy không gì hơn là phải đi xin, vừa lợi mình vừa lợi người, vừa tự độ và độ tha, khơi dậy thói quen biết tu tạo phước đức có lòng bố thí cúng dường của chúng sanh, giúp chúng sanh diệt trừ lòng ích kỷ bỏn sẻn, đem đến miếng ruộng phước tươi tốt cho chúng sanh gieo hạt. Về sự đi khất thực của hệ phái như sau :

a) Phép đi khất thực chỉ từ 1 đến 2 người mà thôi, trừ khi nào đến xứ lạ, 1, 2 ngày đầu đi chung cho biết đường sá, đi từng người cách khoảng 2 thước.

b) Khi đi lấy cơm hoặc đi trai tăng tại nhà cư sĩ thì đươc đi chung, đi hàng 1, cách nhau 2 thước tây, ai lớn tuổi đạo đi trước, tập sự đi sau.

c) Tại TX có ban cư sĩ hộ pháp, hoặc có nhiều người xin cúng dường luân phiên giáp 30 ngày trong mỗi tháng thì giáo hội nếu đông chia ra: Phân nửa Tăng đi khất thực, phân nửa Tăng nhận cúng dường trọn bữa ăn.

d) Tốt hơn là mỗi người hằng ngày đều phải đi bát, ban hộ pháp chỉ hộ thêm sau khi đi về .

đ) Khi đi khất thực nếu ai về không kịp ngọ lỡ quá trưa thì phải độ nơi chỗ vắng, gốc cây xa đường lộ, phố xá chợ đông. Phải tránh những chỗ dơ dáy bụi bặm, cấu trược ồn ào, vì thế sẽ làm nhẹ thể pháp Phật.

e) Đi bát không được vô chợ, hoặc đứng phía góc chợ hoặc chen lấn chỗ đám đông. Nên phải đi vào trong xóm và các đường lộ xa chợ.

f) Mỗi đường có thể đi 3 ngày, đi xa không quá 3 ngàn thước.

g) Bận đi phải đi luôn bận về nếu thiếu thì đứng trước cửa từ nhà (ngoài đường chớ không được vào thềm), mỗi nhà đứng năm ba phút theo thứ tự.

h) Khi bát còn lưng thì ôm qua tay trái gần trước bụng, lúc đầy rồi phải để vào túi phủ nắp lại quảy phía tay mặt không nhận nữa.

i) Không nhận lãnh đồ vật để trong túi ngoài bát hoặc trên nắp bát.

k) Không được nhận tiền, gạo, không nhận đồ ăn mặn, khi người đem đến cúng mình có thể hỏi xem chay mặn, đó là gương dạy thiện cho người.

l) Không được đi vào nhà ai khi đi khất thực. Nếu phải đi viếng ai hoặc có việc của giáo hội sai, thì đi lại ngay nhà người ta trước, bát mang chứ không ôm, bận về mới ôm ra đi xin mà trở về.

m) Không được dừng lại uống nước, hay đại tiểu khi đi khất thực .

n) Bát nếu ôm trần thì được nhận, bát mang trong túi cấm thâu nhận.

o) Không được ngó mặt thí chủ, hoặc nói chuyện quá năm sáu câu.

ô) Ai có hỏi đạo giữa đường thì kiếm gốc cây ngồi nói, hoặc hẹn sau khi độ cơm rồi sẽ nói hoặc mời người đến ngay chỗ trụ hoặc để ngày khác người thỉnh cúng dường tại nhà có Tăng đông, có cư sĩ nhiều sẽ nói .

ơ) Khi đi khất thực ai muốn cúng và thí gì tự ý, bao giờ người hỏi sẽ chỉ dạy, bằng không thì thôi chớ chê khen bắt lỗi ép buộc người ta.

p) Nếu biết cơm có dính lỡ đồ ăn mặn, thì khi về phải cho người khác, chớ không được dùng bằng khi túng ngặt phải gụt rửa sạch mới được dùng.

q) Khi đi khất thực phải trang nghiêm hòa hưỡn ngó ngay xuống, ngó xa 2 thước, chớ ngó liếc 2 bên, chớ tìm lóng nghe chuyện người nói, tâm phải niệm Phật.

r) Đừng vừa đi vừa nói chuyện chỉ chỏ, muốn qua đường quẹo phải đứng lại xây mình, chớ đừng đi tắt xéo.

s) Mỗi khi có chuyện gì thì phải đứng lại, có ai cúng thì chỉ lại người sau cho để bát trước.

t) Ngày nào ai đi bát đường nào phải sắp đặt trước tại chùa chớ đừng ra đường lộn xộn.

u) Khi đi khất thực ngoài món ăn ra không nhận món chi ai gởi hết hãy bảo người đem lại các chùa kia. Ai gởi cúng Phật thì không được nhận hãy nói “Tăng chỉ là người tu đi xin ăn mà thôi”.

ư) Ăn rồi đồ nếu còn dư phải cho hết không được để dành.

v) Đồ khất thực trước phải độ trước. Đồ cúng dường sau phải độ sau.

x) Khi đi khất thực không được chống gậy che dù…phải mặc áo chừa cánh tay mặt, đầu trần chân không, phải mặc quấn thượng y trùm kín. [14 -57]

“Xin là để khắc sâu tình vạn loại”

Ngày xưa Tỳ kheo Mã Thắng từ hình ảnh này đã chuyển được tâm của vị giáo chủ của 1500 đệ tử theo đạo thờ lửa về với đạo Phật, về với con đường chánh kiến, trở thành bậc trí tuệ đệ nhất trong giáo đoàn, đó là ngài Xá Lợi Phất. Ngài cùng tăng đoàn thực hành hạnh khất thực, mỗi nhà tăng đoàn đều dừng chân, dù nghèo hay giàu Ngài cũng đều dừng chân để gieo duyên giáo hóa, nhờ vậy vật thực có hay không các Ngài vẫn đi, đi vì bản hoài của các Ngài .

Tôn sư Minh Đăng Quang cũng thế, Ngài đã nối truyền Thích Ca Chánh Pháp. Ngài được chư Phật 3 đời hộ trì, hình thành nên hệ phái Khất Sĩ là hệ phái giữ nguyên nếp sống đạo hạnh thanh bần của thời Đức Phật, không chấp chứa không tham đắm cuộc sống, thật sự giải thoát, thời khắc buổi sáng là thời khắc dành để giáo hóa độ sanh, thời khắc chiều tối là thời khắc dành riêng tu tập.

1) Chiều từ 5 giờ đến 7 giờ sáng tu tịnh ngủ nghỉ, hoặc gốc cây vườn rừng hoặc chùa am cốc tùy theo phương tiện .

2) Sáng mai 8 giờ đến 9 giờ khất thực theo đường dài hoặc nơi xóm làng thành thị.

3) Giờ trưa 11 đến 12 giờ độ cơm

4) Chiều 3 đến 4 giờ thuyết pháp.

5) 6 đến 7 giờ thiền định.

6) 12 giờ đến 1 giờ khuya thiền định.

Du tăng khất thực bước đầu hành đạo tại các tỉnh miền Tây từ Mỹ Tho trở ra phất phới bóng huỳnh y buổi sáng đã làm cho dân chúng có một sự kính trọng muốn hộ trì, từ đó mối đạo cũng được mở mang. Lần lên miền Đông nơi mảnh đất phồn hoa đô hội của Sài Gòn, hệ phái Khất Sĩ có mặt ở miền Trung, nơi mảnh đất khô khan khổ cực nhưng đoàn du tăng của Ngài đã thổi vào nơi này một luồng sinh khí mới đem ánh sáng của đạo giải thoát đến cho mọi người, thay đổi được cuộc đời của người dân nơi này biết quy y Tam bảo, biết bố thí cúng dường, biết trì trai giữ giới, dần dần ĐPKSVN đã trở thành chỗ nương tựa tinh thần vững chắc cho đa số người dân nơi này.

Ngày nay miền Trung là nơi vẫn tiếp nối truyền thống này giáo hóa độ sanh, miền Tây, miền Đông bảo tồn truyền thống của chư Phật 3 đời, quyết không để cho mọi thành phần khác lợi dụng hình thức Y Bát để làm mất đi niềm tin vào Tam bảo của tín đồ, đã đổi phương cách giáo hóa nhưng đã đem lại lòng tín ngưỡng, sự tôn kính của Phật tử vào hệ phái.

Cơm áo gạo tiền là huyết mạch nuôi sống con người nếu không thì cuộc sống không được duy trì nhưng người Khất Sĩ không duy trì mạng sống bằng con đường giết hại đến vạn vật chúng sanh, chỉ xin ở lòng từ hòa rộng mở, quý đạo chơn chánh mà cúng dường tịnh vật chay lạc để nuôi thân này. Ấy vậy tiếng chay lạc là sự trong sạch hiền lành để trau tâm hay cũng vì tâm đã hiền lành trong sạch mà đã ăn như vậy, chứ không thể nuôi sống bằng cách ác hay cấu trược được. Nên gọi rằng miếng ăn của tâm chay, hay miếng ăn chay là của tâm trong sạch hiền lành. [336 – 13]

Từ ngày quyết chí lập tu theo hạnh xưa của Phật, Ngài thực hành pháp hạnh khất thực không nhà cửa, không bếp lửa, du hóa Ta bà nhận cơm từ lòng tịnh tín trong sạch mà nuôi thân chớ không nhận thức ăn bất tịnh, vì miếng ăn mà người khóc người than, miếng ăn mà người thù người oán, ăn đầu ăn sọ người ta, ăn óc ăn tủy người ta, ăn phá hại nhà cửa, ăn xác thân quần áo của người ta, miếng ăn độc ác bất nhân, ăn thịt chúng sanh vô nhân phi nhân có đâu là phải lẽ cho loài người, mà sao chúng ta lại không chừa bỏ? Ăn là để sống thì ăn thiện mới sống yên, chứ ăn ác độc thì làm sao mà sống được, quên cái gì cũng được chớ cái tội ác của chúng ta sao lại đi nỡ quên, mà hại người mãi mãi. [13 – 352]

Thức ăn thanh tịnh trong sạch làm cho lòng mình nhẹ nhàng, tâm trí yên ổn bình tĩnh không vọng động, không nóng nảy, máu huyết điều hòa, cơ thể khoẻ mạnh khiến cho tinh thần minh mẫn sáng suốt, là nền tảng cho sự phát triển thiền định, quán chiếu soi rọi tâm linh, quán chiếu hơi thở, điều chỉnh thân tâm đạt đến thân an tâm lạc, tháo gỡ mọi vướng mắc kiến chấp, xả niệm lạc trú thành tựu quả vị vô ưu đó là nấc thang cuối cùng cho người xuất gia đứng trên mảnh đất thân chứng đạo quả.

3.3 Tu tập, nhiếp phục ba nghiệp thân khẩu ý

Niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau của nhân loại trên thế gian này đều xuất phát từ chỗ biết và không biết và không biết nhiếp phục thân khẩu ý. Chính vì vậy giới luật của Đức Phật ra đời chỉ cho nhân loại thấy được nguyên nhân của khổ đau và phương pháp đi đến an lạc giải thoát khổ đau, trong Trưởng lão Tăng, Trưởng lão Ni kệ và Tiểu bộ kinh ghi rằng: Đức Phật đã dạy các vị Tăng, Ni bằng nhiều cách khác nhau để giúp các vị đoạn trừ lậu hoặc. Sự việc này nói lên ý nghĩa của giáo dục cá nhân: Mỗi người có một nghiệp riêng, như thế họ cần có cách riêng để xóa bỏ nghiệp ấy. Nói khác đi mỗi cá nhân suy nghĩ với khối óc của mình và đi với đôi chân của mình, Đức Phật đòi hỏi con người không tùy thuộc vào Ngài hay vào một quyền năng nào ở bên ngoài, Ngài dạy: “Hãy tự mình là chủ tể của mình, ai khác có thể là chủ tể? Với sự tự điều phục, con người tìm thấy đấng chủ tể khó có”. [160 – 3]

Trong Luật Nghi Khất Sĩ, Sư Tổ cũng có phương pháp cho Tăng, Ni tu tập nhiếp phục ba nghiệp ở điều 37, 39, 40, 41, 42, 43, 44 như sau: Cấm nói chuyện người, cấm nói xiên xỏ qua lại, cấm nói phạm thượng, cấm cãi cọ lớn tiếng, cấm vô lễ bất kỉnh với bậc bề trên, cấm nói lời thô lỗ cọc cằn, cấm nói lời vô ích với Sư Trưởng. Ý căn rất quan trọng và vô cùng vi tế, thân khẩu là tướng thô có thể nhìn thấy, có thể nhiếp phục còn ý nghiệp được ẩn tàng trong tiềm thức, trong suy nghĩ khó có thể ngăn chặn từ ban đầu nếu tự hành giả không chịu nhiếp phục vì thế Sư Tổ đã có những điều luật để ngăn ngừa cho ý không phát sanh. Ở điều 32 cấm cố ý muốn đòi hỏi kêu xin sái luật, điều 64 cấm viết giấy thư từ mà nói chuyện hoặc gởi cho người thân quen biết mà không xin phép, điều 70 cấm người xuất gia mà còn tham lam sân giận si mê, điều 74 cấm đem lòng phiền giận khi có ai chỉ dùm chỗ lỗi, điều 86 cấm cố ý bất hòa và sau mỗi việc không hòa, điều 88 cấm Tăng Sư khinh bỉ ra lệnh thị nạt Ni Cô, điều 90 cấm Tăng Sư kêu đòi Ni Cô đến riêng nói chuyện, và điều 113 cấm hay kiếm chuyện này chuyện kia làm phiền trong giáo hội.

3.4 Thiền định – quán chiếu, sổ tức quán: đạt đến thân chứng

Định là chánh, Thể của Định là vũ trụ bao la vô cực, Tướng của Định là chơn như không vọng động, Dụng của Định là thay đổi tiến hóa, an vui giác ngộ quả linh thần thông, Lý của Định là tự nhiên chơn thật, Thân của Định là Giới, Trí của Định là Huệ, Tánh của Định là chơn còn Định là tâm của tất cả chúng sanh hay cũng là sự sống sức mạnh bao gồm tất cả. [355 - 356 - 13]

Chính sự quán chiếu này Tôn Sư Minh Đăng Quang đã đạt được đạo khi nhìn thấy bọt sóng từng đợt vào ra tựu tán, chỉ có thiền định tâm tư mới thật vắng lặng, không bận tâm bởi ngũ dục lục trần thì mới đạt được định tĩnh ở trong tâm rất cao rất vững, không còn dao động bởi những cám dỗ tầm thường của thế tục, như ngọn đèn vững vàng được bao bọc bởi bóng đèn, ánh sáng tỏa rạng soi rọi khắp nơi. Thật vậy, hành giả Khất Sĩ đầy đủ giới trang bị giới như áo giáp không sợ bị mũi tên độc của tham sân si, phiền não, nghiệp chướng đâm xuyên phá được ma quân thành tựu đạo quả và từ đây bước chân đi du hóa khắp nhân gian gieo hạt giống từ bi, trí tuệ khắp muôn nơi đấy là hạnh nguyện của một Tỳ kheo Khất Sĩ.

Trong nếp sống thiền môn của chư Tăng, Ni Khất Sĩ, thiền định – quán chiếu là một nếp sống không thể thiếu để trau dồi nội lực tịnh hóa tam nghiệp để trở về với bản tâm thanh tịnh chơn như của chính mình, không có nơi nào có thể làm cho thân tâm mình thanh tịnh chỉ có Tịnh xá là ngôi nhà thanh tịnh mới làm cho thân tâm được tịnh hóa, được an vui, được giác ngộ giải thoát cởi bỏ được mọi phiền trược của thế gian, đạt được sự chế ngự các pháp ở thế gian, thấy rõ các pháp là hư ngụy, hóa giải chúng bằng định lực vững vàng và trí tuệ giác ngộ của bậc xuất thế gian, với những ai đã tịnh hóa thân tâm thì không có gì cao siêu huyền bí hay đắc thần thông không phải là đi vào lửa, đi như gió, bay trên không trung mà là làm được những việc mà người thường tình không làm được và làm tới nơi tới chốn và làm một cánh thuần thục nhanh chóng, hoàn mỹ viên mãn. Vì thế người xuất gia luôn mang trọng trách trên vai là “Tác Như Lai xứ, Hành Như Lai sự”. Không gì nặng bằng hạt cơm của đàn na tín thí, cho nên không thể xem nhẹ trọng trách lớn lao và thiêng liêng, nhiệm vụ của hàng xuất gia phải đạt đạo, phải tự thân chứng được đạo quả giác ngộ để cứu độ chúng sanh, để giải thoát mình và cửu huyền thất tổ như trong Quy Sơn Cảnh Sách viết “phàm kẻ xuất gia tinh thần vượt bực hình tướng khác đời Phật dòng nối thạnh ma chúng khiếp oai, trên đáp đền bốn đức dưới cứu độ ba loài”. Để được như vậy, người xuất gia phải là chơn tâm xuất gia cầu đạo giải thoát quyết lòng đạt đạo mới thôi, muốn thế phải chánh định, diệt trừ vọng niệm cắt đứt vòng hệ lụy, cởi trói sợi dây oan nghiệt, trở về với chơn tâm thường trú của chính mình tìm lại Phật tánh của mình.

Và như vậy ĐPKSVN của Tổ Sư Minh Đăng Quang chủ trương thiền định quán chiếu vì đó là mục tiêu quan trọng của người xuất gia, có chánh định mới làm chủ được mình mới làm thầy của trời và người, làm chỗ dựa cho bao tâm hồn bị lạc lõng không nơi nương tựa, nương vào Tăng là người thừa kế sự nghiệp của chư Phật ba đời “kế vãng khai lai báo Phật ân đức” làm rường cột cho ngôi nhà Phật pháp, để đảm bảo cho ngôi nhà Phật pháp trường tồn mãi mãi trên thế gian này. Ngoài giới luật của Phật chế, ĐPKSVN còn có thêm 114 điều luật của Tổ Sư để giữ gìn thân tâm cho hàng Tỳ kheo xuất gia không bị thế gian kiềm tỏa.

3.5 Giới luật và những pháp học căn bản cho Tăng, Ni Khất Sĩ xuất gia.

Để bảo vệ giới luật của đức Phật không bị rách không bị lủng không bị vá đứng vững trên đất Giới, Tổ Sư Minh Đăng Quang đã chế thêm 114 điều luật cho Tăng, Ni Khất Sĩ xuất gia để được an trú, được thanh tịnh, trong kinh Tương Ưng I trang 13 có bài kệ:

“Người trú giới có trí

Tu tập tâm và tuệ

Nhiếp tâm và thận trọng

Tỳ kheo ấy thoát triền."

Gìn giữ giềng mối cho đạo pháp, trong Chơn Lý có những pháp học căn bản về giới luật như: Bài học Khất Sĩ, Luật Khất Sĩ, Bài học Sa di, Pháp học Sa di I (kệ giới), Pháp học Sa di II (diệt lòng ham muốn), Pháp học sa di III (pháp vi tế), Giới Phật tử (Bồ tát giới), Giới bổn Tăng, Giới bổn Ni và 114 điều luật này. Tổ Sư thường cảnh tỉnh “tinh thần không chật vật chất không hao, sự của lý là có lý của nó là không” ý của Tổ muốn hàng xuất gia hãy vì lợi ích chung bước đầu khép mình trong khuôn khổ giới luật để thuần hóa thân tâm của mình vốn đã từ lâu như ngựa rong chơi ngoài đồng nội và chúng ta đã từng thọ học y hành lời Phật dạy “hãy thừa tự Pháp bảo hơn là thừa tự tài vật” đối với người con Phật, Pháp bảo chính là nguồn tài sản cao quí hơn mọi thứ tài sản trên đời. Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn phẩm Thánh hạnh Đức Phật cũng dạy: Tại sao được gọi là Thánh Nhân? được gọi là Thánh Nhân vì những bậc này thường hành Thánh hạnh và có bảy thứ tài sản của Phật Thánh là: Tín, Giới, Tàm, Quí, Đa văn, Trí tuệ, và Xả ly. Người xưa đã bảo tu mà không học là tu mù, học mà không tu là cái đãi chứa sách như trong Bài học Khất Sĩ đã dạy: “Khất Sĩ là học trò khó đi xin ăn đi xin ăn để tu học, Khất Sĩ là cái sống của chơn lý vũ trụ mà tất cả chúng sanh điều là học trò cả thảy…chúng sanh đây là căn thân chủ thức…học không phải ở một chỗ mà cần phải bước lên đi tới, phải đi theo thời duyên cảnh ngộ…ngoài khất thực ra không có pháp nào thứ hai để diệt trừ tham sân si được, mà nếu tham sân si không diệt thì người ta với cỏ cây loài thú như nhau vậy tiếng Khất Sĩ chỉ có nơi Người, Trời, Phật mà thôi. Khất Sĩ khuyên lơn người giàu, an ủi người nghèo…tránh khổ cho người giác ngộ, cảm hóa kẻ ác, dạy dỗ người thiện …” [273 – 13]

Còn trong Bài học Sa di, Tổ Sư dạy bậc đã bước gần của ngưỡng cửa hàng Tỳ kheo là hàng tập sự Tỳ kheo học hỏi để đến ngày đứng vào hàng Tỳ kheo thiệt thọ nhận lãnh giới luật Tỳ kheo, vì vậy Bài học Sa di là bài mở đầu kế đến là Bài học Sa di I là bài Kệ giới, tức dạy cho Sa di dùng giới luật Sa di mà làm hàng rào giữ thân tâm, đến Pháp học Sa di II là bài học Tổ dạy lên cao hơn một chút là diệt lòng ham muốn còn Pháp học Sa di III là pháp học vi tế dạy hàng đệ tử Sa di nên lấy bài học này mà soi rọi tâm mình sẽ thấy những pháp vi tế khó thấy chính những lỗi vi tế này ngủ ngầm trong tiềm thức của mình nếu mình không mạnh dạn diệt trừ thì nó chính là một chướng ngại lớn lao để mình bước lên nấc thang cao hơn trên đường giác ngộ giải thoát và trong Giới bổn Tăng, Giới bổn Ni cũng thế, theo Thanh Tịnh Đạo Luận, Giới là sự chế ngự năm cách: chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, chế ngự bằng tỉnh giác, chế ngự bằng tri kiến, chế ngự bằng kham nhẫn, chế ngự bằng tinh tấn. Luật tạng nói chế ngự để khỏi hối hận, không hối hận để được hân hoan, hân hoan để được hỷ, hỷ để được khinh an, khinh an để được lạc, lạc để được định, định để được chánh kiến, chánh kiến để được vô dục, vô dục để được ly tham, ly tham để giải thoát, giải thoát để có giải thoát tri kiến, giải thoát tri kiến để đi đến vô thủ trước Niết Bàn (Vin, V, 164). Trong đạo Phật Khất Sĩ, giới luật Tăng, Ni đều có những loại giới cũng như giới của đức Phật đều mang tính kết hợp hoặc giới chỉ trì và tác trì, giới tạm thời và giới trọn đời, giới thế gian và xuất thế gian, giới thuộc bậc hạ, bậc trung, bậc thượng, giới vị kỷ, vị tha, vị pháp, có thanh tịnh, bất tịnh, khả nghi, giới tự nhiên, giới theo cổ tục, giới tất yếu và giới do nhiều đời trước, giới thanh tịnh hữu lậu, thanh tịnh vô lậu, thanh tịnh đã viên mãn, thanh tịnh không dính mắc và thanh tịnh để tịnh chỉ tất cả. Các loại được nêu trên đều ở trong từng điều giới của Tăng hay Ni, vì sự lợi ích của chúng sanh vì sự trường tồn của giáo pháp Tổ Thầy nên tất cả đều đưa về một mục đích ấy.

Chương 4: Hình thức kiến trúc, thờ phượng và đặc điểm biệt truyền của hệ phái

4.1 Hình thức kiến trúc: Đạo tràng Tịnh xá với mô hình bát giác: sự – lý.

Trong tâm thức đạo Phật của chúng ta bất cứ lúc nào đều có sự lý viên dung, luôn luôn đem lý lồng vào sự để giáo hóa, dìu dắt chúng sanh, trong lối kiến trúc thờ phượng là một đặc điểm mà trong đó đầy đủ hai phần xuyên suốt trong mọi hình thức nói lên được tất cả những điều mà chư Phật muốn gởi gắm. Về số, trước hết 4 và 8. Trong tâm thức dân gian hình như có duyên với nhau nên thường được nhắc đến cùng nhau. Thi hào Nguyễn Du khi mô tả 4 ngày khí quan trọng trong năm là lập xuân (đầu xuân), lập hạ (đầu hạ), lập thu (đầu thu), lập đông (đầu đông) đã dí dỏm nói:.

“Tứ thời bát tiết canh chung thuỷ

Ngạn liễu đôi bờ dục điểm trang”

Tứ thời là xuân hạ thu đông cũng có nghĩa là quanh năm với “bát tiên canh” bữa ăn hằng ngày mà cũng là “bát tiết” (8 tiết là: 4 lập như nói trên, 2 chí là hạ chí và đông chí, 2 phân là xuân phân và thu phân) còn câu thơ thứ hai “Ngạn liễu đôi bờ dục điểm trang” đó là hình ảnh ngon lành của Bát tiết canh.

Kiến trúc đền chùa trong dân gian có kiến trúc kiểu nhà 8 mái, nói về lối kiến trúc này mọi người đều liên tưởng đến một mái đền một ngôi chùa có mái bốn mặt trên trùm lên mái dưới ở Thạch Thất Hà Tây, Chùa Tây Phương có mái kiểu này.

Số 8 dường như liên quan đến các danh nhân như đền Lý Bát Đế ở Bắc Ninh, đền Trần Bát Đế ở An Sinh Quảng Ninh. Bát đại tiên chỉ 8 vị tiên như Lý Thiết Quài, Hàn Chung Ly…trong huyền thoại Trung Hoa cổ đại, bát đại gia chỉ 8 danh nhân văn hóa Trung Hoa cổ đại như: Tô Triệt, Tô Thức, Tô Đông Pha, Vương An Thạch, Tư Mã Quang, Chu Đôn Hy, Trình Di .

Trong y học phương đông có một bài thuốc hoàn tác dụng vạn năng, đối với trị bệnh và nâng thể lực cho mọi người mà dân gian ai cũng nhớ tên Bát Vị Hoàn.

Dân gian Việt Nam, Trung Hoa xưa có một bộ phận lớn hướng tới Phật giáo, trong phần lớn số họ đều ghi nhớ bài kệ “Bát bất” (8 cái không) của vị Bồ Tát Long Thọ viết cách nay hơn hai ngàn năm. Tám cái không như sau:

“Bất sanh diệc bất diệt

Bất thường diệc bất đoạn

Bất sanh diệc bất dị

Bất lai diệc bất khứ.”

Nghĩa là: Vạn vật thế giới con người không có sanh cũng không có diệt, không tồn tại vĩnh hằng, cũng không dứt đoạn, không thống nhất cũng không sai khác, không có cái mới đến cũng không có cái mất đi. Như vậy số 8 đã đi vào tiềm thức đời sống vật chất văn hóa, và đời sống tâm linh của dân gian phương đông cụ thể là Việt Nam, Trung Hoa xưa và nay. Còn số 8 cũng giống như số 4 có trường hợp người ta kỵ nó như không ai xây 8 bậc thềm vì rơi vào số tử. Do vậy nếu phải tăng số bậc tương đối người ta xây 9 bậc để được số sinh, với người Trung Quốc con số 8 trở thành rất thân thuộc vì nó liên quan đến tục đoán mệnh của con người. Người ta gọi những ông thầy tướng số là ông Bát Tự. Mặt khác, lối viết số 8 có hai nét đều viết từ trên xuống giống như cái kèn loe làm cho người ta nghĩ đến công việc thuận lợi và vận may sẽ đến (sách con số với ấn tượng dân gian của Trần Gia Anh, nhà xuất bản Hải Phòng) và trong Nhân Minh Luận cũng có nói Bát Môn:

1. Cửa năng lập (lập lên được)

2. Cửa năng phá (phá đi được)

3. Cửa tự năng lập (tợ như lập lên được)

4. Cửa tự năng phá (tợ như phá)

5. Cửa hiện lượng (lượng hiện thật)

6. Cửa tỷ lượng (lượng so sánh)

7. Cửa tợ hiện lượng (tợ như lượng hiện thật)

8. Cửa tự tỷ lượng (tợ như lượng so sánh)

Và trong cuộc đời giáo hóa chúng sanh Đức Thế Tôn cũng có dùng nhiều phương tiện dẫn dắt chúng sanh ra khỏi sông mê, trong vô số phương tiện có phương tiện là Bát Chủng dụ là 8 thí dụ Phật và Bồ Tát thường dùng để thuyết pháp cho chúng sanh dễ hiểu diệu pháp. Ngày nay Phật tử bước vào chánh điện ngồi nghe Pháp của chư Tăng giảng, chư Tăng dùng một hay hai ba chủng dụ để cho Phật tử dễ hiểu giáo pháp sâu xa của Phật và Phật tử vận dụng chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định để hiểu một cách sâu sắc thấu đáo và áp dụng trong đời sống của mình để được an lạc giải thoát.

Và Bát vị của Niết Bàn là Thường trụ, Tịch diệt, Hư không, Bất động, Khoái lạc, là 8 pháp mà một khi tâm hành giả đạt được thì hưởng Niết Bàn trong hiện tại, mà thường trụ là thường hằng trụ tâm không lay chuyển theo những ngọn gió thường tình của thế gian là danh lợi, tài sắc, là hơn thua, phải quấy, được mất…con người thế gian hay xuất thế gian giữ tâm vững vàng giữa những ngọn gió này không bị thổi dạt đi thì đắc được quả thường trụ hưởng được quả Niết Bàn an lạc và tịch diệt vắng lặng như hư không, không gợn nhuốm mùi phiền não tham sân si, đã ra khỏi vòng sanh tử không còn trở lại sáu đường xuống lên ba cõi không có tướng già tâm bồ đề kiên cố không thối lui không hề suy giảm trên con đường tầm cầu giác ngộ giải thoát, và bất tử là niềm tin vào chơn lý vào Chánh Pháp của Đức Thế Tôn không hề bị mất và thể thanh tịnh trong sáng của Phật tánh luôn hằng hữu. Hư không là rỗng rang là cao thượng là diệu pháp nhiệm mầu không còn dính mắc ngã và ngã sở, tâm hành giả an nhiên tự tại giữa quả vị Niết Bàn, tâm không dao động bởi sự thấy biết của thể tánh Niết Bàn, tâm không thọ hưởng sự vui bởi sự hỷ lạc của Niết Bàn và như vậy vượt qua tất cả những phạm trù đối đãi có không, được mất, buồn vui, chê khen, thì nhẹ nhàng an định hoan hỷ trong tâm. Đó là Bát Vị mà Đức Phật dạy cho hành giả tu tập để đạt được Niết Bàn tịch tịnh yên vui và đó cũng là tâm pháp vị của Đức Như Lai đắc Niết Bàn. Như nói uống Bát vị thuỷ ở đại thừa hà. Bát vị của nước ao hồ ở cõi cực lạc và nước suối Anabadapda ở miền Hy mã lạp sơn:

1. Trường tịnh

2. Thanh lãnh

3. Cam mỹ

4. Khinh nhuyễn

5. Nhuận trạch

6. An hòa

7. Trừ đói khát

8. Trưởng dưỡng các căn về thân thể và tinh thần .

Về Lý, những tinh hoa của giáo lý Phật giáo là nền tảng của Đạo Phật, không một tôn giáo nào trên thế giới có hình thức lối kiến trúc hay thờ phượng được lồng vào trong giáo lý của mình như Đạo Phật và đặc biệt riêng chỉ có hệ phái Khất Sĩ , ngôi tịnh xá Bát giác tượng trưng cho Bát Chánh Đạo. Trước hết chúng ta biết đến giáo lý đầu tiên mà Đức Phật nói ở vườn Lộc Uyển khi Ngài đã thành đạo là giáo lý Tứ Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, hay chúng ta còn gặp Tứ Đế này ở sanh già bệnh chết v.v…rất nhiều trong hệ giáo lý của Đức Phật, đồng thời đem lý này lồng vào trong bốn trụ của chánh điện xung quanh tháp Phật là nói lên Sự nhưng tượng trưng cho bốn chúng là Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di hộ trì Phật pháp, bốn trụ ấy nâng đỡ ngôi nhà Phật pháp, ngôi nhà Phật pháp không có bốn trụ không thể đứng vững trên nền đất tâm cũng như trên thế gian này, xung quanh chánh điện có 8 cửa đi vào tượng trưng cho Bát Chánh Đạo: gồm có Chánh Kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Muốn vào ngôi nhà Phật pháp chúng ta phải đi qua 8 cửa này, qua bằng cửa nào cũng vào gặp được Phật, như ta dùng Chánh Kiến soi rọi mình cũng thấy được Phật tánh sẵn có trong tâm, thấy được Chánh Pháp, thấy được con đường Chánh Pháp không đi vào con đường tà kiến, hay ta chơn chánh trong nghề nghiệp gọi là Chánh Nghiệp thì cũng sẽ đến được với Phật, vì ta nuôi dưỡng lòng từ đối với tất cả chúng sanh không tạo nghiệp sát, mà đạo Phật là đạo Từ bi…vì vậy cho nên nếu ta không đi qua 8 cửa này khó mà đến được ngôi nhà Phật pháp sẽ dễ bị lạc đường, vì nếu không Chánh Tư duy thì sẽ bị lọt vào tà tư duy, cuôc đời chỉ có 2 phạm trù đúng hoặc sai, phải hoặc trái mà thôi. Không đi bên này thì đi bên kia, không Chánh Định thì sẽ tà định. Trong cuộc sống, chúng ta ai ai cũng đều đi qua 8 cửa này để mà định hướng cho mục đích sống lý tưởng sự nghiệp của chính mình, trong xuất thế gian hay thế gian cũng đều phải có 8 cửa này trong mỗi con người, khi một người đã vào được ngôi nhà tâm linh của chính mình qua 8 cửa ấy thì bên trong nhà có bảo sở là chỗ cất giữ kho báu của mỗi người đó chính là Phật bảo.

4.2 Đặc điểm thờ phượng: Tôn trí duy nhất 1 bảo tượng

Ở giữa có xây tam cấp để thờ Phật tượng trưng cho Giới, Định, Huệ, Phật, Pháp, Tăng. Có tháp 13 tầng tượng trưng cho 13 đẳng cấp tiến hóa của chúng sanh từ: 1. Địa ngục

2. Ngạ quỷ

3. Súc sanh

4. A-tu-la

5. Người

6. Trời

7. Tu-đà-hoàn

8. Tư-đà-hàm

9. A-na-hàm

10. A-la-hán

11. Bích chi

12. Bồ-tát

13. Như-lai (Phật).

Tượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni ấy là tượng trưng cho Phật tánh trong tâm của chúng ta, trong nhà luôn có Bảo vật giống như trong mỗi con người dù xấu hay tốt đều có sẵn hạt giống từ bi, hạt giống giác ngộ, là chơn tâm thường trú sáng suốt, không vẩn đục, không ô nhiễm, sự lý viên dung, tượng Bổn Sư tôn trí duy nhất trong chánh điện là chắc lọc từ tinh hoa của Phật giáo Nam Tông không thờ Bồ Tát, chỉ thờ duy nhất 1 tượng Bổn Sư, được thờ trên bực tháp thứ 3 dưới 2 bực tháp là Pháp Tăng. Với ý nghĩa dầu tu tập đạt đến địa vị Bồ Tát nhưng không dừng lại ở đó mà phải tu tập nữa để tiến lên quả vị Phật mới thôi. Tam bảo đã có đủ Phật, Pháp, Tăng được chở che bởi ngôi nhà Bát Chánh Đạo, được hộ trì bởi tứ chúng, hiện diện trên mảnh đất tâm kiên cố, đó là lý Phật pháp. Về sự, chúng ta thấy rằng hình thức tôn trí, thờ phượng như vậy để giản đơn trong việc cúng kiến không rườm rà, nghi thức nơi thờ đươc trang nghiêm, thông thóang, nhắc nhở hành giả luôn luôn có và chỉ có một Phật tánh hiện diện nơi tâm của mình, thờ như vậy khi bước vào trong, đứng nơi đâu cũng nhìn thấy Phật, cũng thấy Tam bảo, và quả vị A-la-hán là quả vị cuối cùng để tiến lên quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vô thượng chánh đẳng chánh giác là Vô thượng thừa : Bực này không bực nào cao hơn đây là lời khen ngợi cực điểm của giáo pháp tức là dị danh của Đại thừa. Trong Kinh Hoa Nghiêm nơi vượt khỏi 2 thừa (nhị thừa) gọi là Đại Thừa, đệ nhất Thừa, Thắng Thừa, Tối Thắng Thừa, Thượng Thừa, Vô Thượng Thừa là bực lợi ích tất cả chúng sanh như trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương. Mô tả về bậc nhất chơn địa chỉ cho vị đã ngộ được lý nhất chơn pháp giới. Nhất Chơn Pháp Giới. Thể của nó dứt sự đối đãi gọi là nhất chơn thật là chơn. Theo trong Tam Tạng Pháp số thì không hai gọi là Nhất, không vọng gọi là chơn. Thông suốt, dung nhiếp gọi là Pháp giới. Tức là chỉ cho Pháp Thân bình đẳng của Chư Phật, xưa nay chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng phải, không chẳng phải có, lìa danh, lìa tướng, không ở trong, không ở ngoài, chỉ là 1 thể chơn thật, không còn luận bàn gọi là Nhất Chơn Pháp Giới. [288 – 15]

Vào trong Đại hùng Bảo điện, đối trước Bổn Sư là đối trước Phật tánh sáng suốt hằng thanh tịnh của chính mình dứt sự ràng buộc của phiền trược khổ đau, dứt sự đối đãi của thế gian thường tình, vượt lên trên 2 phạm trù có và không, sanh và tử, chỉ có sự thanh khiết thuần tịnh của hương vị giải thoát, từ bi. Chỉ có đức Thế Tôn là bậc A-la-hán chánh đẳng chánh giác đầy đủ minh và hạnh, đấng thiện thệ, Đấng hiểu rõ thế gian, bậc Vô Thượng Đạo Sư điều phục những người đáng điều phục, bậc Thầy của chư Thiên và loài người, Phật, Thế Tôn (M-I .37, A 3. 285). Thế gian này chỉ duy nhất Đức Thế Tôn mới là người đầy đủ minh và hạnh, điều phục tâm chúng sanh cang cường và độ được những kẻ khó độ. Đảnh lễ Ngài, đảnh lễ Đại hùng, Đại bi của Ngài, đảnh lễ Ngài để xả bỏ tâm ngã mạn, xả bỏ cái ta cố hữu trong ta để tâm rỗng không đồng với Ngài thể thanh tịnh giác ngộ để có được sự Hùng lực và Bi lực như Ngài “Ngài là bậc hoàn toàn tách ra mọi cấu uế, Ngài đã tiêu diệt tất cả mọi kẻ thù (tức mọi ô nhiễm). Ngài đã phá huỷ hoàn toàn bánh xe luân hồi được làm bằng vô minh và khát ái. Ngài xứng đáng nhận những đồ cúng dường của cõi trời và cõi người. Chúng ta phải phát nguyện được như Phật, tiêu diệt tất cả mọi ô nhiễm. Ngài là đấng Thiện Thệ vì ngài có cách đi tốt đẹp, đã đi một cách đúng pháp và đã tuyên bố đúng, cách đi tốt đẹp là đi theo con đường Thánh đạo tám ngành, đã đến nơi một nơi tốt đẹp là đã đến Niết Bàn bất tử. Đã đi một cách đúng pháp, tức là Ngài không thiên về cực đoan nào trong 2 cực đoan là thường kiến và đoạn kiến, không theo hướng đam mê dục lạc, cũng không theo hướng ép xác khổ hạnh. Ngài đã tuyên bố đúng, tức là ngài chỉ nói những lời nói thích đáng”. [86 – 16]

Đảnh lễ Phật, chỉ có Phật mới có đủ trí lực vượt lên trên 2 cực đoan, không đam mê dục lạc của thế gian, ngài đã từng ép xác khổ hạnh và Ngài đã từ bỏ, và Ngài nói những lời hợp thời, khế lý và khế cơ. Không nói những lời vô ích có hại. Vì vậy chúng ta còn là phàm phu đang trên con đường tu tập đảnh lễ Ngài phát nguyện noi theo hạnh nguyện và nghệ thuật sống của Ngài, để một ngày tiến tu trên con đường tự độ và độ tha, quay về bảo sở của riêng mình.

Đức Phật, ngài là bậc toàn năng toàn giác, chỉ có Ngài mới hiểu rõ thế gian, biết rõ cuộc đời trên mọi phương diện. Như Kinh nói “Hành giả, có một chỗ tận cùng thế giới, ở đây người ta không sinh, không già, không chết, không tái sinh, có thể được biết, được thấy hay đi đến bằng du lịch. Điều ta không tuyên bố, tuy nhiên ta cũng không cần đi đến tận cùng thế giới. Đúng hơn trong cái thân xác nhỏ bé này, với các tưởng, các thức của nó mà ta công bố có thế giới, sự sinh khởi của thế giới sự chấm dứt của thế giới và con đường đưa đến chấm dứt của thế giới. [69 – 2].

Thế gian này có câu hát rằng:

“Đường thương đau đầy ải nhân gian

Ai chưa qua chưa phải là người”

Nhưng đã có ai đi trọn cuộc đời, có ai cho rằng mình đã thấu hiểu hết cuộc đời trước khi lìa khỏi thế gian này. Nếu người không đủ trí tuệ siêu việt Thiền Định, chứng tam minh và lục thông như Đức Phật thì thế gian này làm sao mà hiểu rõ để giải thích được, chúng ta luôn phải đảnh lễ Ngài, vì Ngài quá cao tuyệt không gì so sánh được trí tuệ của Ngài, vì Ngài đã lắng sạch phiền não, hướng dẫn chúng sanh trong trần gian ra khỏi con đường tăm tối nhiễm ô. Nếu chúng ta muốn đi đã có sẵn đường Ngài đã vạch và đã đi.

“Ngài là đấng cha lành cứu độ nhân loài. Đấng từ bi ngài gieo ánh sáng Đạo Vàng”

Ngài dạy dỗ về những vấn đề trong hiện tại những vấn đề thuộc đời sau và những mục đích tối hậu, tùy trường hợp thích đáng, cho nên Ngài là bậc Thầy. Một đoạn trong Niddesa diễn tả “Đức Thế Tôn là bậc dẫn đạo đoàn lữ hành, người đưa kẻ lữ hành về đến nhà, đưa chúng sanh vượt qua sa mạc sinh tử”. (Nd.I 446 ).

4.3 Kinh – Luật - Luận: Chủ trương đọc tụng, thọ học bằng tiếng Việt.

Trước hết những lời tinh hoa về lời dạy của Phật được Chư Tổ đưa trọn vào kinh, từng lời kinh mang một tinh thần dân tộc, được chuyển thể qua bằng tiếng Việt, thể hiện như các bài kinh tụng đều được Việt hóa, phần nhiều là viết theo thể văn vần như quyển Nghi Thức Tụng Niệm, Kinh Tam Bảo…đây là ý chỉ của Tổ Sư muốn cho hàng Phật tử cách thời Đức Phật quá xa đọc tụng học hiểu lời Phật dạy một cách thiết thực, vì tụng là đọc tụng, là đọc kinh có cách điệu riêng của giáo Pháp Khất Sĩ, Niệm là suy nghĩ, nhớ tưởng trong khi tụng kinh và hành đạo. Tụng niệm là đọc tâm tưởng nhớ, suy nghĩ miệng và tâm đều phải thanh tịnh, chuyên chú, hoà hiệp trong câu kệ lời kinh, tiếng Pháp.

Tụng niệm có nhiều ý nghĩa và có hiệu lực, thiết nghĩ chúng ta cũng nên hiểu chân xác các ý nghĩa này để việc tụng niệm của chúng ta được kết quả tốt.

1. Tụng niệm để giữ cho tâm mình được thuần tịnh, giao cảm được với các Đấng tối cao, các bậc Thánh Hiền và Chư Phật.

2. Tụng niệm để ôn lại ngọc ngữ kim ngôn của Phật, y lời Phật dạy làm phương châm trong cuộc sống hằng ngày gieo giống bồ đề vào tâm thức.

3. Tụng niệm để cầu an ngăn lòng tội lỗi, ngừa ác phát sanh, tránh tai họa, dứt nghiệp tiền khiên.

4. Tụng niệm để thúc liễm tâm khẩu ý mình bông lung vọng niệm, vừa được thanh tịnh, trang nghiêm xứng đáng là Phật tử gương mẫu thuần thành, vừa để khích lệ nhắc nhở người tu học.

5. Tụng niệm để cầu siêu, chuyển tâm người quá vãng, khiến họ xa lìa nghiệp xấu, rời cảnh giới sa đọa tối tăm, được siêu sanh cực lạc.

6. Tụng niệm còn có diệu dụng làm cho pháp âm lưu chuyển trong dân gian, cảm hóa mọi người quy chánh cải tà, chuyển mê giải nghiệp.

7. Tụng niệm để hướng từ tâm, trương bi nguyện đến tất cả chúng sanh, cầu cho vạn loại âm siêu dương thới.

8. Tụng niệm để sám hối tội mình và người trước ngôi Tam bảo, nơi thuần tịnh không cấu nhiễm.

9. Tụng niệm lại còn là dịp để mình nhiếp tâm, thấu suốt tận tường chơn thật, nghĩa của chư Phật, có như vậy mình mới thêm được cơ duyên làm lợi ích thiết thực cho chúng sanh.

10. (Kinh Tam Bảo – cố Ni Trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên – lời nói đầu)

Vì những ý nghĩa trên chúng ta nên tụng niệm đúng cách giữ Thân, Khẩu, Ý trang nghiêm nhiếp tâm lực trong lời kinh câu kệ, trong Tứ Thập Nhị Chương. Chương 40 nói: “Người tu hành cần nhất là phải hiểu nghĩa lý, vì chính có lý giải rồi sau khởi sự tu hành mới là chánh hạnh, chữ thân trong chương này bao hàm cả thân và khẩu. Hiện nay, người tu hành hoặc lễ bái hoặc tọa thiền, ấy là thân hành đạo, còn niệm Phật hoặc tụng kinh ấy là khẩu hành đạo như nếu thân khẩu hành động mà tâm chẳng tương ưng chỉ là hư thiết, nên chương này nói rằng việc tu hành phải lấy tâm làm chủ yếu. Chẳng vậy thời việc làm không khác nào con trâu kéo xe bị người ta lấy vải bịt mắt, tuy đi đường mà mờ mịt chẳng biết là đi đâu và như thế thân lễ chẳng khác nào động tác lên xuống của người giã gạo, miệng đọc tụng chỉ đồng với những tiếng vi vu của gió rừng không đem lại sự lợi ích gì cho việc tu chứng. Nên khi lễ bái hãy quán tưởng lúc tụng kinh cũng theo văn mà nhập quán. Ngay đến khi ra làm việc bố thí cũng phải phá sạch cái kiến chấp nhân ngã, quán chiếu tự tha đều do các pháp duyên sanh, duy thức biến hiện”. [282 - 283 – 15]

Hiểu đúng lý giải này hành theo quán chiếu này thì việc hành đạo chỗ y cư điều được rõ ràng.

Chương 5: Pháp bảo lưu truyền bộ Chơn Lý - tư tưởng giáo lý của Tổ Sư

5.1 Quan niệm về nguồn gốc con người quyển: Vũ Trụ Quan, Ngũ Uẩn, Lục Căn v.v…

Nguồn gốc của con người theo truyền thuyết xưa cho rằng do thần Eva tạo ra có đàn ông rồi cũng có đàn bà, tạo nên thế gian này. Truyền thuyết VN ta nói rằng Lạc Long Quân và Âu Cơ cũng có trăm trứng nở ra trăm người con. Nguồn gốc con người theo quan niệm của thế gian như vậy, nhưng theo Phật giáo thì nguồn gốc con người từ nhiều nguyên nhân: do 12 Nhân Duyên, do nghiệp lực, nguyện lực, do Tứ đại hợp thành, Tổ Sư trong Vũ Trụ Quan Ngài cho rằng: “chúng sanh là tiến hóa, từ địa ngục đến Niết Bàn do nhơn duyên chuyền níu sanh ra từ nơi không sanh ra có, nhỏ tới lớn, có rồi có mãi, không hết không rồi mượn vật chất làm thân để nuôi tâm, còn thân trả lại tứ đại, đời kiếp không dư thiếu. Chúng sanh chẳng phải lưng, Phật Thánh chẳng phải đầy, dầu đến bao lâu xem ra cũng vậy, thật là vũ trụ mênh mông mà như tuồng sắp đặt. Kìa như sắc ấm, đất nước lửa gió, sanh thọ là sự sống, ấm của đất sanh nhựa chỉ, nhựa chỉ đất nước sanh rễ cỏ cây thú, cỏ cây có giống là hộ, thú có giống là tinh ba mà sanh sản”. [21,22 – 13]

Vũ trụ này là một khối chuyển động, vật trong vũ trụ ấy cũng chuyển động như Ngũ uẩn, Lục căn của con người cũng từng giây từng phút chuyển động không ngừng để tự hoàn thiện mình “như Ngũ uẩn của con người là 5 pháp trong vũ trụ mỗi vật chỉ trên thế gian này dầu có hình tướng, dầu không hình tướng đều thuộc về những chi tiết của Ngũ uẩn cả 5 pháp ấy là: Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn. Chữ uẩn là súc tích, chứa nhóm gom kết như kho tàng chữ ấm là che đậy, trùm chứa, Ngũ uẩn hay Ngũ ấm có ra là nương sanh bởi pháp này và pháp kia như đất nước lửa gió, nóng lạnh dung hợp sanh thọ cảm, thọ ấm dung hợp với sắc ấm tứ đại mà sanh tưởng ấm, tưởng ấm dung hợp với sắc ấm thọ ấm mà sanh hành ấm. Hành ấm dung hợp với sắc ấm thọ ấm tưởng ấm mà nảy sanh thức ấm. Thế là Ngũ ấm nương sanh lấy nhau vì ấm là sanh nảy giữa cái này và cái kia”. [25,26 – 13]

Lục căn cũng là một phần trong những phần tạo nên nguồn gốc con người không có Lục căn thì chưa thể gọi là một con người “vì loại nào cũng vậy, thức như đầu căn như mình trần như chân gồm đủ ba phần gọi là một thể”. [40 – 13]

5.2 Triết Lý về con người và thiên nhiên:

Trong Tam bảo tại thế gian này thì Pháp bảo là quan trọng có tác dụng phá tan màng vô minh của chúng sanh đưa người qua bể khổ của cuộc đời Đức Phật đã để lại cho thế gian Tam tạng Pháp bảo Kinh, Luật, và Luận là nền tảng để chư Tổ từ đó giảng giải rộng ra cho hàng hậu học hiểu một cách thấu đáo và hành theo cho có lợi ích, thay Phật dìu dắt chúng sanh chỉ cho chúng sanh thấy khổ, con đường đưa đến khổ và con đường diệt khổ.

Tổ Sư Minh Đăng Quang như bao vị Tổ khác đã làm được điều này, lý giải về con người, về thiên nhiên qua Thập Nhị Nhân Duyên, có và không, sanh và tử, tạo nên một mắc xích từ vô minh đến sanh lão tử, điều đó cho thấy rằng con người là trung tâm điểm, cái ta là cái quan trọng cần phải lưu tâm, cần phải làm tỏ rõ cái ngã to lớn trong ta.

Bộ Chơn Lý là tư tưởng giáo lý của Ngài là toàn bộ trí tuệ, tâm huyết của Ngài, Ngài để lại cho đời tiếng vang ngân dài. Ngài nói rằng vòng xích 12 Nhân Duyên từ vô minh…đến sinh tử là 12 nhân duyên của tứ đại, còn đây là 12 nhân duyên của chúng sanh .

“Vô minh là thuở chưa có thai, chưa biết được, sanh ra hành là sự giao hiệp, sanh ra thức là cái biết cái sống trong thai bào, sanh ra danh sắc là tên gọi và sắc thân sanh ra xúc, xúc là sự cảm xúc, xúc tiếp, xúc động, xúc giác, xúc đối. Sanh ra thọ là ưa chịu muốn ham, sanh ra ái là thương yêu trìu mến kẻ khác, sanh ra thủ là lấy giữ vợ chồng làm của riêng, ích kỷ tư lợi thói xấu, sanh ra hữu là có thai, có gia đình riêng tư có tham sân si độc ác, có sự nghiệp, cái có cho mình sanh ra sanh là sanh con đẻ cháu, sanh thêm tội ác, nghề nghiệp chơi bời khổ trược. Sanh ra tử là chết mất tiêu diệt…chết rồi chỉ biết cõi đời có bấy nhiêu, đi nhập thai sanh lại nữa”. [81,82 – 13]

Con người từ khi bắt đầu sanh ra thì cái ngã cũng đã hình thành nuôi cái ngã lớn theo thân tứ đại, và cái ngã này khó hạ được vì bị sự cố chấp quá chặt khiến cho tâm trí con người luôn bị vướng mắc sai lầm không tự giải được, Bồ Tát khi mới ra đời đã khẳng định điều này, bước 7 bước hoa sen và nói:

“Thiên thượng thiên hạ

Duy ngã độc tôn.”

Và trong Chơn Lý cũng có nói “chúng ta ai cũng có riêng một sở chấp, thói quen trong 12 Nhân duyên ấy, vậy nên chúng ta muốn hết khổ luân hồi thì tùy sự xét thấy thì tùy sự xét thấy mình ở cửa nào hãy lui ra ở cửa đó, quay đầu lại là xong, chớ đừng mãi đi tới và luồng tuông, để chịu khốn họa nắm lấy 12 nhân duyên đi tới thì càng vọng động khổ sở bằng buông tháo trở lại thì càng chơn như vui sướng, miễn giác ngộ là được. Về thiên nhiên, Tổ cũng nói rằng vạn vật và thân phàm, chúng sanh là thân phàm, các pháp ác là trí phàm. Ví bằng ta muốn giữ ba cái ấy thì cũng nên đổi nó ra thành món tốt đẹp hơn rồi sẽ thương yêu gìn giữ”. [133 – 13] Con người sống giữa thiên nhiên, con người là loài hữu tình, vạn vật là loài vô tình tuy vậy chúng có sự sống “sự sống của mọi vật cũng như cái máy đồng hồ mỏng giây lại vặn, mạnh rồi yếu, yếu rồi mạnh, mỗi 1 lần thay đổi là tiến tới một khoảng đường cũng như sáng mai hơn chiều nay, tiếp tới sẽ hơn đời này” sanh và tử là hai phạm trù cũng như phạm trù Có và Không, Sanh và Diệt: hai phạm trù này luôn hiện diện trong tư tưởng, trong cuộc sống mỗi chúng ta, mỗi con người trong vũ trụ đều chịu định luật này, bậc Phật Thánh đã thoát khỏi hai phạm trù này không còn trở lại cõi Ta bà này. Vì vậy ai còn trong vòng sanh tử là còn đau khổ còn phiền trược chi phối bởi sanh già bệnh chết.

“Muốn không xác uế thoát thai phàm

Lục dục tiêu trừ dứt muốn ham”

“Lẽ sanh diệt của tạo hóa có chi lạ, thân cũng vậy mà tâm cũng vậy, chớ nếu càng sanh mà không diệt thì xưa nay đất đâu mà chứa hết chúng sanh? nào riêng loài người, loài thú, cây cỏ mà sao không ai nghĩ đến mà thương xót. Làm ác giết người, thân mà còn tâm, trái lại (còn ủng hộ theo làm những việc bất thiện) cái tâm đã chết, hột giống tâm đứt còn thân thì sau sự vay thì phải trả phải đền bù bằng cái chết. Thế là rõ ràng mình tự giết thân tâm mình, đó sự thật xưa nay nào ai dám nghĩ đến, hoặc nhắc cho lẽ ấy, nhưng sao ta làm ác lại lo hoài và nhớ mãi, chỉ nhớ tới mà chẳng tin rằng là có sự lui, trong đời đâu có lẽ tốt hảo tuyệt đối cho riêng ta vậy”. [176 – 13]

Một chân lý sống động về thân tứ đại của con người như Ngũ uẩn, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Đế từ đây Tổ Sư Minh Đăng Quang đặt vấn đề nghiên cứu về vũ trụ quan như vậy trên thế gian này Tổ Sư không chỉ tiếp nối ánh sáng ngọn đèn của chư Phật mà làm ngọn đèn ấy sáng mãi.

5.3 Luận giảng về tư tưởng hành động nhân quả và đời sống đạo đức.

Công lý cũng là chơn lý nghĩa là không thêm không bớt rất bằng nhau, thể của công lý là sự, không cố chấp vô cực, tướng của công lý là hình thể vạn vật, các căn dụng của công lý là sự không lượng không biên, không cố chấp vô cực, tướng của công lý là hình thể của vạn vật các căn.

Tổ Sư nói rằng công lý vốn không thiện ác thưởng phạt mà kẻ làm ác thiện thì bị thưởng phạt khổ vui cười khóc phiền não lăng xăng trói buộc…Tổ Sư dạy tiếp rằng “cũng lắm kẻ cho rằng không có công lý nên tha hồ làm ác phải chịu tai họa, chính công lý là một sức mạnh huyền bí chớ không phải huyền thế sức mạnh là người ta ai ai mà lấm kẻ lại áp dụng để hiếp đáp người nhưng đã là công lý như bóng theo hình, kẻ trèo cao té nặng kẻ người xảo trá lại được bình yên mãi đâu? đối đầu mới biết mình thất bại, tự mình hại lấy mình, không than trách vậy nên ta nhớ rằng trong đời chẳng có ai hơn và chẳng có ai thua, cả thảy sau trước vẫn bằng nhau mà thôi”. [129 – 13]

Qua đó có thể thấy con người sống chung với nhau biết sợ nhân quả không có oán thù không ganh ghét hại khổ lẫn nhau, đó là đời sống đạo đức biết sám hối biết ngăn ngừa mọi tội lỗi do chúng sanh tạo ra, chưa sợ tội lỗi chưa biết sám hối thì còn mãi trôi lăn trong vòng sanh tử, cho nên chư Phật thương chúng sanh mới có pháp sám hối Hồng Danh, không phải chúng sanh có tội với chư Phật nên giờ sám hối Hồng Danh để chư Phật tha tội mà các danh Phật ấy là một pháp lý giáo lý đạo lý ví như một ông Thầy chớ không có Phật tên đó nhưng nếu nói có cũng được vì Phật có đủ các pháp như vậy trong 89 tên Phật, ai tu theo pháp nào cũng giác ngộ đắc quả cả là vì chúng ta đang sám hối xả đọa nên sẽ tiến tới thành Phật như tên Phổ Quang Phật là phổ tế ánh sáng giác ngộ cho chúng sanh thì sẽ thành Phật, Phổ Tạng là phổ tế pháp bảo tam tạng cho chúng sanh thì sẽ thành Phật.

5.4 Sự liên hệ các tông phái và tư tưởng đại thừa.

Mọi tông phái nào tồn tại đều vì mục đích cứu nhân độ thế, dầu hành sự có khác nhau nhưng cùng đi về một hướng đó là vì con người, con người là kho báu tiềm tàng mà ai cũng muốn khai thác. Đạo Nho, Đạo Giáo, Đạo Thích là ba tông phái ra đời vì con người sống vì con người đi vào con đường an lành không có khổ đau vì một mục đích ấy đã gặp nhau tại một điểm, dù rằng Lão Tử sau Đức Phật 500 năm, Khổng Tử sau 550 năm, các Ngài đều là đệ tử Phật Thích Ca không gặp Phật nhưng hành đúng giáo lý của Phật “Đức Khổng Tử cũng như cánh tay mặt của Phật đưa ra để cứu mạng chúng sanh, đức Lão Tử cũng như trái của Phật để giữ lấy tâm tu thiền định nuôi chơn như bản tánh còn Đức Phật như đầu, chính giữa có cả mắt tai mũi miệng gom chứa cả chúng sanh thâu dụng”.

Như trong Đạo Phật ngày nay có sự phân chia tông phái bởi lẽ mỗi bên đều cho rằng mình đúng từ khi Phật nhập Niết Bàn đến nay thì phân chia ra Đại thừa và Tiều thừa đối nghịch chỉ trích lẫn nhau, một đàng các sư gọi mình ăn chay là Đại thừa mà không có Y Bát trì giới, các sư tự mình cải cách theo Nho Đạo Khổng Tử. Một đàng khác các sư trì giới Y Bát nhưng lại ăn dùng cá thịt gọi là Tiểu thừa”. [374 – 13]

Chúng ta chỉ nên biết rằng phải học hết thảy các pháp, phải tu hết thảy các pháp đừng động tâm vì Đại thừa hay Tiểu thừa, Sư Tổ dạy: “hãy dung hòa hiệp lại thành ra mỗi sư đều ăn chay và có đủ Y Bát giới luật Ngài còn nói rằng Đạo Phật mất là tại vì Tăng chúng đông mà Phật Thánh ít, khác nào như gạo lúa, tấm, cám đều ở chung cả trên một sàng làm cho sàng phải nứt gãy”.

Là một Tăng thân đầy đủ nhiệt huyết của tuổi trẻ có lẽ cũng nên phát nguyện rộng lớn vì tiền đồ Phật pháp dù không lớn lao như Ngài Địa Tạng nhưng cũng giống như Ngài tất cả vì chúng sanh. Địa Tạng Bồ Tát nghĩa là đại nguyện cứu pháp tế độ chúng sanh, tế độ “chúng sanh là những chúng sanh trong tâm của mình thanh lọc thân và tâm để được như thân Địa Tạng còn Diệu Pháp Liên Hoa cũng nói là tòa sen, bánh xe Pháp của Phật trao cho chúng sanh ngồi cỡi để đặng bay lên lăn tới hay là một vũ trụ thế giới xã hội gia đình cực lạc hiểu về pháp tu ấy con người sẽ không còn ai dơ bẩn thấp thỏi nhỏ nhoi hẹp hòi tư kỷ nữa, vì vậy nên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, ai ai cũng sẵn có trí tuệ của Phật ở nơi mình là Diệu Pháp Liên Hoa. Vì chúng sanh Phật đem một cái chấp để đánh trừ một cái chấp cũng là hay diệu, ấy cũng bởi Ngài biết rõ cái tham muốn của chúng sanh từ thấp tới cao cho nên Ngài dạy không bỏ bậc nào mà ý Ngài muốn chỉ rõ sự bình đẳng sự bằng phẳng trong sạch của đời, đời là mặt hoa sen nâng đỡ tất cả chúng sanh ngồi trên, không cho ai tham lam cố chấp nhiễm ô bùn bụi nơi đó Đức Phật chỉ rõ Phật là sự giác ngộ là chỗ đến của Diệu Pháp Liên Hoa. Có thấy rõ như thế chúng ta mới biết rằng ai ai cũng là: Như Lai tử, hay Bồ Tát cả”. [709,710,713 – 13].

5.5 Góp phần xây dựng xã hội an lạc thanh bình và đạo đức qua các quyển: Trường đạo lý, Đời đạo đức, Sứ thiên đường v.v…

Xây dựng xã hội hòa bình an lạc là yếu chỉ của mọi tôn giáo, về mặt tinh thần tôn giáo xóa bỏ sự bất bình đẳng giai cấp con người, mở ra con đường đạo đức cho nhân loại, lấy tâm làm nơi khởi điểm và cũng là nơi dừng chân cuối cùng, khi tâm buông xả hai phạm trù đối đãi của thường tình thì sẽ có một niềm an lạc hạnh phúc. Một xã hội người người buông bỏ thì không bao lâu hòa bình hạnh phúc trở về tràn ngập trong từng nhà, từng gốc phố. Tổ Sư Minh Đăng Quang đã khẳng định điều ấy bằng sự trải thân thực nghiệm chính mình và của hệ phái, nếp sống của người Khất Sĩ góp phần xây dựng xã hội từ trong mọi phương diện, Tổ Sư đã xóa bỏ luật lệ mê tín tà kiến xưa, đem ánh sáng trí huệ của Giới Định Tuệ trang điểm xã hội cho con người, thời khắc tu tập của Tăng đoàn là một bài học cho xã hội noi theo, đời sống chư Tăng thanh tịnh nhẹ nhàng không bon chen tranh đua với đời vượt ra ngoài vòng đối đãi của thế gian làm mô phạm cho đời, và giáo lý Khất Sĩ phải là tiếng chuông cảnh tỉnh gọi thức chúng sanh giác ngộ “cõi bình đẳng về sắc thân không ai hơn kém, chỉ dùng đức hạnh làm cây thước để đo trình độ thấp cao. Trong đạo cả thảy sự sống như nhau một tiếng Khất Sĩ như nhau, cõi không hình phạt, không quyền không trợ chỉ có một sự dạy mà tất cả được yên. Giữa lúc cõi đời chết khổ, Khất Sĩ là chất nhựa sống gắn liền các khối chia rẽ riêng tư. Khất Sĩ là con đường chơn lý võ trụ đúng theo trung đạo ánh sáng không thiên về một bên lề mé, Khất Sĩ tượng trưng giáo lý đại đồng”. [471 – 13]

Nếu xã hội con người tuân thủ theo pháp luật nhà nước để giữ gìn kỷ cương phép tắc thì Khất Sĩ đã cùng với nhà nước góp phần tái tạo tinh thần con người qua giới luật của Phật, để chung xây một xã hội yên bình ấm no hạnh phúc bớt trộm cắp, rượu trà, tà dâm, Đảng phái vì đã có năm điều khuyên:

1. Không nên sát sanh mạng người, thú cùng cây to hay cỏ nhỏ

2. Không nên trộm cướp, giựt mượn không trả của người ta

3. Không nên dâm dục, lếu quấy nam nữ đực cái với nhau

4. Không nên nói dối chửi rủa với nhau, hay khoe khoang đâm thọc

5. Không nên uống rượu, cùng tham lam sân giận si mê [376 – 13]

Sư Tổ còn dạy rằng “bây giờ mỗi khắc qua là mỗi trái tim cùng đập mạnh dù chúng nó chưa biết phải học cái chi…đã biết rằng khi vào đó rồi thì không những sự lo ăn chơi, không còn chiến tranh nhau, không còn tự do ác quấy mê chơi, nơi chỗ học với cái tiếng học, cái học sẽ đánh đổ cái ăn cái ác, cái tranh cái tham cái chơi tất cả, cái học cũng như bức tường, nó cản đường hết thảy cả những ngọn gió thì những lá cây không còn dao động, cái tiếng học nó thắng tất cả sự hơn thua mê muội, người ngó ngang nơi cái học làm mục đích là sẽ không còn tham sân si chi nữa hết thế giới tất sẽ bình yên”. [378 – 13]

Cái tự ngã là một chướng duyên lớn nhất và nguy hiểm nhất đối với con người trên đường đi đến chân thiện mỹ, chúng cùng với ngã mạn tật đố…cấu kết nhau làm cho con người phát triển theo chiều hướng bất thiện, chư Phật ba đời và chư Tổ đều dạy chúng ta dẹp bỏ cái ngã, diệt trừ cái ngã mạn, diệt trừ ngã mạn kiêu căng để có được khiêm hạ hài hòa.

“trong sự học cần phải biết tự cao là dốt nát vì mình tự cao là mình sẽ không còn học thêm và cũng chẳng ai dám dạy mình nữa mà chính mình phải tập khiêm nhường mới mong tấn hóa được”. [380 – 13]

Một đời sống lành mạnh thanh tịnh và hòa hợp sẽ đem đến lợi ích thiết thực không chỉ cho mình mà còn cho người, cho cả xã hội, đời sống đạo đức của chư Tăng trở nên một biểu tượng cho số đông quy ngưỡng bởi lẽ giữa cảnh đời bon chen tội lỗi thì nếp sống vô ngã vị tha đã nhen nhóm ngọn lửa ấm áp cho loài người biết nhận ra chân giá trị đích thực của cuộc sống, không có tồn tại bền lâu chỉ ngoài phước đức và trí tuệ vô lậu, của cải tài sản thế gian là của năm nhà vốn có sẵn tính vô thường luôn biến đổi không bền vững chỉ có tài sản của xuất thế gian là tài sản hằng hữu, qui y Tam bảo, Giới Định Tuệ phát sanh xa lìa được ba đường khổ thì tài sản phước đức ấy không rời xa người đã giác ngộ biết tu tạo công đức lành, mà còn ngày thêm tăng trưởng, làm nhân cho xã hội ngày một nảy sinh rộng lớn thêm lên.

1. Chiều 5 giờ tới 7 giờ tu tịnh ngủ nghỉ, hoặc gốc cây vườn rừng hoặc chùa am hang cốc tùy theo phương tiện

2. Sớm mai khất thực theo đường dài xóm làng thành thị

3. Buổi trưa độ cơm

4. Xế chiều thuyết pháp, giảng đạo cho tứ chúng

5. Đi đến mỗi nơi trình sổ giáo hội du tăng và chương trình cho nhà đương quyền tại đó

6. Tùy tiện dọc đường giúp ích Pháp thí cho những sự bất hoà, những nơi nhóm đông hữu sự cùng xin phép giảng đạo khuyến tu, các nơi bệnh viện, đề lao công sở, nhà đương cuộc, tông giáo, đảng phái v.v…

Qua đây chúng ta tìm hiểu về chương trình hành đạo mỗi ngày của chư Tăng không tìm thấy một dấu hiệu những cặp phạm trù đối đãi của thế gian vào trong mỗi thời hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn an lạc, bấy nhiêu đó đủ để cho đời học hỏi noi theo làm mô phạm cho trời và người. Sự thanh bần giản dị vừa đủ luôn là phương châm sống cho mình và cho cả mọi người, chỗ ở tùy theo phương tiện là gốc cây vườn rừng hoặc chùa am hang cốc đều là chổ nghỉ chân của bá tánh, thiên nhiên không có gì là của mình như vậy mới làm cho hành giả giải thoát sự chấp giữ của mình, tránh cho người sanh tâm đố kỵ xan tham để điều độ tri túc trong ăn uống không phân biệt nghèo giàu ngon dở, tất cả đều nhận với tấm lòng hoan hỷ bình đẳng như nhau chỉ lấy mục đích đem đạo vào đời làm lợi lạc cho mọi người và sống tuân theo quy luật chung của xã hội và tùy phương tiện để giúp ích Pháp thí cho những sự bất hòa đem an vui đến xoa dịu nỗi đau bất hạnh do nghiệp của chúng sanh đã gây ra như bệnh viện, đề lao…

“Giáo lý Khất Sĩ phải là tiếng chuông cảnh tỉnh ngân nga vang dội gọi thức quần sanh kêu khuyên người trí, tiếp độ kẻ hiền. Do đó mà cuộc đi du hành, sau khi giác ngộ sẽ lan dần ra các xứ, ban đầu đi quanh xứ Việt miền Nam, kế đó lần ra Trung Bắc cùng khắp cõi Đông Dương, nếu con đường thuận tiện và giáo hội sẽ đi với số đông y như Phật tăng ngày xưa đi hành đạo khắp xứ ngoài nữa”. [374 – 13]

KẾT LUẬN:

Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam là Đạo Phật của dân tộc Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam. Đặc trưng của người Việt Nam về Đạo Phật là mái chùa:

“Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của Tổ tông”.

Mái chùa trở nên mái ấm che chở cho hồn thiêng sông núi, sân đình trở thành nơi hội hè dưới trăng sau mỗi vụ mùa, Đạo Phật gắn bó thân thiết với đời sống dân tộc với cỏ cây núi rừng, những di tích lịch sử nói lên niềm kiêu hãnh của một dân tộc nhỏ bé mà không thiếu những công trình những kiến trúc lăng tẩm, đền đài đồ sộ, những trang trí rồng bay sông núi tạo nên thế đứng vững chắc cho một dân tộc trước sự dòm ngó của người ngoại bang.

Nói đến Việt Nam là nói đến trang sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc từ thời dựng nước và giữ nước, bao anh hùng để lại cho đất nước những gương hy sinh anh dũng trực tiếp và gián tiếp dành đất nước lại từ trong tay của kẻ thù xâm lược, chúng tìm mọi cách để chiếm lấy đất nước nhỏ bé mà giàu tài nguyên thiên nhiên khoáng sản, giàu lòng kiên cường bất khuất.

Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với sự kiện lịch sử ,văn hóa, tôn giáo…thời gian hội nhập và phát triển của ĐPKSVN là quá trình từng bước góp phần cùng với đất nước đưa quê hương Việt Nam dần đi vào ổn định và phát triển mọi phương diện, khẳng định vai trò hệ phái trong lòng xã hội, trong lòng của mọi tín đồ Phật giáo.

Đánh giá cao vai trò của niềm tin là yếu tố cần và đủ để hội tụ sức mạnh của tâm hồn. Cuộc đời tầm đạo của Tổ Sư, hình ảnh rất sống động, bởi không chỉ khoanh gọn ở vùng miền Tây mà lan rộng đến miền Trung miền Đông, không chỉ là một thanh niên đi tìm cho mình lý tưởng sống nữa mà là một vị Bồ Tát hiện thân nối tiếp con đường Chánh Pháp của đạo Phật Thích Ca. Sự nghiệp trồng người là sự nghiệp của trăm năm, ngàn năm của hàng bao thế hệ cho nên ĐPKSVN từ hình thức kiến trúc thờ phượng đến nội dung tu tập và phương pháp hành trì đều thuần một hệ thống giáo dục, xây dựng con người, xây dựng xã hội, đưa con người đến hoàn thiện xa rời khổ đau đạt được hạnh phúc.

Học hiểu và tu là mục tiêu là sự nghiệp của người xuất gia, học bằng cả trái tim bằng trí tuệ giác ngộ của mình, có học mới hiểu khi hiểu rồi mới đi đến Bảo sở một cách rốt ráo an vui. Pháp bảo lưu truyền đem sự khám phá vũ trụ quan, nhân sinh quan, sự vận hành của ngũ uẩn, lục căn, 12 nhân duyên, xác định có và không, phạm trù sanh và tử, luận giảng đời sống đạo đức, chỉ rõ nhân quả 3 đời, phân ranh tội phước, hồi đầu hướng thiện đó là con đường sám hối, cao hơn thế nữa là tư tưởng đại thừa khẳng định Phật tánh hằng có trong mỗi con người, đem lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống con người từ trong mỗi đạo giáo không còn phân chia tông phái, dân tộc Việt, Phật giáo Việt, một thành tựu mang ý nghĩa Tôn giáo, Phật giáo Khất Sĩ hiển nhiên đứng vững trong lòng nước Việt bằng hạnh nguyện tự độ độ tha.

Giữ gìn và nối truyền là một sứ mạng thiêng liêng khó vẹn toàn trong bối cảnh xã hội đang cần nhiều thời gian, sức lực và trí lực để phát triển đất nước, vì thế cho nên ổn định tinh thần và đời sống cho nhân dân không thể không có tiếng nói và việc làm của Tôn giáo. Trong lúc này hơn bao giờ hết, phương châm Đạo Pháp - Dân Tộc - Chủ Nghĩa Xã Hội của Đạo Phật, một phương châm hết sức lớn lao có ý nghĩa quan trọng cho một dân tộc hiền hòa, ưa chuộng hòa bình như nước Việt Nam này, nên dù có nhiều phương pháp để gạt ra tiêu diệt Phật giáo trong lòng dân tộc nhưng càng làm cho nó có một thế đứng vững vàng hơn, bởi Đạo Phật là đạo Chánh Pháp, đạo rất thực tiễn, mang tính khoa học rất cao, trải qua 2549 năm mà sức lan tỏa chưa bao giờ dừng nghỉ.

 

SÁCH THAM KHẢO:

1. Trần Gia Anh – Con Số Với Ấn Tượng Dân Gian – NXB Hải Phòng, xb năm 1999.

2. HT. Thích Minh Châu – Kinh Tương Ưng I – NXB VNCPH xb năm 1982.

3. HT. Thích Minh Châu – Kinh Pháp Cú – NXB SÀI GÒN xb năm 1984.

4. Hạnh Cơ – Những Pháp Số Căn Bản – Làng Cây Phong xb năm 1996.

5. TN. Liên Chương – Sinh Hoạt PGVN Trong Ba Hệ Phái – luận văn TN HVPG Huế.

6. Giáo sư Minh Chi – Nhân Minh Luận – tài liệu giảng dạy HVPGVN. TP.HCM.

7. Nguyễn Du – Truyện Kiều – NXB THANH NIÊNXB năm 1999.

8. Chu Xuân Diên – Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam – tài liệu giảng dạy trường ĐH KHXH & NV.

9. Ni trưởng Huỳnh Liên – Lời Nói Đầu – Kinh Tam Bảo – NXB TÔN GIÁO xb năm 2000.

10. Trần Hồng Liên – Phật giáo Nam Bộ …NXB TP.HCM xb năm 1996.

11. Thích nữ Liên Nguyên – Đạo Pháp Và Dân Tộc …luận văn TN khóa IV HVPGVN TP.HCM.

12. Hàn Ôn – Minh Đăng Quang Pháp Giáo – NXB Long giang xb năm 2000.

13. Tổ Sư Minh Đăng Quang – Chơn Lý – NXB TP.HCM tái bản năm 1998.

14. Tổ Sư Minh Đăng Quang – Luật Nghi Khất Sĩ – NXB sài gòn xb năm 1965.

15. Thích Hoàn Quan – Kinh Tứ Thập Nhị Chương – NXB Tôn giáo xb năm 1989.

16. Thích Phước Sơn – Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu – tài liệu giảng dạy HVPGVN xb năm 1996.

17. Thích Minh Thông – Theo Dấu Chân Xưa – NXB TÔN GIÁO xb năm 2003.

18. Thích Giác Toàn - Ánh Minh Quang – NXB TP.HCM xb năm 1999.

19. HT. Trí Tịnh – Kinh Đại Bát Niết Bàn – NXB THPG ấn hành xb năm 1982

20. Thích Giác Trí – Sự Hình Thành Và Phát Triển … - luận văn TN khóa IV năm 2000.

21. Nguyễn Khắc Thuần – Đại Cương Lịch Sử Văn Hóa Việt Nam – NXB TP.HCM xb năm 1998.

    Chia sẻ với thân hữu:
     
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 (1 Vote)

Các bài viết liên quan

Về trang trước     Về đầu trang      In bài      Gửi Email