Đạo Phật Khất Sĩ

Panner Web HPKS  002a 980x165

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Sự hình thành một cộng đồng đa dân tộc và quá trình du nhập tôn giáo tại miền Nam Việt Nam

Sự hình thành một cộng đồng đa dân tộc và quá trình du nhập tôn giáo tại miền Nam Việt Nam - 3.4 out of 5 based on 5 votes
Sự hình thành một cộng đồng đa dân tộc và quá trình du nhập tôn giáo tại miền Nam Việt Nam - 3.4 out of 5 based on 5 votes

Lời giới thiệu: Bài viết dưới đây được người dịch phát hiện trong tập Kỷ yếu của cuộc Hội thảo quốc tế lần thứ 2 của Hiệp hội Nghiên cứu Á – Phi (Consortium for Asian and African Studies – CAAS) được tổ chức tại Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Phương (National des Langues et Civilisations Orientales – INALCO) vào ngày 25 – 26 tháng 11 năm 2010, tại thủ đô Paris (Pháp) [1]. Hiệp hội này bao gồm 6 tổ chức [2] nghiên cứu và giáo dục hàng đầu thế giới nghiên cứu về các lĩnh vực thuộc châu Á và châu Phi. Được biết, sáu tổ chức thành viên này sẽ luân phiên nhau đăng cai tổ chức hội nghị thường niên.

Kỳ hội thảo lần thứ 2 của CAAS được tổ chức với chủ đề “Di cư, biến động xã hội và vấn đề toàn cầu hóa” với sự góp mặt của 42 nhà nghiên cứu. Riêng tác giả của bài viết được người dịch chuyển ngữ bên dưới là Hironori Tanaka với đề tài nghiên cứu là “The Formation of a Multi-Ethnic Society and Religious Emigration in South Vietnam” nghĩa là “Sự hình thành của một cộng đồng đa dân tộc và quá trình du nhập tôn giáo tại miền Nam Việt Nam”. Tác giả là một trong 2 nghiên cứu sinh trẻ ưu tú thuộc chương trình đào tạo quốc tế (JSPS International Training Program) của Đại học Tokyo Nghiên cứu Nước ngoài, Nhật Bản.

Thật bất ngờ khi đọc vào tiêu đề cũng như tựa đề các tiểu mục của bài nghiên cứu. Bởi lẽ, Phật giáo Khất Sĩ là một Hệ phái Phật giáo chỉ có tại Việt Nam và chưa có ảnh hưởng nhiều trong cộng đồng Phật giáo quốc tế nhưng đã thu hút được sự quan tâm và là đề tài nghiên cứu tham dự một hội thảo quốc tế. Đi vào nội dung bài viết, người dịch nghĩ rằng về phương diện nghiên cứu và giá trị đóng góp khoa học của nó là rất cao. Tác giả đã chọn cho mình một hướng nghiên cứu mới. Không phải bằng cách tổng hợp tư liệu lịch sử hay số liệu mà thông qua việc nghiên cứu bối cảnh xã hội, địa lý để có một cách nhìn mới hơn về hệ phái Phật giáo chỉ có tại Việt Nam. Đó là nhận định từ phương diện nghiên cứu – học thuật. Còn ở vị trí của một người học trò Khất Sĩ, được tắm mình trong nguồn Pháp lý của Tổ Thầy, bài nghiên cứu dưới đây đáng là điều để người Khất Sĩ ngày nay suy nghĩ. Một số sai sót về sử liệu, vài chệch choạc trong nhận định, hay đôi chỗ kết luận khá hấp tấp của tác giả có nguyên nhân từ đâu? Vẫn biết khả năng chuyển ngữ của người dịch vẫn chưa tốt, nhưng với mong ước độc giả hữu tâm sẽ có phút nghiền gẫm, tư duy sau khi đọc xong bài nghiên cứu này, người dịch mạnh dạn chuyển ngữ và giới thiệu đến quý độc giả.

1. Giới thiệu

Năm 1944, một tông phái Phật giáo mới với tên gọi “Khất Sĩ” được ra đời tại đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Bên cạnh 2 tông phái truyền thống là Nam tông và Bắc tông, tông phái mới xuất hiện này đã trở thành một tông phái Phật giáo tiêu biểu, chỉ có ở Việt Nam. Nhưng cho đến nay, chỉ có một số ít nhà nghiên cứu tìm hiểu một cách đầy đủ, chi tiết về tông phái này. Những nhà nghiên cứu nào ghi nhận sự có mặt của Phật giáo Khất Sĩ cũng chỉ mô tả một cách vắn tắt về nó. Dù nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận Khất Sĩ là một tông phái Phật giáo mới, một tông phái “kết hợp” cả hai nguồn giáo lý truyền thống nhưng cũng có một bộ phận các học giả tiếp tục nghiên cứu từ “kết hợp” để khám phá xem nó còn chuyên chở ý nghĩa gì khác mà vị Tổ sư sáng lập ra Phật giáo Khất Sĩ lại quyết định cũng như có thể sáng lập một tông phái Phật mới.

Thầy Thích Hạnh Thành đã mô tả Phật giáo Khất Sĩ một cách chi tiết, có hệ thống bằng cách tổng hợp sử liệu, phân tích những nét đặc thù và giới thiệu về các Giáo đoàn Khất Sĩ. Hàn Ôn giới thiệu tỉ mỉ tiểu sử của vị Tổ sư sáng lập. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ ai suy nghĩ về bối cảnh lịch sử xã hội cũng như những phong trào vận động tôn giáo diễn ra vào thời điểm Phật giáo Khất Sĩ ra đời.

Bài viết này sẽ cố gắng giải đáp một câu hỏi duy nhất, đó là vì sao Phật giáo Khất Sĩ lại được hình thành tại đồng bằng sông Cửu Long? Để làm rõ câu hỏi ngắn gọn nhưng hóc búa này, người viết sẽ tập trung nghiên cứu về sự đa dạng các dân tộc cũng như những biến động xã hội tại vùng đồng bằng sông Mê-kông [3] vào thời điểm bị đặt dưới ách thống trị thực dân Pháp. Đặc biệt, trong phần tìm hiểu về những biến động xã hội tại đồng bằng sông Cửu Long, người viết sẽ bàn về vị Tổ sư sáng lập như là “một nhà tiếp biến tôn giáo” và quá trình tôn giáo mới được hình thành này, thích nghi với những điều kiện xã hội thời bấy giờ. Nói cách khác, hợp lý hơn là sự sáp nhập về mặt địa lý cũng như các khu vực dân cư là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự xuất hiện của tông phái mới này. Ngoài ra, người viết không quan tâm với những câu hỏi về sự biến đổi kinh tế xã hội và mưu đồ thống trị của chế độ thực dân Pháp mặc dù đó cũng là những điều quan trọng, đáng lưu tâm.

2. Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam

Phật giáo Khất Sĩ được Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng vào năm 1944, với chí nguyện “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp” làm tông chỉ tu học và hành đạo. Tông phái Phật giáo mới này được xem như là sự kết hợp tinh hoa của hai truyền thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền. Theo tài liệu năm 2006 của Ủy ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, Phật giáo Khất Sĩ có 361 ngôi tịnh xá trên cả nước, và 2359 Tăng Ni (kể cả Sa-di). Để trở thành một vị tu sĩ thực thụ (Tỳ-kheo) thì người xuất gia phải thọ trì 250 giới đối với chư Tăng và 348 đối với chư Ni. Hiện nay, nhiều Tăng Ni Khất Sĩ đang du học tại các quốc gia như: Myanmar, Campuchia, Ấn Độ, Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Đức Tổ sư Minh Đăng Quang và chư vị đệ tử

Tăng Ni Khất Sĩ đặt niềm tin duy nhất vào đức Phật Thích-ca Mâu-ni và đọc tụng kinh điển bằng tiếng Việt. Họ cạo tóc, ăn chay và đắp y vàng. Tuy nhiên, không giống với Phật giáo Bắc truyền, họ khất thực và chủ trương sống đời sống du phương giống thuở Phật còn tại thế, tương tự như truyền thống Phật giáo Nam truyền. Thiền định và khất thực là những pháp hành quan trọng đối với Tăng Ni theo truyền thống Khất Sĩ. Họ khất thực vào mỗi buổi sáng và hành thiền tối thiểu 3 thời mỗi ngày (mỗi thời ít nhất 1 giờ đồng hồ). Tuy nhiên, nhiều năm trở lại đây, tại thành phố Hồ Chí Minh, hiện tượng “sư giả” đắp y mang bát khất thực để trục lợi, mưu sinh ngày càng nhiều nên chư Tăng Ni Phật giáo Khất Sĩ và Phật giáo Nam tông không được phép duy trì hạnh khất thực mỗi ngày. Tại các thành phố, đô thị, tứ sự của chư Tăng Ni như thực phẩm, thuốc men, y phục và cả tiền bạc đều nhờ vào sự hỷ cúng của các Phật tử.

Các ngôi tịnh xá Khất Sĩ có mặt khắp các tỉnh Nam – Trung Bộ Việt Nam nhưng ở miền Bắc thì chưa có. Lý do hiển nhiên là vì ở tại miền Bắc Phật giáo Bắc tông đã quá phổ biến.[4] Nhìn chung, một ngôi tự viện tại Việt Nam được gọi là “chùa” nhưng ngôi tự viện của Phật giáo Khất Sĩ được gọi là “tịnh xá” có nghĩa là trú xứ thanh tịnh. Phật giáo Khất Sĩ được công nhận chính thức là một hệ phái Phật giáo và là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (được thành lập năm 1981).

3. Đa dạng dân tộc, xã hội tại đồng bằng sông Mê-kông

Trước khi trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất của người Khmer. Họ đã từng sinh sống rất lâu tại vùng đất này trước khi xây dựng kinh đô Angkor. Tuy nhiên, lãnh thổ của họ dần dần bị thu hẹp bởi sự mở rộng biên giới của người Trung Quốc và Việt Nam. Vào thế kỷ XVII, người Việt đã kiểm soát vùng đất Prey Nokor[5], vốn là lãnh thổ của người Khmer, làm cứ điểm đầu tiên cho hành trình Nam tiến. Từ đây, quá trình khẩn hoang của người Việt tiếp tục được diễn ra trong vòng gần một thế kỷ. Ngoài ra, trong số những người đi khẩn hoang này còn có hậu duệ của triều đại nhà Minh (Trung Quốc). Như vậy, cộng đồng người Việt đã sinh sống và phát triển tại vùng đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Sau những thay đổi về lãnh địa, tại phía Nam đồng bằng sông Cửu Long, một cộng đồng nhỏ người dân Khmer còn sót lại sau những cuộc di cư vẫn tiếp tục sinh sống nơi đây cùng với nhiều dân tộc khác. Tuy nhiên, những ngôi làng của họ vẫn chưa được định hình rõ ràng cũng như chưa hề có bất kỳ một hình thức tổ chức hành chính nào. Do đó, có thể rút ra kết luận rằng hình thái xã hội tại vùng đất được hình thành dựa trên sự đa dạng các dân tộc thông qua các cuộc di dân của nhiều dân tộc khác nhau. Dưới thời cai trị của thực dân Pháp, những dân tộc này tiếp tục được phát triển về số lượng cũng như địa bàn sinh sống.

Sự phát triển của đồng bằng sông Mê-kông bắt đầu rõ nét hơn dưới thời cai trị của thực dân Pháp. Ban đầu, tại vùng đầm lầy phía Tây của đồng bằng này vì không thích hợp để người dân sinh sống nên được sử dụng để trồng lúa nước. Tuy nhiên, sự phát triển ngày càng mạnh vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dẫn đến lượng hàng hóa xuất khẩu ngày càng tăng. Từ cuối thể kỷ XIX, những chính sách thực dân tại Đông Dương nhắm đến việc sáp nhập Đông Dương vào nền kinh tế của Pháp. Và Đông Dương lúc này đã đóng một vai trò không nhỏ trong việc đảm bảo và mở rộng thị trường cho các sản phẩm của Pháp.

Theo thời gian, khi mô hình thuộc địa đã được xây dựng vững mạnh, Pháp mở rộng ranh giới Đông Dương bằng cách xâm lược các quốc gia quanh vùng. Bằng vũ lực cùng âm mưu cụ thể hóa chính xác thực dân đã làm hệ thống kinh tế, xã hội của các quốc gia này thay đổi. Kết quả là hình thức xã hội không còn giống như xưa, những quốc gia này được sáp nhập lại thành một thuộc địa duy nhất. Người dân tại các xứ thuộc địa buộc phải chấp nhận một sự thay đổi lớn. Một trong những đổi thay đó là sự xuất hiện một cộng đồng xã hội với đa dạng các dân tộc.

Hàng loạt các chính sách thuộc địa đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như chuyển đổi hệ thống đất đai, nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải thiện giáo dục và vệ sinh môi trường. Mặc dù cải cách ruộng đất ảnh hưởng đến người nghèo, người có đời sống khó khăn nhưng số còn lại hưởng lợi rất nhiều từ những cải cách này, điển hình như nâng cấp cơ sở hạ tầng và cải thiện giáo dục và vệ sinh môi trường. Trong số đó, đặc biệt là chính sách cơ sở hạ tầng của người Pháp đã thúc đẩy sự lưu thông cũng như tính đa dân tộc ngày càng cụ thể tại Đông Dương.

(1)  Giao thông đường bộ[6]

Vào thời Pháp thuộc, vùng đất đồng bằng sông Mê-kông trước đây chưa có dấu hiệu đổi mới đã được ưu tiên phát triển, do đó các công trình đường sắt, đường bộ, đường thủy được tiến hành, làm cho việc lưu thông, đi lại dễ dàng và thuận tiện hơn, tạo điều kiện cho thương mại, buôn bán hàng hóa phát triển hơn.

  • Đường sắt

Hệ thống đường sắt tại Đông Dương có chiều dài tổng cộng là 3370km, bao gồm cả Bắc kỳ, Nam kỳ, Campuchia và Vân Nam (Trung Quốc). Đường sắt được sử dụng chủ yếu cho giao thông vận tải giữa các quốc gia. Tuy nhiên, tại Đông Dương, sự phát triển về đường sắt vẫn còn hạn chế so với sự phát triển về đường bộ và đường thủy.

  • Đường bộ

Vào năm 1939, tổng cộng chiều dài các tuyến đường tại các quốc gia và trong khu vực Đông Dương là 35.890km. Quốc lộ 1 – con đường dành cho xe cơ giới với chiều dài 26.000 km nối liền 4 thành phố lớn là Hà Nội, Huế, Sài Gòn, và Phnom Penh, trở thành trục giao thông chính, quan trọng nhất khu vực. Bằng con đường huyết mạch này, hệ thống giao thông được xây dựng trên khắp cả khu vực như những tĩnh mạch nối liền cùng động mạch.

Với sự phát triển về giao thông đường bộ cũng đánh dấu cho sự phát triển cơ sở hạ tầng như xây dựng hệ thống cầu đường. Trong khi đường sắt hạn chế trong những thành phố hay thị tứ chính tại Đông Dương thì xe ô-tô được dùng làm phương tiện giao thông chính yếu để đi đến các miền quê xa xôi. Xe buýt trở thành phương tiện vận chuyển phổ biến đối với giới bình dân.

(2)  Giao thông đường thủy[7]

  • Giao thông đường biển

Phần lớn các thành phố nằm trên bờ biển dài khoảng 2500km của Đông Dương giáp với biển Trung Quốc. Mặt dù sở hữu bờ biển tại Đông Dương bằng phẳng, nhưng bị xen kẽ bởi những vách đá thẳng đứng, chỉ có vài vùng đồng bằng hạ lưu các con sông lớn là tương đối rộng rãi. Do đó, ngoài cảng Hải Phòng và Sài Gòn đáp ứng được đầy đủ chỉ tiêu của các tuyến giao thông đường biển quan trọng, các hải cảng khác ở Việt Nam không có mặt trong chiến lược phát triển của người Pháp tại Đông Dương. Tuy nhiên, nhờ vào sự phát triển giao thông vận tải đường biển mà số lượng những người nhập cư vào Đông Dương từ Trung Quốc ngày càng tăng.

  • Giao thông đường sông

Hai con sông tại Đông Dương được người Pháp đầu tư phát triển giao thông vận tải là sông Hồng ở Bắc kỳ và hạ nguồn sông Mê-kông tại Nam kỳ. Sông Mê-kông là con đường thủy duy nhất tại Đông Dương nối liền Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan. Hồ Tonle Sap tại Campuchia giữ nhiệm vụ điều chỉnh lượng nước của cả dòng sông, tại hồ này người ta có thể chèo ngược dòng để đến thủ đô Phnom Penh. Hơn thế nữa, tại Cochin China[8] sông Mê-kông chia thành nhiều nhánh, tạo thành một vùng đồng bằng rộng lớn giữa 2 con sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Vùng đất này đóng một vai trò quan trọng đối với giao thông đường thủy giữa Nam kỳ và Campuchia.

Cảng Sài Gòn tại đồng bằng này giữ vai trò quan trọng nhờ vào sự kết nối của nó với những vùng lân cận, là địa điểm được chọn làm đầu não của chính quyền thực dân, là trung tâm công nghiệp, thương mại đồng thời là hải cảng quan trọng phục vụ cho vận chuyển, lưu thông hàng hóa ở phía Nam bán đảo Đông Dương.

Người dân Nam Kỳ sử dụng kênh, rạch cùng các công trình thủy lợi được người Pháp xây dựng làm hệ thống giao thông giữa các vùng khác nhau và giữa hầu hết các tỉnh trong vùng.

Bằng cách cải thiện hệ thống giao thông, nên sự đi lại, di chuyển của người dân tại các vùng khác nhau tại Đông Dương cũng trở nên dễ dàng hơn. Hơn nữa, dân số (kể cả bản địa và nhập cư) ngày càng tăng là do nhiều đồn điền được xây dựng tại vùng đất này. Vì vậy, dân cư ngày càng tập trung vào những thành phố bên bờ sông Mê-kông, và những xóm làng trù mật của nhiều dân tộc khác nhau cũng hình thành ngày càng nhiều dọc 2 bờ sông. Vậy là vùng đất Nam kỳ chuyển mình, bước vào giai đoạn phát triển thịnh vượng nhờ vào quá trình trao đổi, buôn bán thuận lợi của người dân nơi đây với các vùng đất xung quanh.

Trong bối cảnh xã hội trên, Phật giáo Khất Sĩ đã hình thành và được sự đón nhận, hưởng ứng bởi người dân nơi đây. Điều này đóng một vai trò quan trọng trong việc lý giải về cuộc đời cũng như hành trạng của Tổ sư Minh Đăng Quang.

4. Nhà du nhập tôn giáo, Minh Đăng Quang

Minh Đăng Quang, Tổ sư khai sáng của Phật giáo Khất Sĩ tên thật là Nguyễn Thành Đạt, sinh vào năm 1923 trong một gia đình nông dân (con út trong gia đình có 5 chị em) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long[9]. Ở tuổi 23, Ngài sáng lập tông phái Phật giáo Khất Sĩ và vắng bóng ở tuổi 32 (năm 1954). Về sự kiện vắng bóng của Ngài được thuật lại rằng: Ngài đột nhiên mất tích rồi từ đó về sau không ai nghe được tin tức gì của Ngài nữa. Tuy nhiên, cũng có người đồn đại rằng Ngài bị ám sát bởi người của một tông phái Phật giáo đối nghịch. Bởi họ lo sợ rằng sự phát triển của Phật giáo Khất Sĩ sẽ đe dọa đến sự lớn mạnh tông phái họ tại vùng đồng bằng này.

Tổ sư Minh Đăng Quang - Vị khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam

Mẹ Tổ sư Minh Đăng Quang là bà Phạm Thị Nhàn. Bà bệnh và qua đời sau khi sanh Ngài nên Ngài được người mẹ kế là bà Hà Thị Song nuôi dưỡng. Từ nhỏ, Ngài đã cảm mến đạo Phật và có ước nguyện xuất gia tầm đạo. Lúc đầu, song thân của Ngài từ chối nhưng cuối cùng Ngài cũng dũng mãnh ra đi mặc cho đấng sinh thành nhiều phen phản đối. Năm 1938, Ngài đến Campuchia và học Phật Pháp với một vị thầy Khmer gốc Việt. Với sự kiện này, nhiều người đã đồn rằng Minh Đăng Quang cũng là một người Khmer gốc Việt.

Trong khoảng thời gian 4 năm tại Campuchia, Ngài sống đời sống của một người học trò và học tập kinh điển Phật giáo Nam truyền. Sau đó, Ngài quyết định xin phép thầy được về lại Việt Nam để truyền bá giáo lý mà Ngài học được. Tuy nhiên, khi trở về, theo sự sắp đặt của cha mẹ, Ngài đành kết hôn với cô Kim Huê, người Sài Gòn. Sau đó, Kim Huê qua đời. Vào năm 1944, Ngài xuất gia tại chùa Linh Bửu tại Mỹ Tho. Sau đó, Ngài tự đặt pháp danh là Minh Đăng Quang và sáng lập Đạo Phật Khất Sĩ. Tại đây, Ngài đã thiết lập nền tảng giáo lý và sau đó truyền bá tư tưởng khắp các tỉnh Nam Bộ cho đến năm 1954.

Bên trên là sơ lược tiểu sử của Tổ sư Minh Đăng Quang và sự hình thành của Phật giáo Khất Sĩ. Trong mục kế tiếp, chúng ta nên chú ý đến dữ kiện Ngài lớn lên trong một xã hội với nhiều dân tộc cùng sinh sống cũng như quá trình Ngài tìm hiểu Phật giáo Campuchia. Đây là 2 điểm quan trọng liên quan đến sự hình thành của Phật giáo Khất Sĩ. Việc hiểu rõ tại sao và bằng cách nào Ngài tìm đến Campuchia là việc rất cần thiết.

Với chính sách thuộc địa của Pháp, những năm đầu thế kỷ XX, giáo dục phổ thông Việt Nam đã được hiện đại hóa theo mô hình của Pháp. Ở cấp giáo dục tiểu học, học sinh được yêu cầu phải học tiếng Pháp và tiếng mẹ đẻ. Giáo dục tự viện tại Việt Nam chưa có hệ thống rõ ràng. Tại mỗi chùa, vị thầy dạy kinh điển và giới luật cho đệ tử bằng cách truyền khẩu và các vị đệ tử tự thực hành để đạt được những kinh nghiệm, sở đắc tâm linh. Mỗi tông phái Phật giáo có cách tu tập, hoằng pháp riêng cho nên mối quan hệ giữa các tông phái với nhau rất lỏng lẽo. Tuy nhiên, đối với những người dân thường, đền chùa là nơi tin ngưỡng tôn giáo, đồng thời cũng là nơi trẻ em có thể đến để học tập, hàm dưỡng nhân cách và người lớn có thể xây dựng các mối quan hệ tự nhiên.

Mặc khác, vào cuối thế kỷ XIX tại Campuchia, người Pháp cho phổ cập tiếng nói của mình nhằm góp phần làm cho chế độ thuộc địa được thâm nhập một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn. Giáo dục Campuchia bấy giờ chủ yếu là việc học tiếng mẹ đẻ, các phép toán đơn giản và văn chương được dạy bởi những nhà sư am tường giáo lý. Hình thức giáo dục này, hầu hết gắn liền với những ngôi chùa, một loại trường học Phật giáo tương tự như các trường tiểu học tư nhân thời kỳ Edo tại Nhật. Bên cạnh chương trình học tập, các nhà sư khuyên bảo, giảng dạy đạo đức thông qua những câu chuyện Phật giáo. Có hơn 2000 trường làng ở Campuchia[10]. Vào thế kỷ XX, theo pháp lệnh của nhà cầm quyền tại Đông Dương, những ngôi trường nhỏ này được xem như là trường tiểu học. Năm 1908, pháp lệnh quy định về việc cải cách trường học cũng như đào tạo nghiệp vụ giáo viên cho các nhà sư được ban hành. Từ đó về sau, chính sách này được áp dụng trong cả nước, tới năm 1911 đã có khoảng 3000 ngôi chùa trường học được mở ra[11].

Vào năm 1923, Pháp thành lập thư viện Hoàng gia và sau đó vào năm 1930, mở Phật học viện tại Phnom Penh. Họ dự định tách rời mối quan hệ giữa Phật giáo Campuchia và Phật giáo Thái bằng cách đưa Campuchia trở thành tâm điểm của Đông Dương[12]. Vậy là sau đó, Tăng sư và những ai có nguyện vọng tìm hiểu, nghiên cứu Phật pháp từ khắp các nơi tại Đông Dương quy tụ về Phnom Penh. Cũng giống như Ngài Hộ Tông, Tổ sư Minh Đăng Quang cũng trở thành một trong những người học tập và nghiên cứu Phật giáo Nam truyền tại Campuchia. Mặc dù hiện tại không còn nguồn tài liệu nào ghi lại chi tiết bằng cách nào Tổ sư Minh Đăng Quang đến Campuchia và đâu là nơi Tổ học tập, nghiên cứu Phật pháp, nhưng chúng ta vẫn có thể phỏng đoán được rằng sẽ không khó để đi từ Vĩnh Long sang Campuchia, bởi vì điều kiện đi lại tại Đông Dương lúc bấy giờ đã khá phát triển như đã đề cập ở trên. Hơn nữa, dưới chế độ thực dân Pháp, ở một mức độ nhất định, người dân Đông Dương được phép đi lại giữa các xứ[13]. Từ đây có thể nói rằng, sự giao lưu văn hóa Phật giáo giữa Việt Nam và Campuchia cũng được diễn ra như một dòng chảy.

Mặc khác, vào thời điểm này đời sống người dân không thuận lợi, dễ dàng; đặc biệt là người dân sống ở vùng ruộng đồng, thôn quê. Theo chính sách đất đai của chính phủ Pháp, gánh nặng lên vai người nông dân nghèo ngày một tăng; hay nói rõ hơn, đây là giai đoạn mà bọn phú hộ ngày càng giàu kẻ nông phu ngày càng nghèo mạt. Đời sống người nông dân nghèo trở nên bế tắt và họ dần tìm đến tín ngưỡng, nguyện cầu nơi tôn giáo. Quả thực, trong giai đoạn này nhiều giáo phái đã ra đời và thu hút được nhiều tín đồ tại đồng bằng sông Cửu Long[14]. Một trong số những giáo phái này ngày càng phát triển lớn mạnh và tạo được ảnh hưởng rộng khắp là Cao Đài và Hòa Hảo.

Trong bối cảnh này, Tổ sư Minh Đăng Quang đã khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ với ý định truyền bá Phật giáo Nam truyền Campuchia cùng với sự kết hợp những tư tưởng Phật giáo Bắc truyền. Đối với Ngài, tông phái mới do Ngài sáng lập là một Phật giáo cách tân dựa trên nền tảng giáo lý Phật giáo Nam truyền. Sau cùng, bối cảnh xã hội cũng như đời sống cá nhân của Tổ sư đã tác động đến sự ra đời của Phật giáo Khất Sĩ. Như vậy, quá trình sáp nhập các quốc gia Đông Dương đã dẫn đến những biến động sâu sắc cũng như cho ra đời nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng tại vùng đất này.

5. Kết luận

Trong bài viết này, chúng tôi đã nghiên cứu về sự hình thành của một cộng đồng (xã hội) nhiều dân tộc tại vùng đồng bằng sông Mê-kông và sự du nhập giao thoa tôn giáo dưới thời thực dân Pháp thống trị Đông Dương. Và một hình thức Phật giáo mới được hình thành, Phật giáo Khất Sĩ xuất hiện và phát triển trong lòng cộng đồng người dân nơi đây. Những dữ kiện tìm được đưa đến một số nhận xét quan trọng liên quan đến mối quan hệ xã hội giữa chế độ thực dân và tôn giáo. Đầu tiên, chế độ thực dân, bằng việc sáp nhập nhiều quốc gia lại với nhau thành một liên bang thuộc địa, sau đó biến vùng đất này thành một vùng đất tư bản chủ nghĩa, thay đổi lối sống cũng như các mối quan hệ xã hội tại khu vực này. Thứ đến, ở lĩnh vực tôn giáo, sự giao thoa tư tưởng đã tạo nên những giáo phái mới với nhiều hình thái tôn giáo đặc biệt ví dụ như: Cao Đài, Hòa Hảo và Phật giáo Khất Sĩ.

Còn đối với Phật giáo Khất Sĩ, Giáo hội Khất Sĩ ra đời dựa trên nền tảng tư tưởng mà đức Tổ sư Minh Đăng Quang có được qua quá trình du phương nghiên cứu Phật học tại vùng đất với nhiều dân tộc sinh sống cũng như nhiều hình thức hành trì, sinh hoạt Phật pháp tương ứng với phong tục, tập quán tín ngưỡng riêng của mỗi dân tộc[15]. Ngài đã hiểu rõ thời gian và hoàn cảnh bấy giờ nên giáo lý mà Ngài truyền bá được người Việt tiếp nhận. Nói cách khác, chính thời gian và hoàn cảnh đã tạo cơ hội cho tông phái của Ngài ra đời.

Với nguồn tư liệu hiếm hoi, mục đích của bài nghiên cứu là để tìm hiểu về một trong những Tăng sĩ Việt Nam từng đến Campuchia tham học thời bấy giờ. Chúng ta biết rằng những vị Tăng tương tự như thế trong giai đoạn này là không ít nhưng số lượng cụ thể là bao nhiêu vẫn chưa được thống kê. Và đáng lưu tâm nhất là bài nghiên cứu này tập trung khảo sát bối cảnh Phật giáo Khất Sĩ ra đời tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các cuộc trò chuyện, trao đổi với các chư Tăng Việt Nam cũng như Campuchia đã hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu nhanh chóng thành tựu. Những thông tin có được có thể sẽ mang nhiều ý nghĩa quan trọng cho việc tìm hiểu Phật giáo Khất Sĩ, bởi những thông tin này cho thấy rõ kết hợp giữa Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền hơn là thống kê số lượng Tăng sư.

Những nghiên cứu trong tương lai có thể khảo sát một số tư liệu được tìm thấy trong nghiên cứu này, một nghiên cứu sử dụng những dữ liệu chi tiết về quá trình di chuyển nơi cư trú của cộng đồng dân cư ở Đông Dương nói chung và Campuchia nói riêng.


[1] Người dịch đọc được bài viết này từ Kỷ yếu của “Hội thảo quốc tế của Hiệp hội Nghiên cứu Á-Phi lần thứ 2” dưới dạng PDF vào ngày 9/2/2014.

[2] Bao gồm: (1) Viện Nghiên cứu Quốc gia về Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Phương, Pháp (Institut National des Langues et Civilisations Orientales (INALCO), France); (2) Đại học Leiden, Hà Lan (Leiden University, the Netherlands); (3) Khoa Nghệ thuật và Khoa học Xã hội Đại học Quốc gia Singapore (Faculty of Arts and Social Sciences (FASS) of National University of Singapore (NUS), Singapore); (4) Trường Đông phương học và Phi Châu học, Đại học Luân Đôn, Vương quốc Anh (The School of Oriental and African Studies, London University (SOAS), UK.); (5) Trường Đại học Columbia, Hoa Kỳ (Columbia University, USA.(Joined in April, 2010). (6) Trường Đại học Tokyo Nghiên cứu về Nước ngoài, Nhật Bản (Tokyo University of Foreign Studies (TUFS), Japan).

[3] Trong nguyên tác, tác giả chỉ sử dụng “Mekong Delta”. Trong quá trình chuyển ngữ, người dịch dùng “đồng bằng sông Cửu Long” để ám chỉ khu vực đồng bằng sông Mê-kông ở tại lãnh thổ Việt Nam; còn “đồng bằng sông Mê-kông” để ám chỉ khu vực đồng bằng rộng lớn tại Đông Dương được hình thành 2 bên bờ con sông này.

Đồng bằng sông Mê-kông (phần màu sáng trong bản đồ)

[4] Cũng cần lưu ý, tác giả đưa ra lý do này chưa đúng (người dịch).

[5] Thành phố Hồ Chí Minh và một phần đất thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Người dịch).

[6] Taiheiyou Kyokai, Futsuryo Indochina Seiji Keizai [French Indochina: Politics and Economy], Tokyo, 1940, tr. 280-304.

[7] Taiheiyou Kyokai, Futsuryo Indochina Seiji Keizai [French Indochina: Politics and Economy], Tokyo, 1940, tr. 305-314.

[8] Tên gọi của Nam kỳ (người dịch).

[9] Ngày nay là ấp 6, xã Hậu Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (người dịch).

[10] Theo Bell, Henry Hesketh. Ran-Futsuin Shokuminshisei [The Politics in Dutch and French Colony], 1942, tr. 26-29.

[11] Sasagawa, Hideo. Angkor no Kindai: Shokuminchi Cambodia niokeru Bunka to Seiji [The Modern Times of Angkor: Politics and Economy in French Cambodia], 2006, tr. 113-114.

[12] Edwards, Penny. Cambodge: The Cultivation on a Nation, 1860-1945, Ph.D Dissertation, Monash University, 1999, tr. 311-313.

[13] Bao gồm sáu xứ: Nam Kỳ (Cochinchine) chiếm của Đại Nam năm 1862 (3 tỉnh miền Đông cùng với Côn Đảo) và (3 tỉnh miền Tây, đảo Phú Quốc và các đảo trong vịnh Thái Lan) năm 1867, Bắc Kỳ (Tonkin) (chiếm của Đại Nam năm 1883-1884 (phần lớn phía Đông) và vùng Tây Bắc năm 1885-1888), Trung Kỳ (Annam) (lấy từ Đại Nam năm 1883-1884), Lào (Laos) (vùng bảo hộ và vùng lấy từ Đại Nam vào năm 1888-1893, vùng lấy từ Thái Lan năm 1904), Campuchia (Cambodge) (vùng bảo hộ từ năm 1863-1867 và vùng lấy lại từ Thái Lan năm 1904-1907), và Quảng Châu Loan (Kouang-Tchéou-Wan) (lấy làm nhượng địa từ Trung Quốc năm 1898) (tham khảo từ wikipidia http://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_bang_%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng).

[14] Nguyễn Hồng Dương, Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam, Nxb: Khoa học xã hội, 2004, tr. 366-367.

[15] Theo tác giả, có ba hình thức sinh hoạt Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc nơi đây, đó là Phật giáo người Việt, Phật giáo người Khmer và Phật giáo người Hoa (Người dịch).

    Chia sẻ với thân hữu:
     
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 (5 Votes)

Các bài viết liên quan

Về trang trước     Về đầu trang      In bài      Gửi Email