Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang PL.2570: "Quán chiếu tự tâm, đoạn trừ các triền phược" qua góc nhìn của ĐĐ.Minh Sơn từ kinh "Các ách"

Trong không khí hòa hợp, thanh tịnh của mùa giải chế an cư, chiều 07/07/2026 (23/06/Bính Ngọ), tại hạ trường Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), chư hành giả trang nghiêm vân tập thính pháp do ĐĐ. Minh Sơn thuyết giảng. Tiếp nối mạch giáo lý từ Kinh Tăng Chi Bộ, Đại đức khai triển Kinh số 10 – Các ách, thuộc phẩm Bhandagama, Chương Bốn pháp, giúp đại chúng quán chiếu những trói buộc vi tế của nội tâm để nhận diện nguyên nhân khiến chúng sanh mãi trôi lăn trong sinh tử, đồng thời chỉ rõ con đường tháo gỡ các "ách" bằng tuệ giác và chánh niệm.

Mở đầu thời pháp, Đại đức giải thích ý nghĩa của từ "ách" (Yoga) bằng một hình ảnh gần gũi trong đời sống nhà nông: Chiếc ách bằng gỗ đặt trên vai con trâu, tuy chỉ là một vật nhỏ, nhưng lại tước đi toàn bộ sự tự do của nó, khiến con vật phải hoàn toàn phục tùng sự điều khiển của người chủ. Cũng vậy, trong đời sống tinh thần, "ách" tượng trưng cho những xiềng xích vô hình đang ràng buộc con người bằng tham ái, chấp thủ và vô minh. Chính những trói buộc ấy khiến chúng sanh đánh mất tự do nội tâm, bị cuốn theo vòng xoáy phiền não và luân hồi mà không tự biết. Từ đó, Đại đức dẫn lời Đức Phật trong bài kinh, chỉ rõ bốn loại ách đang chi phối đời sống của mỗi người, gồm: Dục ách, Hữu ách, Kiến ách và Vô minh ách. "Điều đáng lưu ý là những xiềng xích này không đến từ hoàn cảnh bên ngoài hay bất kỳ thế lực nào khác, mà đều được hình thành từ chính nội tâm mỗi người. Vì vậy, con đường giải thoát không nằm ở việc thay đổi ngoại cảnh mà bắt đầu từ sự chuyển hóa nhận thức và tâm thức của chính mình", Đại đức nhận định.

Dựa trên nền tảng giáo lý nguyên thủy, Đại đức nhắc lại lời Phật dạy về ba phương diện của mọi pháp hữu vi: vị ngọt (sự hấp dẫn, thỏa mãn tạm thời), sự nguy hại (mặt trái, sự biến hoại) và sự xuất ly (con đường giải thoát, vượt thoát). Đại đức giảng giải: "Người phàm vì vô minh nên chỉ nhìn thấy sức hấp dẫn của các pháp mà không thấy mặt trái và hậu quả của chúng. Ví như người thích ăn cay, dù biết ớt có thể gây hại, nhưng vẫn bị cảm giác khoái khẩu lôi cuốn. Người học Phật, ngược lại, phải tập nhìn toàn diện bản chất của mọi hiện tượng, không chỉ nhận ra sự hấp dẫn nhất thời mà còn thấy rõ tính vô thường, hệ lụy và con đường vượt thoát khỏi sự đắm nhiễm ấy. Ngay cả những hỷ lạc, hạnh phúc trong chốn thiền môn nếu bị hành giả bám chấp, thèm khát và xem đó là điểm dừng chân cuối cùng thì chính cái hạnh phúc ấy cũng biến thành một sợi dây trói buộc vi tế".

Trên cơ sở đó, Đại đức phân tích Dục ách – sự trói buộc đầu tiên mà Đức Phật đề cập trong bài kinh: "Và này các Tỷ-kheo, thế nào là dục ách? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục ách". Đại đức cho biết, dục không chỉ giới hạn ở dục vọng nam nữ mà bao trùm mọi sự đắm nhiễm đối với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Khi mắt say đắm hình sắc, tai mê âm thanh, ý thức không ngừng chạy theo những điều mình yêu thích, con người đã tự mang chiếc ách vào cổ. Qua đó, Đại đức nhắc nhở hàng hành giả trẻ cần cảnh giác với những biểu hiện rất vi tế của dục như tham được khen ngợi, tham thể hiện, tham nói nhiều, hay quá coi trọng danh dự và sĩ diện. "Trên bước đầu tu học, việc còn vụng về, còn phóng tâm, hay hôn trầm, là điều tự nhiên. Điều nguy hiểm không phải là những thiếu sót ấy, mà là tâm muốn che giấu khuyết điểm để tạo dựng hình ảnh một người tu hoàn hảo. Chính sự chấp trước ấy là biểu hiện tinh tế của dục ái và dục thủ", Đại đức chỉ rõ.

Tiếp theo, Đại đức triển khai Hữu ách (Bhavayoga) – sự trói buộc bởi khát vọng hiện hữu và nuôi lớn bản ngã. Đại đức phân tích, nếu "Dục ách" hướng con người chạy theo sự hưởng thụ thì "Hữu ách" lại khiến người ta luôn muốn khẳng định mình, mong được công nhận và tồn tại như một cái "ta" đặc biệt. "Đối với người xuất gia, Hữu ách thường biểu hiện rất kín đáo qua sự mong cầu danh vọng, địa vị hoặc sự kính trọng của người khác. Có người ngoài miệng nói thích sống ẩn dật, chỉ muốn làm một vị Sư quét lá nơi thiền môn, nhưng trong thâm tâm vẫn mong người khác biết đến và tán thán hình ảnh thanh cao ấy. Đó vẫn là một dạng chấp ngã rất vi tế", Đại đức nhấn mạnh.

Để cảnh tỉnh đại chúng, Đại đức trích dẫn lời dạy trong Quy Sơn Cảnh Sách: "Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long Thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu. Nhược bất như thử, lạm xí tăng luân, ngôn hạnh hoang sơ, hư triêm tín thí", khẳng định lý tưởng của người xuất gia là tiếp nối dòng Thánh, làm hưng thịnh Phật pháp và báo đáp bốn ân lớn. Theo Đại đức, một khi còn bị bản ngã chi phối, dù biểu hiện dưới hình thức tự cao, hay tự ti, người tu đều khó có thể hoàn thành chí nguyện giải thoát và phụng sự, làm tổn hại đạo tâm và bóp nghẹt năng lực giải thoát.

Sau khi phân tích những ràng buộc thuộc về dục và bản ngã, Đại đức tiếp tục làm rõ Kiến ách (Diṭṭhiyoga) – sự trói buộc bởi tà kiến và những quan điểm cố chấp. Đại đức chỉ rõ, khi chấp chặt vào cái thấy của bản thân, con người dễ sinh tâm hơn thua, bài bác và đánh mất khả năng học hỏi. Để minh họa, Đại đức nhắc lại câu chuyện nổi tiếng về những người mù sờ voi, mỗi người chỉ tiếp xúc với một bộ phận của con voi rồi khẳng định đó là toàn bộ sự thật, từ đó sinh tranh cãi không dứt. Cũng vậy, nếu người tu xem kiến giải của mình là chân lý tuyệt đối thì sẽ tự đóng lại cánh cửa tiếp nhận chân lý rộng lớn hơn. Theo Đại đức, phương thuốc hóa giải Kiến ách chính là thực hành lục hòa, đặc biệt là nguyên tắc "kiến hòa đồng giải", tức chia sẻ những hiểu biết đúng đắn, không giấu giếm, không tư kiến. "Trong đời sống Tăng đoàn, mỗi hành giả cần nuôi dưỡng tâm khiêm hạ, biết lắng nghe, biết chia sẻ và cùng nhau học hỏi trên nền tảng chánh pháp, thay vì cố bảo vệ quan điểm cá nhân", ĐĐ. Minh Sơn khuyến tấn.

Cuối cùng, Đại đức nhấn mạnh, Vô minh ách (Avijjāyoga) là gốc rễ sâu xa nhất của mọi trói buộc, đóng vai trò "thượng thủ" (lãnh đạo) dẫn dắt toàn bộ vòng xích luân hồi. Trong bài kinh này, Đức Phật định nghĩa Vô minh ách xuất phát từ việc không như thật quán tri về sáu xuất xứ (sáu căn tiếp xúc sáu trần). Khi sáu căn gặp sáu trần mà thiếu đi sự chánh niệm, tỉnh giác, hành giả sẽ lập tức khởi tâm phân biệt đẹp – xấu, vui – buồn, từ đó phát sanh ái, thủ, hữu, đẩy bánh xe thập nhị nhân duyên vận hành không có ngày dừng lại. Mượn hình ảnh người mù cầm chiếc đèn đã tắt giữa đêm tối, Đại đức ví vô minh như trạng thái tưởng mình đang có ánh sáng nhưng thực chất vẫn chìm trong bóng tối. Con người vì thế lầm vô thường là thường, vô ngã là có ngã và đau khổ là hạnh phúc, rồi suốt đời bám chấp vào những điều hư ảo do chính tâm mình tạo dựng.

Khép lại thời pháp thoại, ĐĐ. Minh Sơn đã chỉ ra con đường duy nhất để giải thoát khỏi bốn gông cùm này chính là tiến trình "Ly ách" bằng tuệ giác chân thật. "Khi hành giả thiết lập được chánh niệm, nhìn rõ tiến trình tập khởi và đoạn diệt của các dục, các hữu, các kiến và sáu xuất xứ, thì năng lực tham ái sẽ tự động tiêu tan, nhường chỗ cho ánh sáng của Minh và Tuệ tri hiển lộ", Đại đức khẳng định, đồng thời trang nghiêm phúng tụng bài kệ đúc kết kinh văn để làm hành trang tâm linh cho toàn thể hạ trường:

"Bị trói buộc cả hai
Dục ách và hữu ách,
Bị trói buộc kiến ách,
Với vô minh thượng thủ.
Chúng sanh bị luân chuyển,
Đi đến sanh và chết.

Những ai liễu tri dục,
Và toàn bộ hữu ách,
Nhổ vất bỏ kiến ách,
Và từ bỏ vô minh.
Ly hệ tất cả ách,
Họ vượt khỏi các ách
".

 

Một số hình ảnh được ghi nhận: