Ni giới GĐ.IV PGKS: Ý nghĩa "Sống chung tu học" qua chia sẻ của Thượng tọa Giác Hoàng tại khóa tu lần thứ 4

Với chủ đề "Sống chung tu học", TT. Giác Hoàng – Ủy viên HĐTS, Phó Viện trưởng VNCPHVN, Phó Trưởng ban Văn hóa TƯGH, Chánh Thư ký Ban Thường trực GPHP, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Giáo dục Tăng Ni GĐ.III PGKS, đã mang đến một buổi chia sẻ đầy tâm huyết đến chư hành giả Ni tại khóa "Sống chung tu học" lần thứ 4 của Ni giới GĐ.IV PGKS, sáng 07/05/2026 (21/03/Bính Ngọ).

Dẫu là một đề tài tưởng chừng giản dị, gần gũi và quen thuộc trong sinh hoạt thiền môn, nhưng qua sự dẫn giải sâu sắc của Thượng tọa, "sống chung tu học" hiện lên không chỉ là nếp sinh hoạt của Tăng đoàn, mà còn là một triết lý sống, một phương pháp tu và là nền tảng tồn tại của giáo pháp trong mọi thời đại.

Mở đầu thời pháp, Thượng tọa nhắc lại bối cảnh ra đời của Hệ phái PGKS, giúp chư hành giả Ni hiểu rõ hơn giá trị và ý nghĩa của tinh thần "sống chung tu học". Theo đó, Thượng tọa cho biết, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang xuất hiện vào giai đoạn Phật giáo suy vi cùng cực. Từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, Phật giáo Việt Nam nói riêng và nhiều nơi trên thế giới nói chung, dần mất đi sinh khí vốn có của Tăng đoàn. Đến giữa thế kỷ XX, sau khi giác ngộ và chứng đạo tại Mũi Nai (Hà Tiên cũ) vào năm 1946, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã khai sáng Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam với chí nguyện phục hưng hình ảnh Tăng đoàn thời Đức Phật còn tại thế.

Thượng tọa nhận định, chính từ sự thấy rõ vai trò và sứ mạng thiêng liêng của Tăng-già trong việc duy trì mạng mạch chánh pháp, Đức Tổ sư mới thành lập nên Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam. Bởi Tăng đoàn không chỉ là nơi nương tựa của người học đạo, mà còn là hạt nhân quan trọng giữ gìn ánh sáng Phật pháp giữa cuộc đời. Từ đó, Thượng tọa đi sâu phân tích cụm từ "sống chung tu học", một thuật ngữ thuần Việt được trích từ Chơn lý "Hòa bình" của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang: "Cái sống là đang sống chung / Cái biết là đang học chung / Cái linh là đang tu chung".

Theo Thượng tọa, chữ "Chơn lý" là cách phát âm đặc trưng của người Nam Bộ trong giai đoạn đầu và giữa thế kỷ XX. Theo âm Hán Việt chuẩn phải đọc là "Chân lý", nhưng ở vùng Nam Bộ, nhiều âm "â" được chuyển thành âm "ơ", nên "Chân lý" trở thành "Chơn lý". Đây không chỉ là đặc ngữ vùng miền mà còn phản ánh tiến trình phát triển ngôn ngữ Việt Nam thời bấy giờ. Giảng về cụm từ "cái sống", Thượng tọa cho rằng, đó chính là "sự sống". Chữ "đang" mang ý nghĩa của sự hiện diện trong hiện tại, của "cái đang là", còn chữ "chung" không chỉ là sống chung với nhau về mặt hình thức, mà còn hàm chứa ý nghĩa hòa đồng cùng pháp giới, sống tương quan mật thiết với muôn loài vạn vật. Người xuất gia, theo tinh thần Khất sĩ, là lấy vũ trụ làm nhà, lấy chúng sanh làm quyến thuộc, hòa mình trong sự sống chung của tất cả pháp giới.

Từ đó, Thượng tọa nhấn mạnh: "Cái sống là đang sống chung chính là lời nhắc nhở mỗi người phải ý thức sâu sắc về sự sống đang hiện hữu quanh mình. Chúng ta phải sống thật sự trong từng phút giây hiện tại bằng chánh niệm và tỉnh giác. Nếu sống mà tâm trí mãi rong ruổi theo quá khứ hoặc vọng tưởng về tương lai thì chưa thật sự là sống trong hiện tại". Liên hệ đến bài kinh Niệm xứ trong Kinh Trung Bộ, nơi Đức Phật dạy về sự nhận biết như thật đối với thân, thọ, tâm và pháp, Thượng tọa nhận định, chỉ khi nào hành giả biết rõ mình đang sống, đang thở, đang đi, đang biết, thì lúc ấy mới thật sự là "đang sống chung". Theo Thượng tọa, nhiều người tuy hiện hữu giữa cuộc đời nhưng lại sống trong mê mờ, đắm say theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; sống mà không nhận diện được thực tại đang diễn ra quanh mình. Đó là trạng thái "sống say chết mộng", chứ chưa phải là sự sống chân thật mà Đức Tổ sư muốn chỉ dạy.

Ở khía cạnh "Cái biết là đang học chung", Thượng tọa cho rằng "cái biết" chính là năng lực nhận thức đang hiện hữu trong mỗi người. "Khi chúng ta lắng nghe, quan sát, ghi nhận hay cảm nhận mọi hiện tượng xảy ra quanh mình, thì ngay lúc đó 'cái biết' đang vận hành. Học theo đó không chỉ là nghe pháp hay đọc kinh sách, mà còn là khả năng học hỏi từ tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong đời sống, như trong Chơn lý, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang dạy: 'Người Khất sĩ là học từ đất, nước, lửa, gió; cho đến cỏ, cây, thú, người, trời, Phật'. Thật vậy, tinh thần học của người Khất sĩ là tinh thần học không giới hạn. Người tu không chỉ học nơi Thầy Tổ, kinh điển, mà còn học từ thiên nhiên, từ cuộc sống, từ nghịch cảnh lẫn thuận duyên để phát triển trí tuệ và trưởng dưỡng nhận thức", Thượng tọa nhấn mạnh.

Đặc biệt, khi giảng về câu "Cái linh là đang tu chung", Thượng tọa đã liên hệ đến tác phẩm Phép lạ của sự tỉnh thức của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, để làm rõ ý nghĩa của "cái linh". Theo đó, "cái linh" không đơn thuần chỉ là thần thông hay phép lạ nhiệm mầu, mà chính là sự chuyển hóa nhiệm mầu nơi nội tâm con người. Thượng tọa cho rằng, sự chuyển hóa luôn bắt đầu từ nhận thức. Khi nhận thức được chuyển hóa đúng đắn thì hành vi mới có giá trị chân thật. Ngược lại, nếu chỉ gượng ép hành vi bên ngoài cho có vẻ trang nghiêm mà nội tâm không thay đổi, thì sự tu tập ấy chưa thật sự có chiều sâu. Vì vậy, trong Bát Chánh đạo, Đức Phật đặt "chánh kiến" lên hàng đầu, bởi khi có nhận thức đúng, hành giả mới có thể chuyển hóa từ điều xấu thành điều tốt, từ thô tháo thành vi tế, từ mê lầm thành giác ngộ.

Qua đó, Thượng tọa khẳng định, tinh thần "Sống chung - Học chung - Tu chung" chính là lời dạy cốt lõi của Đức Tổ sư, nhằm duy trì sự hòa hợp và thanh tịnh của Tăng đoàn. Muốn Phật pháp được trường tồn, Tăng-già phải biết nương tựa nhau, sống chung tu học với nhau trong tinh thần hòa hợp và đoàn kết. Theo Thượng tọa, đây chính là điều kiện tiên quyết giúp Phật giáo Khất sĩ tồn tại và phát triển từ buổi sơ khai cho đến hôm nay. Vì thế, các khóa tu của Hệ phái luôn đề cao tinh thần "Nên tập sống chung tu học" và "Phép Tăng chẳng lìa đoàn". "Người tu sĩ nếu rời xa đoàn thể thì rất dễ suy yếu đạo lực, giống như 'hổ ly sơn hổ bại'", Thượng tọa nhấn mạnh.

Dẫn chứng từ lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Thượng tọa cho biết, từ thời Đức Phật cho đến khoảng một trăm năm sau ngày Đức Phật nhập Niết-bàn, Tăng đoàn vẫn còn thống nhất, nhưng về sau, khi bắt đầu phân chia bộ phái, Phật giáo dần suy yếu. Theo các tài liệu lịch sử, Phật giáo từng phân chia thành 20 bộ phái khác nhau, sự chia rẽ ấy khiến sức mạnh đoàn kết của Tăng đoàn không còn nguyên vẹn. Không chỉ ở Ấn Độ, mà theo Thượng tọa, tại nhiều quốc gia Phật giáo Đại thừa như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay cả các nước Phật giáo Theravāda như Tích Lan, Miến Điện, Lào, Thái Lan, Campuchia… sự phân chia tông phái quá nhiều cũng là nguyên nhân khiến Phật giáo suy yếu vì thiếu một tiếng nói chung và một nền tảng chung rộng lớn.

Qua hình ảnh ví von sâu sắc, Thượng tọa cho rằng, người đứng dưới đáy giếng sẽ thấy bầu trời nhỏ hẹp như chiếc nia, còn người đứng trên đỉnh núi sẽ thấy bầu trời bao la vô tận. Cũng vậy, nếu con người chỉ đứng trong cái thấy hạn hẹp của riêng mình thì rất dễ sinh ra phân biệt và chia rẽ. Chỉ khi đứng trên nền tảng rộng lớn của tinh thần hòa hợp, chúng ta mới có thể thấy được chân giá trị của đạo pháp.

Nhắc lại lời dạy trong bài "Tông giáo" của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang: "Tông phái càng nhiều chừng nào thì Phật pháp càng suy vi chừng đó", TT. Giác Hoàng khẳng định, bản thân Đức Tổ sư cũng không chủ trương lập thêm một tông phái riêng biệt. Việc hình thành Đạo Phật Khất sĩ chỉ là phương tiện cần thiết để có tổ chức tu học và hành đạo. Cốt lõi mà Đức Tổ sư muốn hướng đến vẫn là tinh thần tự tu, tự học, tự hành trì nơi mỗi cá nhân. Người Khất sĩ phải tự học giới luật, tự hành thiện và tự chuyển hóa lấy chính mình.

Khép lại thời pháp, Thượng tọa đã gửi lời khuyến tấn đầy đạo tình đến Ni giới GĐ.IV PGKS, đồng thờii bày tỏ niềm hoan hỷ khi thấy Ni đoàn tuy được chia thành bốn phân đoàn, nhưng vẫn giữ được sự hòa hợp trong một tổ chức chung, mỗi năm cùng tổ chức khóa "Sống chung tu học" để tăng trưởng tình pháp lữ và củng cố tinh thần đoàn kết. Theo Thượng tọa: "Chỉ trong những trường hợp đặc biệt liên quan đến điều hành hay Phật sự riêng thì mới cần tổ chức khóa tu riêng biệt, còn nếu có thể cùng nhau tu học trong một đạo tràng chung thì đó là điều vô cùng quý báu và chính là biểu hiện của sự hưng thịnh trong giáo pháp mà Tổ Thầy đã để lại".

 

Một số hình ảnh được ghi nhận: