Ý nghĩa “Nối truyền Chánh pháp” - HT. Giác Minh

Ngày 30/9/2022 (nhằm ngày 05/9/ Nhâm Dần), khoá tu Giới Định Tuệ được chư Tôn đức Giáo đoàn III tổ chức tại Tịnh xá Ngọc Đà (TP. Đà Lạt, Lâm Đồng) đã đến ngày tu thứ 3. Thời pháp học buổi sáng, Ban Tổ chức khoá tu cung thỉnh Hoà thượng Giác Minh - Giáo phẩm Hệ phái, Tri sự phó kiêm Trưởng ban Nghi lễ, Phó ban Tăng sự GĐ III, Trụ Trì Tịnh xá Ngọc Đà, Trưởng ban Tổ chức khoá tu, quang lâm ban huấn từ đến với hội chúng.

Lời đầu tiên, Hoà thượng khuyến tấn đại chúng phải cố gắng tinh tấn tu tập trong những ngày tu ngắn ngủi này. Dù chỉ có được một ngày, vài ngày, một tuần tu tập cùng đại chúng cũng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho bản thân mỗi hành giả. Đề tài Hoà thượng dạy hôm nay là “Nối truyền Chánh pháp của Phật Tổ Thầy.”

Xã hội ngày nay với phương tiện vật chất đủ đầy, công nghệ thông tin hiện đại, con người có thể nhìn thấy thế giới bên ngoài chỉ với chiếc máy tính trước mặt. Thế nhưng, nghịch lý thay, con người ngày nay lại cô đơn và thất vọng hơn bao giờ hết! Họ luôn lo lắng, bất an và hoang mang trước những đổi thay quá nhanh của xã hội. Họ không đủ thời gian để tìm hiểu và thông cảm nhau. Họ bị thế giới vật chất bao phủ và đánh mất đi sự tự do vốn có. Giữa lúc con người bị quay cuồng trong mớ rối ren của ngũ dục, lục trần, lời dạy của đức Phật như tiếng chuông cảnh tỉnh giữa đêm đen mờ tối, như ánh đuốc soi đường cho những ai bị lạc mất phương hướng của đời mình.

Đạo Phật xuất hiện tại Ấn Độ do đức Thích-ca Mâu-ni sáng lập và hoằng truyền. Trong thời đức Phật tại thế, những đệ tử xuất gia của Ngài đều tu hành và chứng quả sau một thời gian tu tập. Có những vị chứng A-la-hán quả ngay khi xuống tóc. Phật giáo đã trải qua chiều dài lịch sử hơn 2500 năm và truyền qua nhiều nước khác nhau ít nhiều cũng đã có sự lai tạp.

Vào đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam xuất hiện một vị tu sĩ, Tổ sư Minh Đăng Quang, với chí nguyện “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”, ngài đã thắp sáng lên ngọn đèn Chơn lý. Với tôn chỉ “Nối truyền Chánh pháp của Như lai”, đức Tổ sư đã dựng lại hình ảnh của Phật Tăng xưa là trì bình khất thực, thuyết pháp độ sinh, tham thiền nhập định, hành trì theo đường lối của đức Phật.

Khi xưa, đức Phật đã đặt thanh gươm quyền lực xuống và cầm trên tay chiếc bát đất đơn sơ để đem hạnh phúc và sự bình yên đến cho nhân loại. Ngài hy vọng chúng sanh ngừng tranh đấu bi thương để sống một đời sống bình yên và hạnh phúc. Sự ra đời của đức Phật với mục đích là “khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến,… sự xuất hiện của Ngài là đem lại sự lợi ích và an lạc cho chúng sanh, chư thiên và loài người.” Tiếp nối đường lối này, đức Tổ sư Minh đăng Quang sáng lập ra Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, đã kế thừa và tiếp tục hành trì. Cũng với chiếc y vàng và bình bát đất, đức Tổ sư đã đi khắp nơi cùng xứ thuyết pháp giảng kinh, tiếp chúng độ sanh với tinh thần “khơi đèn Phật pháp giữa ta-bà.” Đức Tổ sư đã đem ngọn đèn Chơn lý vào đời thắp sáng hiện hữu. Hình ảnh một vị Tăng Khất sĩ đi xin cơm từng nhà để nuôi thân, nuôi tâm trí đã nói lên tinh thần Từ Bi Hỷ Xả trong đạo Phật. Tổ dạy: “Xin vật chất để nuôi thân. Xin tinh thần để nuôi trí. Có đủ tâm trí mới sanh tâm là Phật.” Hình ảnh của đức Tổ sư với chiếc y vàng, bình bát đất hằng ngày khất thực hoá duyên làm phương tiện độ sanh. Tổ sư đã để lại bộ Chơn lý với rất nhiều lời dạy hữu ích, phương pháp tu tập qua sự học hỏi và đúc kết kinh nghiệm của tự thân.

Đức Tổ sư luôn xiển dương tinh thần tu tập Giới Định Tuệ, vì Giới có công năng thu thúc lục căn không cho đắm trước lục trần, Định là cột tâm trên đề mục không để tâm lang thang đến các đối tượng khác và Tuệ là phân biệt đúng sai và nhận rõ sự nguy hiểm của lục trần để tìm phương pháp hoá giải. Cho nên, tu Giới Định Tuệ là thu thúc lục căn, kiểm soát lục trần và tu tập lục thức. Hoà thượng nhấn mạnh: “Con chim thiên nga có thể bay lên tận trời xanh, người có thần thông có thể bay lên khỏi mặt đất nhưng duy chỉ có trí tuệ mới bay ra khỏi cõi thế gian.” Vì vậy, người tu dù có thần thông cũng chỉ là phương tiện không phải cứu cánh, chỉ có trí tuệ mới đem lại hạnh phúc an lạc tối thượng.

Ngoài tu tập trí tuệ ra, việc tu phước cũng rất cần thiết, vì phước đức sẽ hỗ trợ cho hành giả trong việc tu tập. Người có phước báu có thể hành hạnh bố thí, đó là một trong mười ba-la-mật hạnh. Khi có vật chất vừa đủ, người ta có thể an tâm tu tập, còn nếu sống trong môi trường vật chất thiếu thốn, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tinh thần. Khi có vật chất vừa đủ, việc thực hành các thiện pháp cũng thuận lợi dễ dàng. Do đó, phước đức và trí tuệ cũng cần phải thực tập song hành.

Tiếp nối mạng mạch “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”, đức Nhị Tổ đã hành theo đường lối của đức Tổ sư. Ngài có một đời tu thanh bần an lạc, với chiếc y bạc màu chằm vá đã đắp suốt mấy mươi năm. Ngài sống nơi chiếc cốc lá đơn sơ trong vườn xoài dù nhiều lần Tăng chúng thỉnh đến nơi ở tiện nghi. Khi Tăng chúng thỉnh ngài đến thuyết pháp, mời an tọa trên pháp toà soạn sẵn, ngài từ chối và chỉ ngồi trên chiếc tọa cụ được trải trên đất. Khi thọ trai, ngài ăn chậm rãi trong chánh niệm, không lệ thuộc vào thời gian. Đến tuổi xế chiều, đệ tử thỉnh Nhị Tổ trở về thăm quê hương, ngài bảo rằng: “Người xuất gia lấy chúng sanh làm thân bằng quyến thuộc, nếu có về thăm bà con thân quyến đi nữa cũng đi với mục đích hành đạo lợi sanh. Nếu được phép cho khoảng 20 vị Tăng cùng đi về quê để hành đạo thì tôi sẽ đi.” Các đệ tử muốn thỉnh Nhị Tổ đến những nơi có phương tiện thoải mái, khí hậu mát mẻ để nghỉ ngơi tịnh dưỡng, ngài bảo: “Lòng mình mát mẻ thì dù ở đâu cũng được mát mẻ.” Quả thật, nơi nào có thiền có định là nơi đó thân và tâm đều khoẻ nhẹ. Không cần món ngon vật lạ gì, nơi nào thân tâm có được sự an lạc, nơi đó chính là Niết-bàn.

Đó chính là tấm gương cuộc đời đơn giản thanh bần mà đức Nhị Tổ đã để lại cho chúng ta. Một bài học không lời nhưng rất hùng tráng. Giữa khi con người bị chìm đắm trong nhiều phương diện tiện nghi vật chất, hình ảnh của Nhị Tổ như lời cảnh tỉnh cho tất cả những người tu theo đường lối Khất sĩ chúng ta cần phải sống chậm lại để nhìn nhận chính mình với chánh niệm, chớ để những cám dỗ vật chất cuốn trôi theo dòng luân hồi sinh tử.

Hoà thượng kể tiếp về hình ảnh của đức Thầy Giác An khi ngài hành đạo nơi miền cao nguyên Đà Lạt. Tịnh xá Ngọc Đà là nơi dùng chân đầu tiên khi đức Thầy đặt chân đến Đà Lạt. Nơi đây, lúc bấy giờ là đồi thông và là nơi cư trú của giáo dân Thiên Chúa giáo. Đức Thầy sống trong một chiếc cốc lá giữa đồi thông. Hàng ngày, ngài đi bộ xuống phố trì bình khất thực, trưa về độ ngọ dưới gốc thông. Ngài ngồi thiền cũng ngồi dưới gốc thông. Người dân lúc bây giờ rất hiếu kỳ trước một vị Sư Khất sĩ lặng lẽ mà trang nghiêm đạo mạo. Lúc đầu, họ bỡ ngỡ nhưng dần quen rồi mang thực phẩm đến cúng dường và được đức Thầy tiếp độ cho làm đệ tử tại gia. Từ đây Tịnh xá Ngọc Đà được thành lập bên cạch là giáo xứ Thiên Chúa giáo và giáo dân. Giữa thành phố sương mù lạnh giá, đức Thầy đã đem ánh sáng và hạnh tu Khất sĩ nhuộm vàng đồi thông.

Nối tiếp đường lối của Tổ Thầy, ngày nay Tịnh xá Ngọc Đà được xem là một trong những thắng tích Phật giáo có tầm vóc tại thành phố Đà Lạt nói riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung. Dưới sự kế thừa và dẫn dắt của Hoà thượng Giác Minh, ngôi bảo tự Tịnh xá Ngọc Đà ngày một trang nghiêm, là nơi tổ chức các khóa tu truyền thống cho Hệ phái, cho Giáo đoàn, hướng dẫn các Phật tử tu tập phụng sự trong Chánh pháp.

Thời pháp thoại của Hòa thượng gợi nhắc tâm nguyện, đường hướng tu tập hành đạo lưu truyền từ đức Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni đến chư Tổ sư. Cuối thời giảng Hòa thượng đã dạy: “Vào thế kỷ XX, giữa lúc Phật pháp suy vi, đức Tổ sư đã phục dựng, khêu lại ngọn đèn Chơn lý, truyền tải thông điệp mà chư Phật đã truyền dạy. Tổ sư vắng bóng, chư đức Thầy nối bước, giữ gìn giềng mối tu tập của Tổ sư và hoằng truyền giáo pháp Khất sĩ của Phật Tổ đã xiển dương. Ngày nay, chư Tôn đức lãnh đạo các Giáo đoàn và chư Tăng Ni tu tập và đang chung tay góp sức để mang ngọn đèn Chơn lý của Tổ đến gần hơn với mọi người. Mong rằng chư hành giả khoá tu ý thức tu tập tinh tấn hơn, kế thừa đường lối của Tổ Thầy để làm lợi lạc cho mình và đem lại lợi ích cho chúng sanh.”

Liên Tri tóm tắt