Trong buổi giảng thứ hai với cùng chuyên đề “Giáo dục Phật giáo Khất sĩ từ truyền thống đến hiện đại” tại khá an cư PL.2570 Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), sáng 29/06/2026 (15/05/Bính Ngọ), TT. Minh Liên – Ủy viên HĐTS, Phó Chánh Thư ký Hệ phái PGKS, đã gợi lên một bức tranh toàn cảnh về “Lịch sử và sự chuyển dịch của giáo dục Phật giáo Việt Nam”, giúp đại chúng nhìn lại hơn 2000 năm hình thành, phát triển và chuyển mình của nền giáo dục Phật giáo trên đất Việt.

TT. Minh Liên cho rằng: “Nếu chùa là nơi gìn giữ mạng mạch Phật pháp, thì giáo dục chính là mạch nguồn nuôi dưỡng mạng mạch ấy. Suốt chiều dài lịch sử, mọi giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam đều bắt đầu từ sự hưng thịnh của giáo dục; ngược lại, mỗi thời kỳ suy vi cũng đều bắt nguồn từ sự mai một trong việc đào tạo Tăng tài”. Chính từ nhận thức đó, Thượng tọa khẳng định: “Vận mệnh của Đạo pháp luôn gắn liền với vận mệnh của nền giáo dục Phật giáo”.
Nhắc lại lời đúc kết nổi tiếng của Thân Nhân Trung: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, TT. Minh Liên giảng giải, nếu giáo dục sản sinh hiền tài để làm hưng thịnh đất nước thì đối với Đạo pháp, giáo dục đào tạo Tăng tài chính là nền tảng quyết định sự trường tồn của Phật giáo. “Một nền giáo dục đúng hướng sẽ hình thành nên những vị xuất gia đầy đủ giới đức, trí tuệ và năng lực hoằng pháp; ngược lại, khi giáo dục suy yếu thì việc kế thừa mạng mạch Phật pháp cũng dần trở nên mong manh. Bởi vậy, lịch sử Phật giáo Việt Nam, nhìn ở một chiều kích sâu hơn, cũng chính là lịch sử của quá trình giáo dục và đào tạo con người”, Thượng tọa nhận định.

Quay trở về buổi đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam, dựa trên các nguồn sử liệu, Thượng tọa cho biết, Phật giáo đã đến nước ta rất sớm bằng đường biển trực tiếp từ Ấn Độ. Ngay từ thế kỷ II, trung tâm Luy Lâu đã trở thành một trong những trung tâm Phật giáo lớn của khu vực, quy tụ hàng trăm Tăng sĩ trong và ngoài nước đến học tập, nghiên cứu. Điều đó cho thấy, ngay từ thuở sơ khai, giáo dục đã là linh hồn của Phật giáo Việt Nam. Đây cũng là điểm đặc sắc của Phật giáo Việt Nam, khi đạo Phật không tồn tại như một tôn giáo tách biệt, mà luôn hòa quyện với truyền thống văn hóa dân tộc. “Qua nhiều thế kỷ, Phật giáo dung hợp hài hòa giữa truyền thống Nam truyền và Bắc truyền, đồng thời tiếp nhận tinh hoa văn hóa bản địa để hình thành nên diện mạo rất riêng, như HT. Thích Mãn Giác có câu: ‘Mái chùa che chở hồn dân tộc, / Nếp sống muôn đời của Tổ tông’. Đó không chỉ là hình ảnh thi vị, mà còn phản ánh một thực tế lịch sử, là đạo Phật đã thấm sâu vào đời sống tinh thần người Việt, từ tư tưởng nhân quả, lòng hiếu kính, nếp sống đạo đức cho đến ngôn ngữ, phong tục và văn hóa ứng xử. Bởi vậy, giáo dục Phật giáo chưa bao giờ tách rời lịch sử dân tộc mà luôn đồng hành cùng sự phát triển của đất nước”, Thượng tọa chỉ rõ.
Tiếp nối dòng lịch sử, Thượng tọa khái quát giai đoạn hình thành mô hình “Phật học gia giáo” tại các Tổ đình lớn như Từ Ân, Giác Lâm, Long Thạnh, Huệ Nghiêm… Dù điều kiện vật chất còn hạn chế và việc truyền dạy thời bấy giờ chủ yếu diễn ra trong phạm vi tông môn, nhưng rõ ràng, chính mô hình “thầy truyền trò nối” ấy đã âm thầm gìn giữ hạt giống Phật pháp qua nhiều thế hệ, tạo tiền đề cho công cuộc chấn hưng Phật giáo về sau. Tuy nhiên, lịch sử cũng chứng kiến giai đoạn đầy thử thách khi đất nước rơi vào ách đô hộ của thực dân. Trước sự tác động của nhiều yếu tố xã hội, giáo dục Phật giáo dần suy giảm, việc học và hành trì không còn được chú trọng, khiến đời sống Phật giáo xuất hiện không ít biểu hiện lệch lạc. Theo Thượng tọa, chính trong hoàn cảnh ấy, những bậc cao Tăng và trí thức yêu nước đã nhận ra rằng, muốn phục hưng Phật giáo thì trước hết phải phục hưng giáo dục.
Đó cũng là lý do phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX không bắt đầu bằng việc xây thêm chùa, hay mở rộng nghi lễ, mà khởi đầu từ việc thành lập các Phật học đường, biên soạn giáo trình, xuất bản kinh sách và đào tạo Tăng tài. Song hành với phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục cùng tư tưởng cải cách của các sĩ phu yêu nước, giáo dục Phật giáo từng bước chuyển mình, tiếp nhận tinh thần học thuật hiện đại nhưng vẫn giữ vững cốt lõi của Chánh pháp. Thượng tọa cũng nhấn mạnh giai đoạn từ năm 1930 đến 1975 như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử giáo dục Phật giáo Việt Nam: “Từ mô hình gia giáo truyền thống, giáo dục Phật giáo đã chuyển sang hệ thống Phật học đường với chương trình đào tạo có tổ chức, phân chia các cấp học từ sơ đẳng, trung đẳng đến cao đẳng. Những cơ sở như Linh Sơn, Lưỡng Xuyên, Báo Quốc, Quán Sứ, Liên Hải Phật học đường, hay Phật học đường Nam Việt, đã góp phần đào tạo nên nhiều thế hệ cao Tăng, học giả có ảnh hưởng sâu rộng đối với Phật giáo Việt Nam hiện đại”.
Bên cạnh đó, sự ra đời của hệ thống trường Bồ Đề cũng được TT. Minh Liên đặc biệt hấn mạnh. Theo Thượng tọa, đây là minh chứng rõ nét cho tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam. Phật giáo không chỉ đào tạo Tăng Ni mà còn trực tiếp tham gia giáo dục thanh thiếu niên thông qua hệ thống trường học từ mầm non đến trung học. Việc kết hợp chương trình giáo dục quốc gia với giáo dục đạo đức Phật giáo đã góp phần hình thành những thế hệ công dân vừa có tri thức vừa có nhân cách. Qua đó, Phật giáo khẳng định vai trò đồng hành cùng xã hội, chứ không thu mình trong phạm vi tự viện. Đỉnh cao của quá trình chuyển dịch ấy được Thượng tọa giới thiệu qua sự ra đời của Viện Đại học Vạn Hạnh năm 1964. Đây không chỉ là một cơ sở giáo dục Phật giáo mà còn là biểu tượng của tinh thần khai sáng, nơi dung hợp giữa Phật học và khoa học, giữa truyền thống phương Đông và tri thức hiện đại, mở rộng cánh cửa học thuật cho mọi thành phần xã hội. Dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, Đại học Vạn Hạnh vẫn được xem là một dấu son rực rỡ trong lịch sử giáo dục Việt Nam, minh chứng rằng, giáo dục Phật giáo hoàn toàn có thể đóng góp tích cực cho nền giáo dục quốc gia.

Khép lại thời pháp, TT. Minh Liên bên cạnh việc nhìn lại lịch sử, còn gợi mở suy tư cho hiện tại: “Lịch sử cho thấy quy mô cơ sở vật chất, hay số lượng trường lớp chưa bao giờ là yếu tố quyết định. Điều cốt lõi của giáo dục vẫn là triết lý, phương hướng và chất lượng đào tạo con người. Chính vì vậy, việc tiếp tục phát triển giáo dục Phật giáo trong thời đại mới không chỉ là kế thừa thành tựu của tiền nhân mà còn là trách nhiệm gìn giữ mạng mạch Chánh pháp cho mai sau. Từ những Phật học gia giáo truyền thống, các Phật học đường, hệ thống trường Bồ Đề, Đại học Vạn Hạnh cho đến mô hình giáo dục Phật giáo hiện đại hôm nay đều là những mắt xích nối tiếp trong hành trình đào tạo Tăng tài. Đó cũng chính là nền tảng để hiểu sâu hơn con đường giáo dục mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã lựa chọn khi khai sáng Hệ phái PGKS, lấy thực học làm gốc, lấy thực tu làm nền, lấy đào tạo con người làm sự nghiệp lâu dài của Đạo pháp, để ánh sáng trí tuệ tiếp tục lan tỏa và đồng hành cùng dân tộc trong mọi thời đại”.
Một số hình ảnh được ghi nhận:



