Chiều 13/09/2026 (03/08/Bính Ngọ), chư giới tử tại điểm truyền giới Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), thuộc Đại giới đàn Thanh Kiểm PL.2570, đã trang nghiêm cung đón sự quang lâm của Trưởng lão HT. Giác Giới – Phó Thư ký Ban Thường trực HĐCM GHPGVN, Giáo phẩm Chứng minh Hệ phái, Chứng minh GĐ.I PGKS, đến thăm và dành thời giáo giới hành nghi.
Nhắc lại quá trình tầm đạo của Đức Phật, Trưởng lão Hòa thượng lưu ý rằng, con đường giác ngộ không phải là sự tìm kiếm bằng cực đoan. Đức Phật từng trải qua giai đoạn khổ hạnh ép xác đến mức thân thể kiệt quệ, nhưng rồi nhận ra đó không phải con đường đưa đến ánh sáng giác ngộ. Do đó khi Ngài trở lại ăn uống bình thường, nhóm năm vị Kiều Trần Như đã cho rằng Ngài thối chí, trở về đời sống lợi dưỡng và rời bỏ Ngài. Qua đó, Trưởng lão Hòa thượng khẳng định: "Người tu cần có khả năng tự mình nhận ra đâu là con đường đúng. Trong hành trình ấy, không phải cứ làm nhiều, chịu khổ nhiều, hay hình thức tu tập nghiêm khắc, là đồng nghĩa với tiến bộ, mà phải thấy rõ mục tiêu và phương pháp đi đến mục tiêu".
Cũng từ câu chuyện Đức Phật tiếp nhận người ngoại đạo xin xuất gia, Trưởng lão Hòa thượng cho thấy tinh thần vừa nghiêm túc vừa rộng mở của Tăng đoàn thời Đức Phật. Theo lời dạy, người thuộc các hệ thống tín ngưỡng ngoại đạo khi xin xuất gia cần trải qua bốn tháng biệt trú để thử thách và chọn lọc. Thế nhưng, có một vị vì lòng kính ngưỡng quá sâu nên tự nguyện xin biệt trú đến bốn năm. Biết rõ căn tánh vị này đã chín mùi, Đức Phật bảo Ngài A-nan phủi tóc, trao Y và truyền giới Tỳ-kheo ngay.
Đặt câu chuyện ấy bên cạnh truyền thống tập sự của Hệ phái PGKS, Trưởng lão Hòa thượng nhắc lại tinh thần tu học mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã đặt nền móng. Theo đó, người mới vào tu sau bảy ngày học pháp căn bản sẽ được cạo tóc, đắp Y Sa-di, bắt đầu đời sống ôm bát khất thực xin ăn, không xây chùa chiền, không tích trữ lúa gạo. Có thể thấy, xuất gia không phải là đổi một bộ y phục, mà là bước vào một nếp sống hoàn toàn khác, trong đó việc học pháp, giữ giới và rèn luyện thân tâm trở thành việc chính yếu.
Cũng vậy, theo Trưởng lão Hòa thượng, một vị Sa-di muốn đăng đàn thọ Đại giới Tỳ-kheo phải làm trọn bổn phận của một Sa-di. Đủ 20 tuổi mới là điều kiện về tuổi tác, bên cạnh đó còn phải xét đến khả năng thọ giới Tỳ-kheo, được chứng minh thông qua quá trình tu học và hành trì trước đó. Từ việc thờ Thầy, học kinh luật, giữ quy tắc khi vào nhà tắm, nhà tiêu, ăn cơm, nghe pháp... cho đến cách sống chung trong Tăng đoàn, tất cả đều là những bài học cần thiết. Bởi nếu những việc rất nhỏ còn chưa làm được thì khó có thể nói đến việc gánh vác đời sống của một vị Tỳ-kheo.
Trưởng lão Hòa thượng chỉ rõ, danh xưng Sa-môn là một danh xưng cao quý, vượt lên trên những địa vị và quyền lực của thế gian, nên người mang danh ấy phải biết giữ gìn Thập lục hạnh (16 oai nghi): đi đứng khoan thai, ngồi ngay thẳng, nằm nghiêng trang nghiêm, ăn trong im lặng, nói năng dịu dàng. Đối với người Khất sĩ, sự thay đổi ấy còn được thể hiện rất rõ trong cách lựa chọn công việc, mà ở đó, không lấy việc cấy cày, trồng rau, buôn bán, hay làm các công việc thế tục làm nghề nghiệp chính. Trưởng lão Hòa thượng khẳng định: "Công việc của Sa-di là học kinh luật, hầu Thầy, phụng sự Tăng đoàn, trải tòa thuyết pháp cho cư sĩ và hành thiền. Đó là một đời sống có kỷ luật, trong đó, thời gian và năng lực của người tu được hướng về mục tiêu học pháp và giải thoát".
Song, Trưởng lão Hòa thượng cũng đặc biệt nhấn mạnh đến chánh tri kiến. Dẫn Kinh Nhất thiết lậu hoặc trong Trung Bộ Kinh, Trưởng lão Hòa thượng khai thị, Đức Phật thuyết pháp đoạn trừ các lậu hoặc – dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu – cho người có thấy, có biết, nghĩa là người thành tựu chánh tri kiến. Điều này cũng lý giải vì sao người xuất gia cần đặt việc học pháp ở vị trí quan trọng. Không có cái thấy đúng, việc tu rất dễ trở thành sự cố gắng theo thói quen, thậm chí có khi càng siêng năng lại càng đi xa mục tiêu. Trưởng lão Hòa thượng nhắc chư giới tử phải học thuộc Tứ Y Pháp theo Chơn Lý số 11 "Luật Khất sĩ", đồng thời chuyên tâm học kinh luật, hành thiền, thay vì để tâm trí phân tán vào sách báo thế gian, hay tiểu thuyết.
Theo lời Trưởng lão Hòa thượng, người Thầy cũng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trên con đường ấy. Dẫn lời dạy của Tổ sư Minh Đăng Quang, Trưởng lão Hòa thượng nhắc nhở, vị Tỳ-kheo tu được bốn năm hạ mới được nhận một Sa-di tập sự; tu được sáu năm hạ mới được nhận một Sa-di tập sự và một đệ tử Tỳ-kheo. Việc nhận đệ tử cũng phải được Giáo hội chứng minh cho phép. Những quy định ấy cho thấy, việc Thầy trò trong đạo không phải là một mối quan hệ được hình thành chỉ bởi tình cảm, hay sự quý mến. Người Thầy phải có khả năng chỉ đường, người đệ tử phải biết nương tựa và học hỏi đúng pháp. Nếu người dẫn đường không thấy đường mà vẫn dẫn người khác đi, thì như lời Trưởng lão Hòa thượng cảnh báo, chẳng khác nào “một chuỗi người mù ôm lưng nhau mà đi”.
Vì vậy, theo Trưởng lão Hòa thượng, trình tự tu học phải bắt đầu bằng việc học để thành tựu chánh tri kiến, thấy rõ Khổ, Tập, Diệt, Đạo, rồi mới bước vào sự tu tập đúng hướng, nếu không rất dễ rơi vào tình trạng “tu mù”. Nêu lên một bài kinh quan trọng đối với đời sống Tỳ-kheo: Kinh Khúc Gỗ, Trưởng lão Hòa thượng dùng hình ảnh một khúc gỗ trôi trên sông Hằng, nếu không vướng vào tám chướng ngại thì khúc gỗ sẽ theo dòng nước ra biển, để chỉ rõ về lộ trình tu học cụ thể, giúp người tu tự kiểm tra chính mình trên đường hướng đến Niết-bàn.
Cụ thể, khúc gỗ nếu “không đâm vào bờ này” là không chấp thủ sáu căn, “không đâm vào bờ kia” là không chấp thủ sáu trần. "Khúc gỗ không được chìm giữa dòng, cũng như người tu không để tâm hỷ tham, đắm nhiễm phát sinh khi sáu căn tiếp xúc sáu trần. Không mắc cạn trên đất nổi là không để tâm ngã mạn kéo giữ; không để loài người nhặt lên là không sống hệ lụy, vướng mắc vào cư sĩ; không để phi nhân nhặt lên là không đắm hưởng những tiện nghi sung sướng, cao sang. Khúc gỗ cũng phải tránh xoáy nước, tương tự người tu phải biết phòng hộ trước năm món dục lạc. Và hơn hết, bên trong khúc gỗ không được mục nát, cũng như nội tâm người tu không thể để tham - sân - si âm thầm tích tụ. Một người có thể giữ được nhiều hình thức bên ngoài, nhưng nếu bên trong vẫn đầy những thứ ấy thì dòng tu tập vẫn chưa thực sự thông suốt", Trưởng lão Hòa thượng khai thị.
Từ đó, Trưởng lão Hòa thượng nhắc nhở các giới tử phải đặc biệt chú trọng việc giữ gìn chánh tri kiến: "Khi cái thấy chưa đúng, sáu căn rất dễ kéo tâm đi theo sáu trần. Người tu nhìn một sự việc rồi lập tức thêm vào đó thương - ghét, tốt - xấu, hơn - kém, nghe một lời nói rồi sinh tâm vui buồn, được mất. Chính những phản ứng tưởng như rất tự nhiên ấy lại là nơi tâm chấp thủ tiếp tục sinh khởi. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà con đường hộ trì sáu căn nghĩa là đóng kín các giác quan, mà chúng ta phải học cách nhận biết để không bị cuốn theo. Mục đích sau cùng là đi đến trạng thái “cái thấy sẽ chỉ là cái thấy”, nghĩa là thấy rõ sự vật như nó đang là, không vội dựng thêm một lớp yêu ghét, hay phân biệt của cái tôi lên trên đó".
Cùng với chánh tri kiến, Trưởng lão Hòa thượng cũng đề cập về Thất Thánh Tài – những tài sản thật sự cần được tích lũy trong đời sống người xuất gia: Tín, Giới, Tàm, Quý, Đa văn, Trí tuệ và Xả ly. Đây là những thứ không thể nhìn thấy bằng mắt, không cầm nắm được bằng tay, nhưng lại quyết định một người có thể đi được bao xa trên con đường tu học.
Trước khi khép lại thời giáo giới, Trưởng lão Hòa thượng một lần nữa khuyến tấn chư giới tử chuẩn bị bước lên hàng Tỳ-kheo phải tự kiểm soát thân tâm, học tập chu đáo để khai mở pháp nhãn và thành tựu chánh tri kiến. Bởi đăng đàn thọ giới chỉ là một dấu mốc, còn để trở thành một người tu đúng nghĩa, hành giả phải tiếp tục đi bằng chính những gì mình đã học, đã hiểu và đã thực tập mỗi ngày.
Một số hình ảnh được ghi nhận: