Với chủ đề “Giáo dục Phật giáo Khất sĩ từ truyền thống đến hiện đại”, buổi giảng đầu tiên của TT. Minh Liên – Ủy viên HĐTS GHPGVN, Phó Chánh Thư ký Hệ phái PGKS, tại trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), trong sáng 15/06/2026 (01/05/Bính Ngọ), đã mở ra một hành trình nhìn lại cội nguồn giáo dục của Hệ phái, đồng thời đặt ra những suy tư sâu sắc về sứ mệnh đào tạo Tăng tài trong bối cảnh đương đại.
Một truyền thống muốn trường tồn không chỉ cần những người gìn giữ niềm tin, mà còn cần những người đủ trí tuệ để hiểu sâu, lý giải đúng và tiếp nối những giá trị cốt lõi mà tiền nhân đã trao truyền. Đối với Phật giáo cũng vậy, giáo dục không đơn thuần là một hoạt động hỗ trợ cho sự phát triển của Tăng đoàn, mà chính là mạch sống quyết định sự hưng suy của chánh pháp qua từng thời đại. Như TT. Minh Liên khẳng định: “Giáo dục luôn giữ vai trò cốt lõi đối với vận mệnh của một quốc gia cũng như sự tồn tại của một tổ chức tôn giáo”.
Dẫn lại lời của bậc tiền nhân: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu”, Thượng tọa cho rằng, mọi thành tựu phát triển của nhân loại, từ phương Đông đến phương Tây, đều được xây dựng trên nền tảng giáo dục và việc bồi dưỡng nhân tài. Rõ ràng, các quốc gia phát triển thần kỳ tại châu Á hay phương Tây đều có gốc rễ từ một nền giáo dục khai phóng, nơi biết quy tụ và bồi dưỡng những bộ óc vĩ đại để thay đổi cục diện văn minh.
“Nếu đối với một quốc gia, giáo dục là động lực phát triển xã hội, thì đối với Phật giáo, sự nghiệp giáo dục Tăng Ni lại càng mang ý nghĩa sinh tử, đó chính là con đường bảo tồn và tiếp nối mạng mạch chánh pháp. Bởi Phật giáo không tồn tại như một thực thể tách biệt khỏi đời sống dân tộc, mà luôn đồng hành cùng lịch sử, văn hóa và tâm thức của cộng đồng. Trong dòng chảy ấy, việc đào tạo nên những thế hệ Tăng Ni có đạo hạnh, có tri thức và có khả năng thích ứng với thời đại trở thành nhiệm vụ mang ý nghĩa sống còn đối với tương lai của Hệ phái nói riêng và Phật giáo nói chung”, TT. Minh Liên nhấn mạnh.
Nhìn lại hơn bốn thập niên, kể từ khi Hệ phái PGKS cùng 08 tổ chức và hệ phái Phật giáo khác, thống nhất thành lập GHPGVN vào năm 1981, Thượng tọa ghi nhận những đóng góp đáng trân trọng của nhiều thế hệ Tăng Ni Khất sĩ trên các lĩnh vực giáo dục, hoằng pháp, văn hóa và hành chính Giáo hội: “Có thể thấy, thành quả ấy không chỉ phản ánh sức sống của Hệ phái, mà còn cho thấy giá trị bền vững của một nền giáo dục được xây dựng trên tinh thần ‘Nối truyền Thích-ca Chánh pháp’ mà Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã khai mở”.
Tại buổi giảng, TT. Minh Liên đã đưa ra một câu hỏi tưởng chừng mang tính học thuật nhưng lại liên hệ trực tiếp đến tương lai của PGKS: “Phật giáo là gì và Phật học là gì?”.
Dưới góc độ ngữ nghĩa nguyên thủy, thuật ngữ Buddha-Sāsana trong ngôn ngữ Pāli không đơn thuần mang nghĩa là một tôn giáo. Buddha là bậc Giác ngộ, còn Sāsana là sự giáo huấn, chỉ dạy hay giáo dục. Như vậy, ngay từ bản chất ban đầu, Phật giáo chính là “Giáo dục của Đức Phật”. Nhận định này mở ra một góc nhìn sâu sắc về bản chất của đạo Phật. Đức Phật không xuất hiện như một vị thần để ban phước hay giáng họa, mà như một bậc đạo sư chỉ đường cho con người tự chuyển hóa khổ đau bằng chính nỗ lực của mình. Vì thế, Phật giáo trước hết là một nền giáo dục hướng đến việc đào luyện nhân cách, thanh lọc tâm thức và phát triển trí tuệ, giúp con người từng bước đi đến tự do nội tâm và giác ngộ.
Tuy nhiên, Thượng tọa cũng thẳng thắn nhìn nhận, qua dòng chảy lịch sử và quá trình giao thoa văn hóa, nhiều yếu tố tín ngưỡng dân gian đã dần hòa nhập vào đời sống Phật giáo. Từ đó, hình ảnh Đức Phật trong nhận thức của một bộ phận quần chúng đôi khi bị thần linh hóa, xa dần hình ảnh một con người lịch sử đã tự thân nỗ lực để thành tựu giác ngộ. “Quả thực Như Lai không phải là một thiên thần, không phải là một Càn-thát-bả, chẳng phải là quỷ thần, Như Lai là một con người đã giác ngộ”, trích lời của Đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni trong Kinh Tăng Chi Bộ.
Để làm rõ tinh thần thực tiễn của đạo Phật, Thượng tọa nhắc lại câu chuyện trong Kinh Tiền Dụ, khi Tôn giả Man Đồng Tử chất vấn Đức Phật về 10 câu hỏi siêu hình mang tính bất khả tri, Đức Phật từ chối trả lời vì những hý luận đó không đưa đến ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh và Niết-bàn. Ngài cũng dùng hình tượng nắm lá trong tay tại rừng Simsapa để khẳng định, Ngài chỉ thuyết những gì thiết thực hiện tại, có ích cho việc đoạn tận khổ đau. Từ đó, tinh thần “Ehipassiko” – “Đến để mà thấy, chứ không phải đến để mà tin” – trở thành một trong những đặc tính nổi bật nhất của chánh pháp.
“Ngay từ buổi đầu hình thành, đạo Phật không được xây dựng trên niềm tin mù quáng, mà trên tinh thần trải nghiệm, quán chiếu và chứng nghiệm. Niềm tin trong Phật giáo vì vậy không phải là điểm kết thúc, mà là điểm khởi đầu cho hành trình khám phá chân lý”, TT. Minh Liên chỉ rõ.
Bên cạnh đó, Thượng tọa tiếp tục phân tích sự hình thành của khái niệm “Phật học” trong thời kỳ cận hiện đại. Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và tư duy lý tính phương Tây, Phật giáo châu Á đứng trước nguy cơ suy vi do bị pha tạp nhiều yếu tố tạp thần, đồng bóng của dân gian. Bối cảnh lịch sử đó đã thúc đẩy các bậc tri thức tiền bối (như cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám tại Việt Nam) khởi xướng Phong trào Chấn hưng Phật giáo, lập trường Phật học, xuất bản tạp chí để tách bạch chánh tín ra khỏi mê tín. Từ đây, các phương pháp nghiên cứu như sử học, khảo cổ học, văn tự học và triết học được vận dụng để tìm hiểu đạo Phật một cách khách quan và hệ thống hơn. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn Đức Tổ sư Minh Đăng Quang xuất hiện, chọn con đường “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”, dung hòa tinh hoa Nam - Bắc truyền nhằm chấn hưng nếp sống Tăng-già Khất sĩ tại miền Nam Việt Nam.
Trái với “Phật giáo” mang tính tổ chức và thực hành tâm linh, “Phật học” là thuật ngữ mang đậm tính học thuật cận hiện đại. TT. Minh Liên giảng giải, khi các phương pháp luận khoa học phương Tây (như sử học, khảo cổ học, văn tự học) du nhập, Đạo Phật được tiếp cận như một đối tượng khoa học để mổ xẻ, phân tích. Từ đó hình thành nên xu hướng nghiên cứu độc lập, xem Phật giáo như một hệ thống triết học, đạo đức học hay xã hội học vĩ đại của nhân loại. Phật học vì thế cũng trở thành cánh cửa giúp đạo Phật đối thoại với thế giới tri thức hiện đại.
Tuy nhiên, điều mà Thượng tọa Minh Liên đặc biệt nhấn mạnh không nằm ở sự khác biệt giữa Phật giáo và Phật học, mà ở mối quan hệ tương hỗ giữa hai phương diện này. Theo Thượng tọa, hiện nay vẫn tồn tại hai khuynh hướng cực đoan. Một số người quá chú trọng thực hành mà xem nhẹ việc học, cho rằng tri thức có thể trở thành “sở tri chướng”. Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu lại tiếp cận đạo Phật hoàn toàn bằng lý tính, tách rời khỏi trải nghiệm tâm linh và đời sống thực hành. Cả hai khuynh hướng ấy đều dẫn đến những giới hạn nhất định.
Mượn hình ảnh Lục Tổ Huệ Năng không biết chữ mà vẫn đắc pháp, Thượng tọa giải thích rõ: “Lục Tổ biểu thị việc không biết chữ là phương tiện để đả phá tâm lý chấp trước chữ nghĩa, chạy theo danh tướng bằng cấp của chúng tăng thời bấy giờ, chứ Ngài không bác bỏ giáo lý. Nếu người tu không thông hiểu giáo lý, sẽ dễ rơi vào tà kiến, giải thích sai lệch hoàn toàn ý nghĩa kinh văn. Ngược lại, giới học giả nghiên cứu thuần túy lại cho rằng nghiên cứu Phật học thì phải ly phóng tín ngưỡng, không được có niềm tin tôn giáo mới giữ được tính khách quan. Song, nếu Phật học thoát ly hoàn toàn trải nghiệm tâm linh thực chứng, đạo Phật sẽ chỉ còn là một đống tro tàn tri thức khô khan. Đạo Phật đòi hỏi hành giả phải có ‘tinh thần mặc ứng đồng tình’, tức là một sự im lặng đồng cảm sâu sắc để thấu suốt những cảnh giới vượt ngoài chứng cứ lịch sử, hay logic học thông thường”.
Từ đó, Thượng tọa khẳng định một luận điểm được xem là trọng tâm của toàn bộ chuyên đề: “Phật giáo và Phật học vốn đồng nhất, là một thể hai mặt. Tín ngưỡng phải được soi sáng bởi chánh kiến học thuật và học thuật phải được nuôi dưỡng bằng năng lượng thực chứng tâm linh. Thiếu một trong hai, bánh xe chánh pháp không thể vận hành thông suốt”. Nhận định ấy không chỉ giải quyết mối tương quan giữa tín ngưỡng và học thuật, mà còn mở ra định hướng cho nền giáo dục PGKS trong tương lai. Một nền giáo dục đúng nghĩa không nhằm tạo ra những người chỉ giỏi nghiên cứu, hay chỉ giỏi hành trì, mà phải đào tạo nên những hành giả có khả năng kết hợp giữa tri thức và đạo hạnh, giữa hiểu biết và thực chứng, giữa học và tu.
Đặc biệt, Thượng tọa còn đề cập đến khái niệm “mặc ứng đồng tình” như một phương pháp tiếp cận Phật giáo mang chiều sâu nhân văn. Theo đó, người nghiên cứu không thể chỉ đứng bên ngoài để quan sát đối tượng bằng tư duy phân tích thuần túy, mà còn cần sự đồng cảm, trải nghiệm và khả năng đi vào đời sống tâm linh của đối tượng nghiên cứu. Bởi có những giá trị của Phật giáo vượt lên trên những chứng cứ vật lý, hay các phương pháp luận thông thường.
Nhìn từ thực tiễn hoằng pháp, Thượng tọa cho rằng, cộng đồng Phật tử từ xưa đến nay luôn bao gồm hai thành phần song hành: giới bình dân tiếp cận đạo Phật bằng niềm tin và đời sống tín ngưỡng, giới trí thức tiếp cận đạo Phật bằng nghiên cứu và tư duy học thuật. “Người hoằng pháp thời đại mới cần có khả năng dung thông cả hai đối tượng ấy, để vừa giữ được chất liệu tâm linh của đạo Phật, vừa đáp ứng được nhu cầu nhận thức của xã hội hiện đại”, TT. Minh Liên nhận định.
Từ đây, TT. Minh Liên tán thán tuệ giác vĩ đại của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang: “Đó cũng chính là tuệ giác đặc sắc của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang khi trước tác bộ Chơn Lý và khai sáng Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam. Bằng việc dung hòa tinh hoa Nam truyền và Bắc truyền, kết hợp giữa thực hành và tư tưởng, giữa niềm tin và trí tuệ, khi khéo léo hiện thực hóa, tâm lý hóa các biểu tượng tôn giáo (như Phật A Di Đà, Quán Thế Âm, lễ Vu Lan) thành các trạng thái tu tập hiện thực, Đức Tổ sư đã đặt nền móng cho một mô hình giáo dục vừa giữ vững bản sắc truyền thống, vừa có khả năng thích ứng với những chuyển biến của thời đại”.
Khép lại thời pháp, những vấn đề được đặt ra không chỉ dừng lại ở phạm vi học thuật, mà còn gợi mở nhiều suy tư cho mỗi hành giả đang hiện diện trong mùa An cư về giá trị của giáo dục PGKS. TT. Minh Liên khẳng định: “Có thể thấy, giáo dục PGKS không nằm ở việc lựa chọn giữa tín ngưỡng và học thuật, mà ở khả năng dung thông cả hai, bởi chánh pháp chỉ thật sự được tiếp nối khi niềm tin được soi sáng bằng trí tuệ và tri thức được nuôi dưỡng bằng sự thực hành. Đó cũng chính là tinh thần giáo dục mà Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã trao truyền cho Hệ phái PGKS từ những ngày đầu khai sáng cho đến hôm nay và sẽ còn tiếp tục soi đường cho những thế hệ Tăng Ni mai sau trên hành trình phụng sự Đạo pháp và nhân sinh”.
Một số hình ảnh được ghi nhận: