Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang PL.2570: "Lý đốn ngộ và sự tự tại trong pháp ứng cơ" qua lời giảng của Hòa thượng Minh Bửu

Tiếp tục dẫn dắt chư hành giả an cư đi sâu vào những tầng nghĩa cốt lõi của Thiền học thông qua chuyên đề Thiền Đông Độ, sáng 23/06/2026 (09/06/Bính Ngọ), HT. Minh Bửu – UVTT HĐTS, Phó Trưởng Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái kiêm Trưởng ban Tăng sự Hệ phái, Tri sự phó GĐ.IV PGKS, trụ trì Pháp viện, đã có buổi thuyết giảng thứ ba, tại Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM).

Không dừng lại ở việc khảo cứu lịch sử Thiền tông, hay phân tích các thuật ngữ học thuật, Hòa thượng trực tiếp khai mở một trong những vấn đề thường gây nhiều băn khoăn cho người học đạo: mối tương quan giữa đốn ngộ và tiệm tu. Đây cũng chính là điểm nút quan trọng trong tiến trình tu tập của người hành giả khi đối diện với câu hỏi: "Nếu bản tâm vốn thanh tịnh và chân như chưa từng mất, vậy vì sao vẫn phải trải qua quá trình hành trì lâu dài? Và, sau khi nhận ra tự tánh, đạo lộ giải thoát sẽ tiếp diễn ra sao?".

Có thể thấy, đốn ngộ và tiệm tu vốn không phải là hai con đường đối lập để phân định cao thấp, hay hơn kém, như HT. Minh Bửu chỉ rõ, theo tinh thần Thiền học, trong tiệm vốn hàm chứa đốn và trong đốn chưa từng rời tiệm. Người học đạo thường vì chấp một bên mà bỏ mất ý nghĩa viên dung của toàn thể tiến trình tu chứng. "Về mặt lý tánh, hành giả cần trực nhận chân tâm, thấy rõ tự tánh vốn đầy đủ nơi chính mình, đó là đốn ngộ. Tuy nhiên, trên phương diện hành trì, vẫn phải tùy thuận căn cơ và tập khí của mỗi người mà từng bước chuyển hóa, đó là tiệm tu. Sự chứng ngộ không phải là điểm kết thúc của hành trình, mà chính là điểm khởi đầu cho sự sống bằng cái thấy chân thật ấy", Hòa thượng nhấn mạnh.

Để minh họa cho tinh thần này, Hòa thượng dẫn bài kệ nổi tiếng của cư sĩ Bàng Uẩn:

“Kiến đạo phương tu đạo,
Bất kiến phục hà tu?
Tánh đạo như hư không,
Hư không hà sở tu?”

Qua bài kệ, Hòa thượng cho thấy người chưa nhận ra bản tâm thì việc tu tập dễ trở thành sự dò dẫm trong bóng tối, nhưng khi đã thấy đạo, hành trì không còn là nỗ lực tìm kiếm một điều gì bên ngoài, mà là quá trình làm cho đời sống thực sự tương ưng với điều mình đã thấy. "Thấy đạo rồi mới khởi công tu chân chính, bằng không chỉ là tu mù giữa đêm đen. Song, khi đã triệt ngộ thì tánh đạo vốn thênh thang như hư không, hư không thì cần gì sửa đổi, bồi đắp, tu tập là phải nương nhau mà thành tựu chứ không rơi vào thiên chấp. Bản tâm vốn chưa từng mất mát, chỉ vì điên đảo vọng tưởng nên tự mình không nhận ra, tu mà không rõ mình đi về đâu chẳng khác kẻ mù đi trong đêm tối", HT. Minh Bửu khẳng định.

Dựa trên sự dung thông giữa đốn và tiệm, Hòa thượng chỉ rõ tinh thần ứng cơ vô ngại của chư Phật, chư Tổ, mà ở đó, giáo pháp vốn không có đốn hay tiệm. Có thể thấy, Đức Phật và Tổ sư vì lòng từ bi thương xót chúng sanh mà mở rộng vô lượng phương tiện, lập ra tam tạng giáo điển, trong đó, "Huyền giáo" là giáo lý vi diệu, dùng ngôn từ ẩn dụ mật truyền; "Trực giáo" chỉ thẳng vào bản thể; "Đốn giáo" là con đường ngộ đạo tức khắc dành cho bậc thượng căn; còn "Tiệm giáo" là lộ trình tu học theo thứ lớp, từ thấp lên cao để chuyển hóa nghiệp lực. Song, cần hiểu rằng, bản chất giáo pháp vốn không có phân biệt, sự phân biệt ấy chỉ xuất hiện do căn cơ và khả năng tiếp nhận của mỗi chúng sanh khác nhau, như Ngài Lục Tổ Huệ Năng từng dạy: “Pháp vốn không đốn tiệm, người có nhạy có chậm”. Rõ ràng, mọi sự phân chia chỉ là những phương thuốc khác nhau nhằm khế hợp với từng căn cơ riêng biệt của chúng sanh. "Bởi vậy, dù tu theo lối 'tiệm tu thánh giáo, đắc thành đạo quả' bằng cách giữ giới, ăn chay, tinh tấn thiền định, hay đi thẳng bằng con đường 'Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật', thì mục tiêu cuối cùng vẫn là giải thoát, người hướng dẫn tu học cần biết tùy duyên giáo hóa, tùy thời ứng hiện mà không bị mắc kẹt vào bất kỳ khuôn mẫu cố định nào", HT. Minh Bửu nhấn mạnh.

Lấy ví dụ sinh động về việc đem những phương trình phức tạp, hay kiến thức hình học cao cấp, giảng dạy cho học sinh tiểu học, chắc chắn khiến các em không thể tiếp nhận được, HT. Minh Bửu sách tấn: "Người hoằng pháp cần khế hợp căn cơ người nghe, sử dụng phương tiện thích hợp để dẫn dắt người học đạo từng bước đi vào Chánh pháp. Mặt khác, người học đạo cũng không nên cố chấp vào một pháp môn, hay một hệ thống tư tưởng riêng biệt rồi sinh tâm phân biệt hơn thua. Các bậc giác ngộ sử dụng phương tiện để giáo hóa chúng sanh nhưng chưa từng bị phương tiện ràng buộc. Chính vì không trụ chấp nên mới có thể tự tại giữa muôn duyên".

Tinh thần ấy được Hòa thượng dẫn chiếu qua lời dạy của Tuệ Trung Thượng Sĩ: "Đến nhà chớ hỏi chi đường, / Thấy trăng cần gì ngón tay ấy". Khi đã trực nhận thực tại, mọi danh tự, ngôn ngữ, hay phương tiện đều trở về đúng vai trò của chúng. Hòa thượng khẳng định: "Kinh điển là chiếc bè đưa người qua sông, nhưng không phải là bờ giác. Bởi lẽ đó, người học đạo cần nương nơi giáo pháp để thấy đạo, chứ không dừng lại nơi hình thức, hay khái niệm của giáo pháp".

Từ sự không bám chấp này, HT. Minh Bửu chỉ rõ điểm cốt lõi của giải thoát, đó là "yếu chỉ vô nhiễm ngay nơi hiện tiền". Theo Hòa thượng, nhiều người tu thường rơi vào một ngộ nhận phổ biến, đó là xem việc tu tập như một cuộc chiến để tiêu diệt vọng niệm. Thực chất, càng cố gắng đàn áp, hay xua đuổi vọng tưởng bằng tâm phân biệt, hành giả càng vô tình tạo thêm một lớp vọng tưởng mới. Lấy vọng để trừ vọng rốt cuộc vẫn chỉ là vòng xoay của vọng. "Càng dùng ý thức phân biệt để chế ngự hay đàn áp vọng niệm, con người càng tự giam mình vào một vòng xung đột mới; lấy vọng trừ vọng chỉ chuốc thêm điên đảo trói buộc. Trong cuộc chiến đối trị khiên cưỡng ấy, người tu đâu rõ ý là ma, mà ý cũng là Phật, hễ còn dấy niệm trừ khử thì bản ngã đối trị đã lập tức tái sinh. Chẳng có người tu nào đang chiến đấu ở đây cả".

Dẫn lời Tổ Hoàng Bá về cái bẫy đối trị sai lầm của tâm thức, HT. Minh Bửu nhấn mạnh, chính ý niệm muốn loại bỏ vọng tưởng cũng là vọng tưởng. Vì vậy, giải thoát không nằm ở sự đối kháng với tâm niệm, mà ở khả năng nhận biết rõ ràng, nhưng không đồng hóa, thấy mà không chấp trước, biết mà không bị lôi kéo. Theo Hòa thượng, chân lý không phải là sản phẩm của tư duy hay kết quả của sự tìm cầu bằng bản ngã, chân lý vượt ngoài mọi khái niệm, mọi sự nắm bắt của ý thức phân biệt. Người tu không cần chạy tìm một cảnh giới đặc biệt ở đâu khác, mà cần trở về nhận diện ngay nơi tâm đang vận hành trong từng khoảnh khắc hiện tại.

Làm sáng tỏ hơn tinh thần vô nhiễm ấy, Hòa thượng dẫn bài kệ của cư sĩ Bàng Uẩn với hình ảnh người gỗ đứng nhìn hoa chim:

“Đản tự vô tâm ư vạn vật,
Hà phương vạn vật thường vi nhiễu.
Thiết ngưu bất phạ sư tử hống.
Kháp tự mộc nhân kiến hoa điểu.
Mộc nhân bản thể tự vô tình”.

Theo Hòa thượng, hình ảnh người gỗ không mang ý nghĩa vô cảm hay triệt tiêu nhận thức, mà biểu thị cho trạng thái tâm không còn bị cảnh giới chi phối. Mọi hiện tượng vẫn xuất hiện, mọi âm thanh vẫn vang lên, nhưng tâm không còn bám víu để sinh khởi phân biệt và phiền não. Đó chính là sự tự tại của người sống được với tánh biết thường hằng.

Triết gia Jiddu Krishnamurti trong tác phẩm "Tự do đầu tiên và cuối cùng", cũng từng nhận định, khi chúng ta nhìn một sự vật, một con người hay một trạng thái nội tâm mà không gọi tên, không dán nhãn, thì tâm trí không có điểm tựa để so sánh, đánh giá. Nơi nào không có tên gọi, nơi đó vắng bóng hành tung của tư tưởng; và, chính trong sự vắng bóng ấy, một cái nhìn thuần khiết, mới mẻ và tự do hoàn toàn sẽ hiển lộ. Điều này tương đồng với việc Lục Tổ dạy phòng hộ sáu căn: căn tiếp xúc với trần mà không nhiễm, không theo, không chấp.

Từ những phân tích sâu sắc về đốn ngộ, tiệm tu, tinh thần ứng cơ và yếu chỉ vô nhiễm, HT. Minh Bửu đã chỉ ra cốt lõi của Thiền học, đó là nhận ra bản tâm vốn thanh tịnh, đồng thời sống trọn vẹn với sự tỉnh giác ấy trong từng duyên sự của cuộc đời.

Khép lại thời pháp, Hòa thượng để lại cho đại chúng, những hành giả đang trên lộ trình tu tập, một câu hỏi: "Nếu chân như chưa từng rời xa, thì cái đi tìm này đang khởi từ đâu?".

Cuối lời, Hòa thượng sách tấn chư hành giả an cư phải học cách "vô tâm" trước vạn vật xung quanh: "Vô tâm ở đây không phải là vô tri vô giác như đất đá, mà là một tâm thái hồn nhiên, tỉnh giác, biết rõ tất cả mà không khởi niệm phân biệt bám chấp, không dính mắc giữa năng quán và sở quán. Như cổ đức dạy: 'Hãy để tâm như hư không, chẳng ngại sắc tướng qua lại; như gương báu sáng tròn, không lưu giữ bóng hình'. Khi tâm đạt đến chỗ vô sự, ly tham, tức là đạt đến giải thoát tri kiến, tự khắc mọi nghiệp cũ được tiêu trừ, hành giả tự khắc thong dong tự tại trong mọi oai nghi".

 

Một số hình ảnh được ghi nhận: