CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân

     a-kinhtung

I.     Nghi thức Cúng dường Tam Bảo
 II.    Nghi thức cúng Cửu Huyền
 III.   Nghi thức Thọ trì
 IV.   Nghi thức Sám hối
 V.    Nghi thức Cầu an
 VI.   Nghi thức Cầu siêu
 VII.  Kinh Vu Lan Bồn
 VIII. Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân
 IX.   Kinh A Di Đà
 X.    Kinh Từ Bi
 XI.   Kinh Vô Ngã Tướng
 XII.  Kệ Tụng thêm
 * Ý nghĩa và Lời khuyên trước khi Tụng kinh

 

 KINH BÁO HIẾU PHỤ MẪU TRỌNG ÂN

 

Một thuở nọ Thế Tôn an trụ

Xá-vệ thành Kỳ thụ viên trung,

Chư Tăng câu hội rất đông

Tính ra tới số hai muôn tám ngàn,

Lại cũng có các hàng Bồ-tát

Hội tại đây đủ mặt thường thường,

Bấy giờ Phật lại lên đường

Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành.

Đáo bán lộ đành rành mắt thấy

Núi xương khô bỏ đấy lâu đời,

Thế Tôn bèn vội đến nơi

Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng.

Đức A-Nan tủi lòng ái ngại

Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương?

Vội vàng xin Phật dạy tường

Thầy là Từ phụ ba phương bốn loài

Ai ai cũng kính thầy dường ấy

Cớ sao thầy lại lạy xương khô?

Phật rằng: “Trong các môn đồ

Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công,

Bởi chưa biết đục trong cho rõ

Nên vì ngươi ta tỏ đuôi đầu:

Đống xương dồn dập bấy lâu

Cho nên trong đó biết bao cốt hài,

Chắc cũng có ông bà, cha mẹ

Hoặc thân ta, hoặc kẻ ta sanh

Luân hồi sanh tử, tử sanh

Lục thân đời trước thi hài còn đây.

Ta lễ bái kính người tiền bối

Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa.

Đống xương hỗn tạp chẳng vừa

Không phân trai gái, bỏ bừa khó coi

Ngươi chịu khó xét soi cho lỹ

Phân làm hai, bên nữ bên nam

Để cho phân biệt cốt phàm

Không còn lẫn lộn nữ nam chất chồng.”

Đức A-Nan trong lòng tha thiết

Biết làm sao phân biệt khỏi sai,

Ngài bèn xin Phật chỉ bày

Vì khó chọn lựa gái trai lúc này.

Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt

Cách đứng đi, ăn mặc phân minh

Chớ khi rã xác, tiêu hình

Xương ai như nấy, khó nhìn khó phân.

Phật mới bảo: “A-Nan nên biết

Xương nữ nam phân biệt rõ ràng:

Đàn ông xương trắng nặng oằn

Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn.

Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ?

Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra,

Sanh con ba đấu huyết ra

Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con

Vì cớ ấy hao mòn thân thể

Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai.”

A-Nan nghe vậy bi ai

Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh

Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo

Phương pháp nào báo hiếu song thân?

Thế Tôn mới bảo lời rằng:

“Vì ngươi, ta sẽ phân trần khá nghe

Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc

Sanh đặng con thập nguyệt cưu mang,

Tháng đầu thai đậu tợ sương

Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường,

Tháng thứ nhì dường như sữa đặc,

Tháng thứ ba như cục huyết ngưng,

Bốn tháng đã tượng ra hình,

Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng,

Tháng thứ sáu lục căn đều đủ,

Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương

Lại thêm đủ lỗ chân lông

Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn,

Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ,

Chín tháng thì đầy đủ vóc hình,

Mười tháng thì đến kỳ sinh

Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn

Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu

Nó vẫy vùng, đạp quấu lung tung

Làm cho cha mẹ hãi hùng

Sự đau sự khổ không cùng tỏ phân…

Khi sản xuất muôn phần an lạc

Cũng ví như được bạc được vàng.”

Thế Tôn lại bảo A-nan:

“Ơn cha nghĩa mẹ nhiều phần phải tin.

Điều thứ nhất, giữ gìn thai giáo

Mười tháng thường chu đáo mọi bề,

Thứ hai sanh đẻ gớm ghê

Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần,

Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng

Cực đến đâu bền vững chẳng lay,

Thứ tư ăn đắng nuốt cay

Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con,

Điều thứ năm, lại còn khi ngủ

Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con,

Thứ sáu sú nước nhai cơm

Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê,

Điều thứ bảy, không chê ô uế

Giặt đồ dơ của trẻ không phiền,

Thứ tám chẳng nỡ chia riêng

Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo,

Điều thứ chín, miễn con sung sướng

Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam

Tính sao có lợi thì làm

Chẳng màng tội lỗi bị giam bị cầm,

Điều thứ mười chẳng ham trau chuốt

Dành cho con các cuộc thanh nhàn

Thương con như ngọc như vàng

Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn.”

Phật lại bảo: “A-Nan nên biết,

Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người

Mười phần mê muội cả mười

Không tường ơn trọng đức dày song thân,

Chẳng kính mến, quên ơn trái đức

Không xót thương dưỡng dục cù lao,

Ấy là bất hiếu mặc giao

Vì những người ấy đời nào nên thân.

Mẹ sanh con cưu mang mười tháng

Cực khổ dường gánh nặng trên vai

Uống ăn chẳng đặng vì thai

Cho nên thân thể hình hài kém suy,

Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết

Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề

Ví như thọc huyết trâu dê

Nhất sanh thập tử nhiều bề gian nan,

Con còn nhỏ phải lo chăm sóc

Ăn đắng cay, bùi ngọt phần con,

Phải tắm phải giặt rửa trôn

Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì,

Nằm phía ướt, con nằm phía ráo

Sợ cho con ướt áo ướt chăn,

Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân

Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương,

Trọn ba năm bú nương sữa mẹ

Thân gầy mòn nào nệ với con,

Khi con vừa được lớn khôn

Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng

Cho đi học mở thông trí huệ

Dựng vợ chồng có thế làm ăn

Ước mong con được nên thân

Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi,

Con đau ốm tức thì lo chạy

Dẫu tốn hao đến mấy cũng đành

Khi con căn bệnh đặng lành

Thì cha mẹ mới an thần định tâm…

Công dưỡng dục sánh bằng non biển

Cớ sao con chẳng biết ơn này?

Hoặc khi lầm lỗi bị rầy

Chẳng tuân thì chớ, lại bày ngỗ ngang

Hỗn cha mẹ, phùng mang trợn mắt

Kinh trưởng huynh, nộ nạt thê nhi

Bà con chẳng kể ra chi

Không tuân sư phụ, lễ nghi chẳng tường

Lời dạy bảo song đường không kể

Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng

Trái ngang chống báng mọi đàng

Ra vào lui tới mắng càn người trên…

Vì lỗ mãn tánh quen làm bướng

Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn

Lớn lên theo thói hung hăng

Đã không nhẫn nhịn lại càng hành hung,

Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ

Nết tập quen làm sự trái ngang,

Nghe lời dụ dỗ quân hoang

Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người,

Trước còn tập theo thời theo thế

Thân lập thân tìm kế sanh nhai

Hoặc đi buôn bán kiếm lời

Hoặc vào quân lính với đời lập công,

Vì ràng buộc đồng công mối nợ

Hoặc trở ngăn vì vợ, vì con

Quên cha, quên mẹ tình thâm

Quên sứ quên sở lâu năm không về…

Ấy là nói những người có chí

Chớ phần nhiều du hý mà thôi,

Sau khi phá hết của rồi

Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài

Theo trộm cướp hoặc là bài bạc

Phạm tội hình tù rạc phải vương,

Hoặc khi mang bệnh giữa đường

Không người nuôi dưỡng, bỏ thân ngoài đồng…

Hay tin dữ, bà con cô bác

Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu

Thương con than khóc ưu sầu

Có khi mang bệnh đui mù vấn vương,

Hoặc bệnh nặng vì thương quá lẽ

Phải bỏ mình làm quỷ giữ hồn,

Hoặc nghe con chẳng lo lường

Trà đình tửu điếm phố phường ngao du

Cứ mài miệt với đàng bất chánh

Chẳng mấy khi thức tỉnh mộ khan

Làm cho cha mẹ than van

Sanh con bất hiếu phải mang tiếng đời,

Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu

Không ai nuôi  thiếu thốn mọi điều

Ốm đau đói rách kêu rêu

Con không cấp dưỡng bỏ liều chẳng thương…

Phận con gái còn nương cha mẹ

Thì có lòng hiếu đễ thuận hòa

Cần lao phục dịch trong nhà

Dễ sai dễ khiến hơn là nam nhi,

Song đến lúc tùng phu xuất giá

Lo bên chồng, chẳng sá bên mình

Trước còn lai vãng viếng thăm

Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà,

Quên dưỡng dục song thân ân trọng

Không nhớ công mang nặng đẻ đau

Chẳng lo báo bổ cù lao

Làm cho cha mẹ buồn rầu thảm thay,

Nếu cha mẹ la rày quở mắng

Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiêng

Chớ chi chồng đánh liên miên

Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than…

Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ

Nói không cùng nghiệp dữ phải mang…”

Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng

Trong lòng đại chúng lòng càng thảm thay

Gieo xuống đất lấy cây lấy củi

Đập vào mình, vào mũi, vào hông

Làm cho các lỗ chân lông

Thảy đều rướm máu ướt đầm cả thân

Đến hôn mê tâm thần bất định

Một giây lâu mới tỉnh than rằng:

“Bọn ta quả thật tội nhơn

Xưa nay chẳng rõ không hơn người mù!

Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc

Ruột gan dường như nát như tan

Tội tình khó nỗi than van

Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu?”

Trước Phật tiền, ai cầu trần tố

Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân

Làm sao báo đáp thù ân

Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình?

Phật bèn dụng Phạm thinh sáu món

Phân tỏ cùng đại chúng lóng nghe:

“Ân cha nghĩa mẹ nặng nề

Không phương báo đáp cho vừa sức đâu!

Ví có người ân sâu dốc trả

Cõng mẹ cha tất cả hai vai

Giáp vòng hòn núi Tu-Di

Đến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa!

Ví có người gặp cơn gió rét

Nuôi song thân dâng hết thân này

Xương nghiền thịt nát phân thây

Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng!

Ví có người vì công sanh dưỡng

Tự tay mình khoét thủng song ngươi

Chịu thân mù tối như vầy

Đến trăm ngàn kiếp ân này thấm đâu!

Ví có người cầm dao thiệt bén

Mổ bụng ra rút hết tâm can

Huyết ra khắp đất chẳng than

Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng!

Ví có người dùng ngàn mũi nhọn

Đâm vào mình bất luận chỗ nào

Tuy là sự khó biết bao

Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền!

Ví có người vì ân dưỡng dục

Tự treo mình cúng Phật thế đèn

Cứ treo như vậy tròn năm

Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền!

Ví có người xương nghiền ra mỡ

Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình

Xương tan thịt nát chẳng phiền

Đến trăm ngàn kiếp ân trên chưa đền!

Ví có người vì công dưỡng dục

Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan

Làm cho thân thể tiêu tan

Đến trăm ngàn kiếp thâm ân chưa đền!...”

Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng

Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn,

Đồng thinh bạch Phật lời rằng:

“Làm sao trả đặng ân thâm song đường?”

Phật mới bảo: “Các hàng Phật tử

Phải lóng nghe ta chỉ sau này,

Chúng ngươi muốn đáp ân dày

Phải toan biên chép kinh đây lưu truyền,

Vì cha mẹ trì kiên phúng tụng

Cùng ăn năn những tội lỗi xưa

Cúng dường Tam Bảo sớm trưa

Cùng là tu phước chẳng chừa món chi,

Rằm tháng Bảy đến kỳ Tự tứ

Thập phương Tăng đều dự lễ này

Sắm sanh lễ vật đủ đầy

Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng

Đặng cầu nguyện song đường trường thọ

Hoặc sanh về Tịnh độ an nhàn,

Ấy là báo đáp thù ân

Sanh thành dưỡng dục song thân của mình!

Mình cần phải cần chuyên trì giới

Pháp Tam quy, Ngũ giới giữ gìn

Những lời ta dạy đinh ninh

Khá nên y thử phụng hành đừng sai.

Được như vậy mới là khỏi tội

Bằng chẳng thì ngục tối phải sa,

Trong năm đại tội kể ra

Bất hiếu thứ nhất thật là trọng thay!

Sau khi chết bị đày vào ngục

Ngũ vô gián cũng gọi A-tỳ

Ngục này trong núi Thiết Vi

Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề,

Trong ngục này hằng ngày lửa cháy

Đốt tội nhơn hết thảy thành than,

Có lò nấu sắt cho tan

Rót vào trong miệng tội nhơn hành hình

Một vá đủ cho người thọ khổ

Lột thịt da đau thấu tâm can,

Lại có chó sắt rắn gang

Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhơn,

Ở trong ngục có giường bằng sắt

Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong

Rồi cho một ngọn lửa hồng

Nướng quay chúng nó da phồng thịt đau,

Móc bằng sắt, thương đao gươm giáo

Trên không trung đổ tháo như mưa

Gặp ai chém nấy chẳng chừa

Làm cho thân thể nát nhừ như tương…

 Những hình phạt vô phương kể hết

Mỗi ngục đều có cách trị riêng

Như là xe sắt phân thây

Chim ưng mổ bụng, trâu cày lưỡi le

Chớ chi đặng chết liền rất đỡ

Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân

Ngày đêm chết sống muôn lần

Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây!

Sự hình phạt tại A tỳ ngục

Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân,

Chúng ngươi đều phải ân cần

Thừa hành các việc phân trần khoản trên.

Nhất này phải kinh này in chép

Truyền bá ra cho khắp Đông, Tây

Như ai chép một quyển này

Ví bằng thấy đặng một vì Thế Tôn,

Nếu in đặng ngàn muôn quyển ấy

Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên,

Do theo nguyện lực tùy duyên

Chư Phật ủng hộ y như sở nguyền

Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh

Lại hóa sanh về cảnh Thiên cung…”

Khi lời Phật giảng vừa xong

Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng,

Lại phát nguyện thà thân này nát

Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài,

Dầu cho kéo lưỡi trâu cày

Đến trăm ngàn kiếp lời thầy không quên,

Ví như bị bá thiên đao kiếm

Khắp thân này đâm chém phân thây

Hoặc như lưới trói thân này

Trải trăm ngàn kiếp lời thầy chẳng sai,

Dẫu thân này bị cưa, bị chặt

Phân chia ra muôn đoạn rã rời

Đến trăm ngàn kiếp như vầy

Chúng con cũng chẳng trái lời thầy khuyên.

Đức A-nan kiền thiền đảnh lễ

Cầu Thế Tôn đặt để hiệu kinh

Ngày sau truyền bá chúng sanh

Dễ bề phúng tụng trì chuyên tu hành.

Phật mới bảo: “A-nan nên biết

Quyển kinh này quả thật cao xa

Đặt tên “BÁO HIẾU MẸ CHA”

Cùng là “ÂN TRỌNG” thật là chơn kinh.

Các ngươi phải giữ gìn châu đáo

Đặng đời sau y giáo phụng hành.”

Sau khi Phật dạy đành rành

Bốn ban Phật tử rất mừng rất vui,

Thảy một lòng vâng theo lời Phật

Và kính thành tin chắc vẹn tuyền,

Đồng nhau tựu lại Phật tiền

Nhất tâm đảnh lễ rồi liền lui ra. O

    Chia sẻ với thân hữu: