Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Kinh Báo Hiếu

 

KINH BÁO HIẾU

 

             MỤC LỤC

       I. KINH TAM BẢO

1. Nghi thức Cầu siêu

2. Kinh A Di Đà

3. Hồng Danh Bửu Sám

4. Kinh Vu Lan Bồn

5. Nghi thức Cầu an

6. Kinh Phổ Môn

7. Kinh Báo Hiếu

      II. KINH XƯNG TỤNG TAM BẢO

1. Nghi thức Cúng dường

2. Nghi thức Thọ trì

3. Nghi thức Sám hối

4. Nghi thức Cúng dường Thọ trai

5. Nghi thức dâng Y dâng Tinh xá

       PHỤ LỤC KỆ NGÔN

 

TÁN HƯƠNG

Lư vàng vừa đốt hương thanh,

Khói xông Pháp giới kết thành tường vân.

Chí tâm thỉnh nguyện ân cần,

Ngưỡng mong chư Phật hiện thân chứng lòng. O

Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma Ha Tát O (3 lần)

 

KHAI KINH

Huyền diệu trên đời Pháp rộng sâu,

Trăm ngàn muôn kiếp dễ chi cầu.

Nay con nghe thấy chuyên trì tụng,

Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. O

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật O (3 lần)

 

KINH BÁO HIẾU

Thế Tôn thuở nọ trụ yên,

Tại thành Xá Vệ Kỳ Viên tinh đàng.

Cùng chư môn đệ các hàng,

Cả hai muôn lẻ tám ngàn Tỳ kheo.

Lại chư Bồ tát cũng nhiều,

Là hàng đại chúng cùng theo Ngài thường.

Bấy giờ Đức Phật lên đường,

Cùng chư môn đệ Nam phương tiến hành.

Gót vàng lần bước dặm xanh,

Mắt sen ( ) chợt thấy rành rành đống xương.

Thế Tôn dừng bước bên đường,

Chắp tay kính lễ đống xương vô tình.

A Nan ngơ ngẩn bạch trình:

“Ngài là Từ phụ chúng sanh muôn loài.

Thân vàng quy kính ai ai,

Thân vàng đâu lẽ xá dài xương khô?” O

Phật rằng: “Xương chất bấy lâu,

Ông bà cha mẹ từ đâu nhiều đời.

Trải qua mấy kiếp luân hồi,

Sanh đây, thác đó ai rồi biết ai.

Chỉ còn phân biệt gái trai,

Mẹ cha nhiều kiếp mượn vay thân hình.

Nay ta kính lễ chí thành,

Ấy là kính trọng ơn sanh nhiều đời.

A Nan muốn hiểu rẽ ròi,

Để tâm phân biệt, biết người nữ nam.

Đàn ông xương nặng trắng lam,

Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn”.

A Nan nghi ngại kính trình:

“Thế Tôn xin giải cho minh lẽ này.

Thường thường phân biệt gái trai,

Là nhờ trang sức hình hài điểm tô.

Chết rồi một nắm xương khô,

Nhìn xương khô ấy dễ hồ biện phân?”

Phật rằng: “Xương kẻ nữ nhân,

Sắc đen, chất nhẹ, vì thân hao mòn.

Thời kỳ thai nghén sanh con,

Ba thăng, ba đấu huyết tuôn như ngòi.

Thời kỳ bú mớm dưỡng nuôi,

Tám thùng, bốn đấu sữa bồi thân con.

Huyết lưu sữa vắt cạn mòn,

Xương kia đã nhẹ lại còn đen thâm”.

A Nan nghe nói thương tâm,

Ruột đau như cắt, lệ dầm như mưa.

Khấu đầu lạy Phật lời thưa:

Làm sao báo đáp ơn xưa mẫu từ?”

Phật rằng: “Ngươi lắng tâm tư,

Nghe ta giảng giải thiệt hư tỏ tường:

Ơn dày mười tháng cưu mang,

Mẫu thân cực khổ trăm đàng vì con.

Tháng đầu mới dựng thai non,

Như sương ngọn cỏ, mất còn nào hay.

Giữ gìn đến tháng thứ hai,

Mong manh như váng sữa dày lỏng chưn.

Ba trăng tựu khối huyết ngưng,

Bốn trăng thì tượng châu thân hình hài.

Năm trăng ngũ thể hiện bày,

Sáu trăng khai mở đủ đầy lục căn.

Bảy trăng xương cốt gia tăng,

Tám trăng tạng phủ công năng viên thành.

Chín trăng đầy đủ vóc hình,

Mười trăng đã đúng kỳ sinh hoàn toàn.

Nếu con hiếu thuận, sanh an,

Bằng con ngỗ nghịch ngược ngang, thôi rồi.

Quặn đau bụng mẹ vô hồi,

Như ngàn mũi nhọn khoan dùi tâm trung.

Đau đớn ấy, nói khôn cùng,

Đau này, đau thiệt lạ lùng kinh nghi!

Phước lành, trổ được anh nhi,

Mừng vui chi xiết, xiết chi vui mừng! O

A Nan, ngươi có tỏ tường,

Ơn cha, nghĩa mẹ cảm thương mười điều:

MỘT là thai nghén nâng niu,

HAI là sanh sản trăm chiều đớn đau.

BA là có trẻ quên sầu,

BỐN là mớm ngọt, nuốt dầu đắng thô.

NĂM là nằm ướt, nhường khô,

SÁU là bú mớm công đồ dưỡng thơ.

BẢY là giặt rửa uế nhơ,

TÁM là vắng trẻ mong chờ héo don.

CHÍN là tạo nghiệp vì con,

MƯỜI là yêu dấu lòng son đậm đà. O

 

LẠI MƯỜI ƠN TRỌNG kể ra,

Cưu mang thứ nhứt thiết tha ai tày.

Nhân duyên nhiều kiếp sâu dày,

Nên chi mượn gá mẫu thai buổi này.

Từ khi ngũ thể hiện bày,

Lục căn chừng đã mở khai đủ rồi.

Gìn thai giữ nghén không thôi,

Khi đi đứng, lúc nằm ngồi, chăm nom.

Yếm khăn chẳng thiết đẹp giòn,

Đài gương hờ hững, phấn son lạnh lùng. O

 

THỨ HAI ƠN TRỌNG vô cùng,

Bước đường sanh sản hãi hùng xiết bao.

Hoài thai mười tháng nôn nao,

Trông cho hoa nở, giờ nào biết đâu?

Ban mai dã dượi lo âu,

Chiều hôm mỏi mệt, canh thâu ai hoài.

Nghĩ càng sợ, khó trở day,

Buồn riêng lẻ chiếc, lệ dài sóng đôi.

Nỗi niềm khẽ tỏ khúc nôi:

“Những e đi biển mồ côi một mình!’’ O

 

THỨ BA ƠN TRỌNG thâm tình,

Sanh con mừng được khổ mình quên lo.

Mẫu từ nằm xếp co ro,

Toàn thân bải hoải cơ hồ rã tan.

Bụng đau như cắt ruột gan,

Huyết lưu như xối, nước tràn láng lai.

“Tu oa” tiếng lọt vào tai,

Nỗi mừng chi xiết, dễ ai mừng bằng!

Mừng rồi mặt lộ nét nhăn,

Đau như cắt cứa guộn phăng can trường. O

 

THỨ TƯ ƠN TRỌNG khôn lường,

Mớm luôn ngon ngọt, nuốt thường đắng cay.

Thiêng liêng tình mẹ sâu dày,

Lòng thương đâu dễ lợt phai bao giờ.

Đút ngon, mớm ngọt con thơ,

Ăn cay, uống đắng dám so phận mình.

Trời cao biển rộng thinh thinh,

Trọng ân khó cạn, thâm tình khôn vơi.

Trông con no ấm ăn chơi,

Mẹ dầu đói khát, tả tơi sá gì? O

 

THỨ NĂM ƠN TRỌNG xiết chi,

Nhường khô, nằm ướt, nghĩ suy chạnh lòng.

Mẹ nằm chỗ ướt cũng xong,

Nhường con chỗ ráo ấm nồng khỏi lo.

Đói lòng sữa mẹ bú no,

Gió lòn, áo mẹ che cho đỡ hàn.

Thương con mẹ phí giấc vàng,

Cưng con, mẹ những miên man cợt đùa.

Miễn con ăn ngủ lu bù,

Mẹ dầu cực khổ công phu chi nài! O

 

TRỌNG ƠN THỨ SÁU cao dày,

Dưỡng nuôi bú mớm chầy ngày công lao.

Ơn cha như thể trời cao,

Đất dày nghĩa mẹ sánh nhau tương đồng.

Trời che, đất chở minh mông,

Mẹ cha thương trẻ tấm lòng khác đâu.

Rủi con tàn tật mặc dầu,

Rủi con thiếu mắt, niểng đầu, quẹo tay.

Vốn con sanh đẻ ngày rày,

Lòng thương há dễ đổi thay bao giờ. O

 

TRỌNG ƠN THỨ BẢY kỉnh thờ,

Thương con giặt rửa uế nhơ vui lòng.

Phong tư tựa đóa phù dung,

Tô son, điểm phấn, mặn nồng đẹp xinh.

Mày xuân như lá liễu xanh,

Mặt hoa như đóa sen thanh tuyệt vời.

Nhọc nhằn giặt rửa tanh hôi,

Dung nhan tiều tụy lần hồi khá thương.

Tóc tai chẳng thiết sửa sang,

Chỉ mong sạch sẽ, gọn gàng áo xiêm. O

 

TRỌNG ƠN THỨ TÁM nỗi niềm,

Con đi xa vắng, trông đêm nhớ ngày.

Thà rằng tử biệt còn hay,

Chớ sanh ly, cảnh thêm bày đau thương.

Con vừa để bước lên đường,

Lòng sầu mẹ gởi tha hương cõi ngoài.

Tâm tư vời vợi đêm ngày,

Nhớ thương, tựa cửa, trông mai ngóng chiều

Não lòng vượn hú, chim kêu,

Nhớ con thổn thức như khêu can trường. O

 

TRỌNG ƠN THỨ CHÍN càng thương,

Vì con tạo nghiệp vấn vương tội tình.

Mẹ cha vất vả mưu sinh,

Trần gian hỏa trạch dấn mình khó khăn.

Chắt chiu nuôi dưỡng nhọc nhằn,

Định bày hôn giá bổn căn vững vàng.

Trời đông thêm áo ngự hàn,

Bữa ăn nhịn miệng sẵn sàng cho con.

Kiếm tìm vật lạ món ngon,

Sát sanh tạo nghiệp như non chất chồng. O

 

THỨ MƯỜI ƠN TRỌNG vô song,

Tình thương không tột không cùng trước sau

Tình thương biết ví thế nào,

Đất dày thăm thẳm, trời cao trùng trùng.

Hành tàng tâm dõi theo chừng,

Gần xa ý những bâng khuâng lo lường.

Mẹ già trăm tuổi tóc sương,

Lo con tám chục năm trường chưa thôi.

Tình thương đâu nỡ dứt rời,

Phân ly họa lúc số trời đổi sang”. O

 

Phật rằng: “Này hỡi A Nan,

Ta xem trong cõi trần gian nhân loài.

Lắm người tuy được phẩm người,

Nhưng lòng mê muội tội đời vương mang.

Ơn cha nghĩa mẹ không màng,

Chẳng lòng cung kính nghiêm đàng từ thân.

Ra tuồng bội nghĩa vong ân,

Ra tuồng bất hiếu, vô nhân, lỗi nghì.

Mẹ xưa cực khổ xiết chi,

Cưu mang mười tháng đứng đi nhọc nhằn.

Như mang gánh nặng trằn trằn,

Như người trọng bệnh, uống ăn bất thường.

Đúng kỳ sanh nở càng thương,

Banh da xé thịt can trường đớn đau.

Rủi may giây phút biết đâu?

Vô thường lảng vảng nghĩ âu rợn người!

Huyết lưu đầy đất đỏ tươi,

Khác nào huyết thú bị người thọc dao.

Đã chịu ngần ấy khổ đau,

Sanh con ra được biết bao hãi hùng!

Còn lo nuôi dưỡng ẵm bồng,

Ngọt ngon mớm trẻ, mẹ dùng đắng cay.

Rửa lau ô uế hằng ngày,

Chẳng từ khó nhọc, chẳng nài công lao.

Mẹ nằm chỗ ướt quản bao,

Nhường con khô ráo, nghĩ nao nao lòng.

Chịu nung nóng, chịu lạnh lùng,

Chẳng từ khổ sở, dám mong thanh nhàn!

Ba năm đằng đẵng thời gian,

Bú nhờ sữa mẹ nở nang thân hình.

Từ thơ ấu đến trưởng thành,

Mẹ cha dạy dỗ, tập tành lễ nghi.

Học hành nung thúc bôn phi,

Hôn nhân lựa chọn, môn mi nếp nhà.

Mong con lập nghiệp thành gia,

Mong con đẹp phận, mẹ cha hài lòng.

Chăm nom cần khổ đến cùng,

Lao tâm tiêu tứ dễ hòng kể ân.

Nếu con bệnh vướng vào thân,

Mẹ cha rồi cũng bệnh lần theo con.

Bằng con bệnh hết, tật mòn,

Mẹ cha mới thiệt chẳng còn lo âu.

Nuôi con lòng chỉ mong cầu,

Con mau khôn lớn ngõ hầu thành nhân.

Trưởng thành con lại chẳng cần,

Trên đầu bất hiếu, trong thân bất hoà.

Khinh khi chú bác ông bà,

Đánh xua em út, rầy rà chị anh.

Lung lăng huỷ nhục thâm tình,

Lễ nghi phép tắc đã đành không ngơ.

Mẹ cha răn dạy bấy giờ,

Chẳng hề đếm xỉa tảng lờ như không.

Anh em khuyên nhủ tiếng lòng,

Không cần lưu ý, buông lung tánh tình.

Ra vào đi đứng ngông nghênh,

Quên bề cung kỉnh, thưa trình người trên.

Việc làm, lời nói đảo điên,

Tự kiêu, tự phụ, tự chuyên tung hoành.

Thuở còn thơ, lúc tuổi xanh,

Cha răn, mẹ dạy, tập tành chẳng tuân.

Đến khi khôn lớn thành nhân,

Chứng nào tật nấy quen thân, hư đời.

Bạn hiền thì lại tách rời,

Theo cùng chúng dữ, học đòi nết hung.

Hành vi ngang trái lung tung,

Ở ăn theo bọn vô luân hoang đàng.

Bị người dụ dẫn mối mang,

Lìa cha, tách mẹ, bỏ làng ra đi.

Quê người mưu sống qua thì,

Hoặc vào binh ngũ, hoặc vì bán buôn.

Ngày hao, tháng lụn, năm mòn,

Thất gia gầy dựng, vợ con buộc ràng.

Cách ngăn muôn dặm quan san,

Bẵng xa vằng vặc thời gian không về.

Rồi nơi xứ lạ xa quê,

Không hay cẩn thận, chịu bề nạn tai.

Hình oan, tội phạt, tù đày,

Gông cùm, xiềng xích, tháng ngày lao đao.

Rồi khi bệnh hoạn vướng vào,

Không người săn sóc cháo rau đỡ đần.

Ốm gầy trong bước khổ tân,

Đầu đường, xó chợ, lê thân qua ngày.

Rồi khi bỏ xác đọa đày,

Không người thương xót liệu bày cất chôn.

Xương tan, thịt nát lần mòn,

Nắng mưa sương tuyết đâu còn chi chi.

Cốt hài tiêu tán chi li,

Bón phân đất khách, bỏ đi xứ người.

Bao giờ lại được vầy vui,

Về nơi xứ cũ gặp người thân xưa?

Mẹ cha vò võ sớm trưa,

Trông con đằng đẵng dây dưa tháng ngày.

Hoặc nhân than khóc canh chầy,

Mắt kia thành tật, khổ này bởi đâu?

Hoặc vì bệnh khổ bấy lâu,

Tơ buồn tằm kết, lưới sầu nhện đan.

Mạng chung xác bỏ trần hoàn,

Nhớ con hồn vẫn buộc ràng mối thương.

Hoặc nghe con ở tha phương,

Không chăm nghề nghiệp, theo phường hung hoang.

Rượu trà, cờ bạc, tham gian,

Đấu tranh xúc phạm xóm làng, thọ nguy.

Sáng ra, con bước chân đi,

Mẹ cha trông ngóng đến khi chiều về.

Song thân ấm lạnh mọi bề,

Con nào muốn biết, mựa hề thăm nom.

Gối giường nào kẻ chăm nom,

Thần hôn hai chữ ai dòm ngó đâu!

Mẹ cha già yếu thêm rầu,

Hình suy, vóc kém, trí hầu lãng quên.

Hổ hang gặp khách lạ quen,

Sợ e lâm vấp giận phiền rẻ khinh.

Hoặc khi cha mẹ khổ tình,

Một thân góa bụa một mình cô đan.

Con như khách lạ qua đàng,

Ở riêng nhà khác, chẳng màng thị phi.

Mẹ cha đói khát, kể gì,

Mẹ cha nóng lạnh, biết chi đến rày.

Tủi thân khóc lóc đêm ngày,

Tủi thân thở vắn, than dài vì con.

Lẽ ra đạo hiếu cho tròn,

Cung dưng vật lạ miếng ngon cho thường.

Nhưng con nào kể song đường,

Ra tuồng hổ thẹn, sợ đường cười khi.

Nhược bằng cung cấp thê nhi,

Bao nài tốn kém, quản chi nhọc nhằn.

Vợ con bắt buộc thì vâng,

Mẹ cha khiển trách, chẳng tuân, chẳng vì.

Còn như thân phận nữ nhi,

Lúc chưa gả bán thời y, thời tùng.

Một khi xuất giá theo chồng,

Chút tình hiếu thuận, tấc lòng lưng vơi.

Mẹ cha giận mắng lôi thôi,

Sanh lòng oán hận, buông lời ngỗ ngang.

Chồng dầu đánh đập phũ phàng,

Cam tâm nhịn nhục, giữ đàng ngỡi nhân.

Người dưng khác họ, tình thân,

Người thân cốt nhục, tình lần nhạt phai.

Theo chồng ra ở xứ ngoài,

Cách xa cha mẹ, không ngày viếng thăm.

Lại thêm thơ tín vắng âm,

Chẳng tình thương nhớ, chẳng tâm lo lường.

Mẹ cha thắc mắc tư lương,

Nhớ thương con trẻ, ruột dường lửa thiêu.

Ân cha, đức mẹ quá nhiều,

Vô biên vô lượng, khó miêu tả cùng. O

Tội con bất hiếu non chồng,

Nước dương mấy biển dễ hòng rửa phai!”

 

Bấy giờ đại chúng ai ai,

Nghe lời Phật nói chân tay rụng rời.

Ngẩn ngơ xúc động đôi hồi,

Cùng nhau rập tiếng thốt lời vang tai:

“Khổ thay! Tột khổ, khổ thay!

Đau thay cát phế, đau thay đoạn trường.

Chúng con đắc tội phi thường,

Ngày xưa ngu tối lạc đường trong đêm.

Bây giờ thấy rõ tội thêm,

Kể sao cho xiết nỗi niềm khổ đau.

Phật thương giảng pháp nhiệm mầu,

Dạy con báo đáp ơn sâu song đường ”. O

Bây giờ tiếng Phật du dương,

Phạm âm bát đức thanh lương dịu dàng:

“Các ngươi nghe lại kỹ càng,

Ví như trong cõi nhân gian có người.

Một vai đã cõng Cha rồi,

Một vai cõng Mẹ lần hồi bước đi.

Vòng quanh theo núi Tu Di,

Trải trăm ngàn kiếp lần suy thân hình.

Mòn da cho đến xương mành,

Mòn xương đến tuỷ, huyết lành chảy tuôn.

Cũng chưa đáp xứng công ơn,

Mẹ cha sanh dưỡng sánh hơn biển trời.

 

Ví như lại có một người,

Gặp cơn đói rét cảnh đời nguy vong,

Cù lao dốc trả ân hồng,

Đem thân lóc thịt đỡ lòng mẹ cha.

Nghiền xương như bụi tán ra,

Trải trăm ngàn kiếp gần xa dập dồn.

Cũng chưa đáp xứng công ơn,

Mẹ cha sanh dưỡng sánh hơn biển trời.

 

Ví như lại có một người,

Vì cha, vì mẹ, vì bài thuốc thang.

Cầm dao khoét mắt vội vàng,

Cung dưng cha mẹ lương phương nhiệm mầu.

Cù lao dốc trả ơn sâu,

Trải trăm ngàn kiếp khổ đau chẳng sờn.

Cũng chưa đáp xứng công ơn,

Mẹ cha sanh dưỡng sánh hơn biển trời.

 

Ví như lại có một người,

Vì cha, vì mẹ cắt rời tim gan.

Huyết lưu mặt đất dẫy tràn,

Chẳng từ thống khổ gian nan quản gì.

Cù lao dốc trả vẹn nghì,

Trải trăm ngàn kiếp lòng ghi không sờn.

Cũng chưa đáp xứng công ơn,

Mẹ cha sanh dưỡng sánh hơn biển trời.

 

Ví như lại có một người,

Vì cha, vì mẹ chịu nơi khổ hình.

Đao luân đâm bổ vào mình,

Hai bên tả hữu, vòng quanh gót đầu.

Cù lao dốc báo ơn sâu,

Trải trăm ngàn kiếp hèn lâu chẳng sờn.

Cũng chưa đáp xứng công ơn,

Mẹ cha sanh dưỡng sánh hơn biển trời.

 

Ví như lại có một người,

Vì cha, vì mẹ đắp bồi phước duyên.

Đem thân thể đốt treo lên,

Cúng dường chư Phật diệu huyền pháp đăng.

Cù lao dốc trả nghĩa hằng,

Trải trăm ngàn kiếp khăng khăng tâm hồn.

Cũng chưa đáp xứng công ơn,

Mẹ cha sanh dưỡng sánh hơn biển trời.

 

Ví như lại có một người,

Vì cha, vì mẹ đập tơi thân mình.

Vỡ xương, nước tuỷ chảy quanh,

Trăm ngàn dao mác xuyên phanh một lần.

Cù lao dốc báo thâm ân,

Trải trăm ngàn kiếp khổ thân chẳng sờn.

Cũng chưa đáp xứng công ơn,

Mẹ cha sanh dưỡng sánh hơn biển trời.

 

Ví như lại có một người,

Vì cha, vì mẹ nuốt bồi sắt nung.

Châu thân cháy rực lửa hồng,

Tiêu ra tro mạt, tản trong vi trần.

Cù lao dốc báo thâm ân,

Trải trăm ngàn kiếp khổ thân chẳng sờn.

Cũng chưa đáp xứng công ơn,

Mẹ cha sanh dưỡng sánh hơn biển trời.

 

Vừa nghe Phật nói mấy lời,

Khắp trong đại chúng rã rời tâm can.

Khóc thôi nước mắt tuôn tràn,

Cùng nhau rập tiếng nài van khẩn cầu:

“Phật thương giảng pháp nhiệm mầu,

Dạy con báo đáp ân sâu song đường ”. O

 

Phật rằng: “Phật tử khá tường,

Kinh này duyên khởi mở đường báo ân.

Vì cha, vì mẹ đôi thân,

Chép biên kinh quí, dành phần phước duyên.

Vì cha, vì mẹ hiện tiền,

Thọ trì kinh quí, cầu nguyền phước ban.

Vì cha, vì mẹ khổ nàn,

Ăn năn sám hối, cầu tan tội tình.

Vì cha, vì mẹ ân lành,

Cúng dường Tam Bảo, phước dành về sau.

Vì cha, vì mẹ công lao,

Ăn chay, giữ giới, dồi trau vun bồi.

Vì cha, vì mẹ thiệt thòi,

Tu duyên bố thí, săm soi phước điền.

Hành y, là kẻ hiếu hiền,

Không y, là kẻ lọt miền Âm Ty.

Bất hiếu vào ngục A Tỳ,

Do tuần tám vạn, ngục này rộng ghê.

Thành vây lưới sắt bốn bề,

Đất hừng lửa đỏ, chớp loè sấm vang.

Nước đồng sôi sục xối tràn,

Chó đồng phun lửa, thịt vàng mỡ tươm.

Những là non kiếm, rừng gươm,

Như mưa rơi xuống, giọt tuôn không ngừng.

Tội nhân đau khổ trăm đường,

Phạt hành nhiều kiếp, dễ thường tạm yên.

Lại vào ngục khác khổ thêm,

Đầu đội chậu lửa, xe nghiền nát thân.

Cháy tan gan, ruột, tay, chân,

Một ngày phải chịu muôn lần tử sanh.

Sanh thời bất hiếu, tội hành,

Còn người báo hiếu tạo kinh pháp này.

Tạo nên một quyển kinh hay,

Tức là thấy đặng một vì Thế Tôn.

Tạo nên mười quyển kim ngôn,

Tức là thấy đặng Thế Tôn mười vì.

Tạo trăm ngàn quyển vân vi,

Thế Tôn tức đặng thấy y trăm ngàn.

Phước duyên sắm tạo kinh vàng,

Phật ân gia hộ bình an song đường.

Đến khi mãn kiếp trần dương,

Được sanh thiên thượng, an khương đời đời”.

Vừa nghe Phật dạy rẽ ròi,

Khắp trong đại chúng phát lời nguyện chung:

“Vị lai đến kiếp cuối cùng,

Thân con dầu nát hòa chung vi trần.

Lưỡi con thà bị kéo phăng,

Bị cày máu chảy ngập bằng biển sông.

Đao luân thà bị trăm vòng,

Đâm cùng tả hữu, khắp trong thân hình.

Lưới sắt thà bị vấn quanh,

Cối dao thà bị hành hình đâm xay.

Trong trăm ngàn kiếp đọa đày,

Thệ không dám trái lời Thầy chỉ phân”. O

A Nan bạch Phật ân cần:

“Thế Tôn xin dạy kinh văn hiệu gì?

Chúng con chưa biết phụng trì,

Cầu Ngài chỉ bảo vân vi cho tàng”.

Bấy giờ Phật bảo A Nan:

“Kinh này báo đáp vẹn toàn nghĩa nhân.

Gọi tên Đại Báo Trọng Ân,

Phụng trì danh tự về phần các ngươi”.

Nghe rồi đại chúng đều vui,

Phụng hành đảnh lễ cùng lui ra ngoài. O

 

BÁT NHÃ TÂM KINH

Khi hành Bát Nhã Ba La,

Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng.

Thấy ra năm uẩn đều không,

Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua.

Này Xá Lợi Tử xét ra,

Không là sắc đó, sắc là không đây.

Sắc cùng không chẳng khác sai,

Không cùng sắc cũng sánh tày như nhau.

Thọ, tưởng, hành, thức, uẩn nào,

Cũng như sắc uẩn một màu không không.

Này Xá Lợi Tử ghi lòng:

Pháp không tướng ấy, đều không tướng hình.

Không tăng giảm, không trược thanh,

Cũng không diệt, cũng không sanh pháp đồng.

Vậy nên trong cái chơn không,

Vốn không năm uẩn, cũng không sáu trần.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân,

Vị, hương, xúc, pháp, cùng phần sắc, thinh.

Từ không giới hạn mắt nhìn,

Đến không ý thức, vô minh cũng đồng.

Hết vô minh cũng vẫn không,

Chết già, hết chết già không có gì.

Không khổ, tập, diệt, đạo kia,

Trí tuệ chứng đắc, cũng là không không.

Sở thành, sở đắc bởi không,

Các vị Bồ tát nương tùng tuệ năng.

Tâm không còn chút ngại ngăn,

Nên không còn chút băn khoăn sợ gì.

Đảo điên mộng tưởng xa lìa,

Niết bàn mới đến bên kia bến bờ.

Ba đời chư Phật sau xưa,

Đắc thành Chánh giác đã nhờ tuệ năng.

Trí tuệ năng lực vô ngần,

Đại minh vô thượng, đại thần cao siêu.

Trí tuệ năng lực có nhiều,

Thật là thần chú trừ tiêu não phiền.

Trí tuệ năng lực vô biên,

Dẫn đường giải thoát qua bên giác ngàn.

Liền theo lời chú thuyết rằng:

“Độ cho giác ngộ khắp trần chúng sanh”. O

 

SÁM THẬP PHƯƠNG

Mười phương ba đời Phật,

Di Đà đệ nhứt danh.

Độ sanh lên chín phẩm,

Oai đức rộng thinh thinh.

Con nay ( ) quy y Phật, O

Diệt ba nghiệp mê tình.

Bao nhiêu phần phước đức,

Hồi hướng khắp nhân sanh.

Nguyện cùng người niệm Phật,

Cảm ứng hiện điềm lành.

Lâm chung thấy cảnh Phật.

Trước mắt hiện đành rành.

Thấy nghe đều tinh tấn.

Cực Lạc được vãng sanh.

Thấy Phật dứt sanh tử.

Như Phật độ hàm linh.

Trừ vô biên phiền não.

Tu vô lượng pháp lành.

Chúng sanh nguyền tế độ.

Phật đạo thảy viên thành.

Hư không còn có hết.

Bổn nguyện vốn không cùng.

Hữu tình vô tình khắp.

Trí tuệ chứng viên thông. O

 

THẬP NGUYỆN

Một nguyền lễ kính Như Lai,

Hai nguyền xưng tán công dày Thế Tôn.

Ba nguyền tu phước cúng dường,

Bốn nguyền sám hối nghiệp vương tội trần.

Năm nguyền tùy hỷ công huân,

Sáu nguyền thỉnh chuyển pháp luân độ người.

Bảy nguyền thỉnh Phật ở đời,

Tám nguyền học Phật tùy thời phát minh.

Chín nguyền hằng thuận chúng sanh,

Mười nguyền hồi hướng phước lành khắp nơi. O

 

PHÚNG KINH

Tụng kinh công đức tuyệt vời,

Xin đem hồi hướng khắp người gần xa.

Chúng sanh pháp giới Ta Bà,

Mau về cõi Phật Di Đà, Tây Thiên. O

 

NGUYỆN TIÊU

Nguyện tiêu tam chướng não phiền,

Nguyện thành trí tuệ vô biên tuyệt vời.

Nguyện bao nghiệp tội xa rời,

Nguyện hành Bồ tát đời đời độ tha. O

 

NGUYỆN SANH

Nguyện về Tịnh Độ nước nhà,

Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình.

Hoa khai, ngộ pháp Vô sanh,

Bất thối Bồ tát bạn lành dựa nương. O ( )

 

HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức lành,

Hồi hướng cho tất cả.

Chúng con ( ) với chúng sanh,

Đều chứng thành Phật quả. O

 

TỰ QUY Y

Tự quy y Phật,

Cầu cho chúng sanh,

Hiểu rõ đạo lành,

Phát lòng vô thượng. O

 

Tự quy y Pháp,

Cầu cho chúng sanh,

Kinh luật hiểu rành,

Trí tuệ như biển. O

 

Tự quy y Tăng,

Cầu cho chúng sanh,

Hiệp chúng đồng tình,

Chẳng hề trở ngại. O

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. O (3 lần)

    Chia sẻ với thân hữu: