Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Kinh Khóa Hư - Quyển Hạ

Tinhhoabiyeu

 KINH KHÓA HƯ

QUYỂN HẠ

 

CẢNH SÁCH BUỔI HOÀNG HÔN

Bóng ngả nương dâu tối,

Vầng ô thoáng lặng rồi.

Quang âm nào đứng mãi,

Già bịnh cứ trêu người.

Giờ chết khoan sao được,

Ngày đi hết cách lôi.

Ai ơi nên tỉnh sớm,

Chớ mê mẩn qua đời.

 

BÁT KHỔ

Sanh thì tất tả long đong,

Già thì gối lỏng răng long mắt loà.

Bịnh làm đau đớn thiết tha,

Chết vì nghiệp ác đọa sa ba đường.

Ái ân ly biệt xót thương,

Oán thù gặp gỡ thêm càng đắng cay.

Cầu mong chẳng được buồn thay,

Ngũ ấm nung nấu biết ngày nào thôi.

 

DÂNG HƯƠNG BUỔI HOÀNG HÔN

Phục dĩ:

Lửa đóm trên không,

Đèn chài dưới nước.

Trên đàn đủ các trai Tăng,

Trong lư vừa châm hương báu.

Hương này:

Vật không ở núi,

Giống chẳng phải trầm.

Há dễ Thần Long gây được,

Chính là Bồ-tát thu tàng.

Bụi Kê Thiệt giải ăn thứ nhất,

Rừng Ngưu Đầu giá chiếm không hai.

Dùng gươm tuệ chặt, mà vót bằng dao giới, coi tướng thanh kỳ;

Lấy nước định rửa, mà đốt bằng lửa muội, hơi thơm ngào ngạt.

Không những tại đàn thấy ngát,

Khắp trong mọi chốn đều thơm.

Một sợi hương xông,

Bao đời nghiệp sạch.

Nay buổi mới tối,

Đốt hương cúng dường.

 

DƯNG HƯƠNG

Hương này lấy ở rừng thiền,

Trồng nơi tuệ uyển thiên nhiên ngạt ngào.

Dao giới vót hình núi cao,

Đốt lò tâm nguyện muôn thâu cúng dường.

 

DƯNG HOA

Hoa tâm cánh nở màu tươi,

Mùi thơm sực nức, hoa trời kém xa.

Phật tiền dâng cúng tâm hoa,

Muôn thu gió nghiệp thổi qua không xàu.

 

TÂU BẠCH

Kính tâu:

Đại Giác thập phương,

Hùng Sư tam thế.

Mở rộng đèn tuệ Chư Phật,

Soi tỏ nhà tối chúng sanh.

Trộm nghe:

Tiếng ốc trên lầu mới vắng,

Tiếng trống cầm canh vừa truyền.

Nhà nào nhà nấy đèn sáng trưng,

Chốn nọ chốn kia sáp cháy rực.

Ngoài bãi tía, ngựa dừng tiếng hét,

Giữa ao trong, cá lẩn mất tăm.

Lập loè mặt nước đóm bay qua,

Lấp ló đầu non trăng lặn xuống.

Trước lầu anh võ, miệt mài cái thú yên hoa;

Bên đài phượng hoàng, say đắm cuộc vui chè rượu.

Cợt gió cười trăng,

Gảy đàn thổi sáo.

Ai nấy đăm đăm duyên trước mắt,

Người đều quên cả việc sau thân.

Các Phật tử ơi!

Nên rõ đường trước khó cất bước,

Đừng ham gối cao ngủ giấc nồng.

Lên giường chưa chắc xuống giường,

Tối này ai hay tối khác.

Cửa đệ nhất nghĩa nên thẳng tới,

Đường tam ác đồ chớ bước vào.

Quay đầu nhận rõ lối quê nhà,

Mở mắt chớ mơ phù thế mộng.

Chúng con kính tưởng giờ này định làm khóa lễ buổi tối.

 

SÁM HỐI NGHIỆP CĂN: LƯỠI

Dốc lòng sám hối:

Chúng con bởi từ bao nhiêu kiếp tới nay:

Bổn tâm bỏ mất,

Chánh đạo xa vời.

Đọa ba đường khổ,

Bởi sáu căn sai.

Trước chẳng sám hối,

Sau khó kịp theo.

Nghiệp căn lưỡi là:

Tham đủ mọi mùi,

Thích rành tốt xấu.

Nếm qua các thức,

Biết rõ béo gầy.

Càng hại mạng vật,

Nuôi sướng tấm thân.

Thái rán loài bay, loài lặn,

Nấu kho giống chạy, giống bơi.

Hành tỏi xông ruột,

Béo gây ngấy mồm.

Ăn rồi xét lại,

Có no mãi đâu.

Hoặc tới đàn chay,

Cầu thần lễ Phật.

Cố chịu nhịn đói,

Đợi lúc việc xong.

Sáng sớm ăn chay,

Nước nhiều cơm ít.

Hệt tựa người đau,

Cố nuốt thuốc cháo.

Mỡ màng đầy mắt,

Cười nói nhởn nhơ.

Ăn thách uống thi,

Lấy nóng bỏ lạnh.

Thết đãi khách khứa,

Dựng vợ gả chồng.

Giết hại chúng sanh,

Đều vì ba tấc.

Nói dối ra tuồng,

Nói thêu nên chuyện.

Hai lưỡi lắt léo,

Ác khẩu gớm ghê.

Chửi mắng Tam Bảo,

Nguyền rủa hai thân.

Mạn Thánh khinh hiền,

Dối cha lừa chúa.

Chê bai người khác,

Che đậy lỗi mình.

Bàn bạc cổ kim,

Khen chê đây đó.

Khoe khoang giàu có,

Lấn hiếp bần cùng.

Xua đuổi Tăng Ni,

Đánh mắng tôi tớ.

Lời gièm như thuốc độc,

Nói khéo tựa vè đàn.

Nhầm lướt lên hay,

Hư kêu là thiệt.

Oán trách nắng rét,

Sỉ nhổ non sông.

Nói đùa trong phòng Tăng.

Làm rầm nơi niệm Phật.

Những tội như thế,

Vô lượng vô biên.

Như thể bụi trần,

Tính không xiết được.

Sau khi chết rồi,

Vào ngục lôi lưỡi.

Cày sắt kéo dài.

Nước đồng rót mãi.

Hết báo địa ngục.

Muôn kiếp mới sanh,

Dầu được làm người.

Lại bị câm nữa !

Nếu chẳng sám hối,

Sao được tiêu trừ.

Đối trước Phật nay,

Xin sám hối cả.

(Sám hối, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG KHUYẾN THỈNH

Khuyến thỉnh thập phương tam thế Phật,

Các vì Thánh Hiền Tăng Bồ-tát.

Mở lòng vô lượng đại từ bi,

Độ tận chúng sanh sang bến giác.

(Khuyến thỉnh, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG TÙY HỶ

Con nay vui vẻ tin theo Phật,

Thành kính hôm mai sám lỗi xưa.

Nguyện sớm qua về thang Thập địa,

Chơn tâm Chánh giác chẳng lùi xa.

(Tùy hỷ, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG HỒI HƯỚNG

Đệ tử hồi tâm cửa đạo về,

Dập đầu kính lễ đức Từ Bi.

Nguyện đem công đức cho sanh chúng,

Nhơn tốt xin thành Chánh Biến Tri.

(Hồi hướng, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG PHÁT NGUYỆN

Một nguyện: Ăn thích mùi ngon pháp vô thượng.

Hai nguyện: Thổ hết thức đời chuộng tanh hôi.

Ba nguyện: Tài biện bác trừ đời mê hoặc.

Bốn nguyện: Thích nói luôn độ thoát quần sanh.

Năm nguyện: Lúc uốn lại chứa thành vô tận.

Sáu nguyện: Dòng pháp mầu hút nhẵn vào trong.

Bảy nguyện: Sớm nhận chốn ông Đại Ngu bỏ.

Tám nguyện: Tiếng Lâm Tế mau tỏ đồng thanh.

Chín nguyện: Lưỡi dài rộng đủ hình như Phật.

Mười nguyện: Sạch trong không còn rớt bụi trần.

Mười một nguyện: Thế gian không ai câm ngọng nữa.

Mười hai nguyện: Địa ngục kia hết cửa kéo cày.

(Phát nguyện, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

VÔ THƯỜNG BUỔI HOÀNG HÔN

Mặt trời đã lặn tối lem nhem,

Đường tối bồn chồn lại tối thêm.

Đuốc của người ngoài chăm gợi thắp,

Đèn nhà mình đó chẳng soi xem.

Lừ đừ bóng ác non Tây lẩn,

Lấp lánh vầng trăng ánh bể lên.

Sống chết đổi thay đều thế cả,

Qui y Tam Bảo mới là yên.

 

DƯNG HƯƠNG BUỔI NỬA ĐÊM

Phục dĩ:

Giọt lậu canh ba vừa chuyển,

Tiếng kêu hằng vạn đều yên.

Lục hòa Tăng lữ họp đàn nghiêm,

Một nén hương thơm lừng pháp giới.

Hương này:

Âm dương kết tụ,

Trời đất sanh thành.

Vun trồng nào phải công nhất thế,

Gìn giữ là nhờ sức bách thần.

Cội cành tươi tốt, đã nhuần mưa pháp chứa chan;

Thể chất thanh cao, nhờ có mây lành che phủ.

 Giống lạ chớ đem cây thường sánh,

Hương thanh đâu hứa kẻ phàm hay.

Đem tới lư vàng, vừa mới hun lên trên ngọn lửa;

Kết thành bảo cái, đã bay nghi ngút đến đầu mây.

Dám bày nghi lễ cúng Thánh,

Chút tỏ lòng tin thông phàm.

Nay buổi nửa đêm,

Đốt hương cúng dường.

 

DƯNG HƯƠNG

Hương này lấy ở rừng thiền,

Trồng nơi tuệ uyển thiên nhiên ngạt ngào.

Dao giới vót hình núi cao,

Đốt lò tâm nguyện muôn thâu cúng dường.

 

DÂNG HOA

Hoa tâm cánh nở màu tươi,

Mùi thơm sực nức, hoa trời kém xa.

Phật tiền dâng cúng tâm hoa,

Muôn thu gió nghiệp thổi qua không xàu.

 

TÂU BẠCH

Kính tâu:

Đại Giác thập phương,

Hùng Sư tam thế.

Ruổi tay vàng tiếp dẫn quần sanh,

Phóng tia sáng soi quang mọi cõi.

Trộm nghe:

Giờ quay sang Tý,

Đêm đã nửa rồi.

Ngọn đèn trông đợi bạc hồ tàn,

Luồng bụi ngoài đường đông đều sạch.

Mấy trận gió mây sanh vạn dặm,

Một vầng trăng tỏ chiếu canh ba.

Lơ thơ rừng trúc ánh màu vàng,

Lấp lánh hoa sân khoe vẻ ngọc.

Hạc oán nín hơi trong trướng huệ,

Vượn thương kêu rít chốn tùng quan.

Xa xa sao gác sông Ngân Hán,

Văng vẳng ma rên chốn nội hoang,

Quốc kêu thảm thiết,

Bướm ngủ mê man.

Thân giả dối bóng lẻ trong rừng,

Hồn vơ vẩn xa đi ngàn dặm.

Đành cho ma ngủ quấy luôn luôn,

Nào biết đuốc tâm thường rực rỡ.

Ngoài nhà thần, phách lạc hồn bay,

Trong hang quỷ, tinh vùi mắt nhắm.

Chỉ biết ham mê giấc ngủ,

Nào hay tới chốn Chơn như.

Nên biết một giấc đợi trời sáng,

Lo chi trăm năm lúc tắt hơi.

Các Phật tử ơi!

Nên nghĩ tứ xà bức bách,

Chớ quên nhị thử gậm tha.

Luân hồi tam giới sớm tối thôi,

Quanh quẩn tử sanh ngày nào dứt.

Nên gắng lên lối vãng sanh,

Cần bám vào xe tiếp dẫn.

Cửa ngục nơi nào,

Đêm nay phá vỡ.

Chúng con kính tưởng giờ này định làm khóa lễ nửa đêm.

 

SÁM HỐI NGHIỆP CĂN: THÂN

Dốc lòng sám hối:

Chúng con bởi từ bao nhiêu kiếp tới nay:

Bổn tâm bỏ mất,

Chánh đạo xa vời.

Đọa ba đường khổ,

Bởi sáu căn sai.

Trước chẳng sám hối,

Sau khó kịp theo.

Nghiệp căn thân là:

Tinh cha huyết mẹ,

Giả hợp thành hình.

Năm tạng trăm thần,

Cùng nhau kết hợp.

Chấp mình là thiệt,

Quên mất pháp thân.

Tạo sát, đạo, dâm,

Thành ra ba nghiệp.

Nghiệp sát sanh là:

Thường làm tàn ác,

Không dạ từ nhơn.

Tàn hại bốn loài,

Biết đâu nhất thể !

Lầm thương cố giết,

Tự làm, sai người.

Hoặc vẽ bùa bèn,

Dùng cách yểm ác.

Hoặc dùng thuốc độc,

Làm hại sanh linh.

Chỉ cốt hại người,

Không hề thương vật.

Hoặc đốt núi chằm,

Hoặc lấp khe suối.

Cắm chài giăng lưới,

Thả cắt xuýt muông.

Thấy nghe mừng thích,

Nghĩ ngợi tưởng làm.

Cử động xoay vần,

Đều là tội cả.

Nghiệp trộm cắp là:

Thấy tiền của người,

Lòng riêng ngỏm ngợi.

Đập khóa mở ngăn,

Sờ bao thò túi.

Thấy của nhà Phật,

Nổi tấm lòng tham.

Cướp làm của riêng,

Không e thần giận.

Không những vàng ngọc,

Mới phạm tội to.

Ngọn cỏ cây kim,

Đều là nghiệp trộm.

Nghiệp tà dâm là:

Lòng mê thanh sắc,

Mắt đắm phấn son.

Chẳng đoái nết trinh,

Những sanh tư dục.

Hoặc ở nơi sạch,

Điện Phật phòng Tăng.

Đụng chạm gái trai,

Cùng nhau đùa bỡn.

Tung hoa ném quả,

Séo cẳng vỗ vai.

Khoét ngạch trèo tường,

Đều thành dâm nghiệp.

Những tội như thế,

Vô lượng vô biên.

Đến lúc chết rồi,

Sa vào địa ngục.

Trai ôm cột đồng,

Gái nằm giường sắt.

Muôn kiếp mới sanh,

Lại vương tội báo.

Nếu không sám hối,

Sao được tiêu trừ.

Đối trước Phật nay,

Xin sám hối cả.

(Sám hối, đoạn dốc lòng kính lễ vô lượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG KHUYẾN THỈNH

Khuyến thỉnh thập phương tam thế Phật,

Các vì Thánh, Hiền, Tăng Bồ-tát.

Mở lòng vô lượng đại từ bi,

Độ tận chúng sanh sang bến giác.

(Khuyến thỉnh, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG TÙY HỶ

Con nay vui vẻ tin theo Phật,

Thành kính hôm mai sám lỗi xưa.

Nguyện sớm qua về thang Thập địa.

Chơn tâm Chánh giác chẳng lùi xa.

(Tùy hỷ, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG HỒI HƯỚNG

Đệ tử hồi tâm cửa đạo về,

Dập đầu kính lễ đức Từ Bi.

Nguyện đem công đức cho sanh chúng,

Nhơn tốt xin thành Chánh Biến Tri.

(Hồi hướng, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG PHÁT NGUYỆN

Một nguyện: Mạng căn mau mau thành tuệ mạng.

Hai nguyện: Thể tướng này biến chứng chơn thân.

Ba nguyện: Gieo đầu núi mong tầm phép lớn.

Bốn nguyện: Xuống hầm lửa thấu hẳn nhơn sâu.

Năm nguyện: Đốt xác này đền bù sức Phật.

Sáu nguyện: Đập tủy ra báo đức ơn Thầy.

Bảy nguyện: Xin đầu cũng cho ngay chẳng tiếc.

Tám nguyện: Khoét mắt ra vẫn thích làm thân.

Chín nguyện: Nhồi sáp thơm không phần vui thú.

Mười nguyện: Cắt thịt đi chẳng có giận hờn.

Mười một nguyện: Đời đời không ái ân trăng trói.

Mười hai nguyện: Kiếp kiếp xa những lối bụi trần.

(Phát nguyện, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam bảo khắp mười phương)

 

VÔ THƯỜNG BUỔI NỬA ĐÊM

Muôn tiếng vừa yên lặng,

Canh ba trống mới hồi.

Quốc kêu đang thảm thiết,

Giấc bướm vẫn miệt mài.

Kiến lẩn cây hoè mục,

Cá ngoi mặt nước bơi.

Không coi vầng trăng mọc,

Những mến đóa hoa cười.

Lạc nhà xa ngàn dặm,

Giấc ngủ vẫn tham hòai.

Chẳng biết thân là giả,

U mê suốt một đời.

 

DƯNG HƯƠNG BUỔI QUÁ ĐÊM

Phục dĩ:

Chuôi sao quay Bắc,

Sông Hán về Tây.

Giấc bướm bên gối còn say,

Tiếng ốc trên lầu hồ dứt.

Sắp hàng tăng chúng tới Pháp đàn,

Trước tượng Thế Tôn dâng hương báu.

Hương này:

Trồng ở cung trăng đem lại,

Rễ ăn trong núi quấn quanh.

Dáng màu khác tục,

Thể chất vô trần.

Xa vượt Tước Đầu nước Ngô nọ,

Cao hơn Quy Giáp rừng Quế kia.

Đốt lên tắt ngay lửa giận,

Xông ra nhờ trận gió từ.

Nào phải giống thơm hạ phẩm,

Thực là mùi lạ thượng phương.

Mảnh khảnh như tơ hồng khí đẹp,

Ngạt ngào mùi tốt hóa điềm lành.

Nghi ngút trước nơi bảo tọa,

Tờ mờ ngoài chốn rèm châu.

Quay đầu tìm kiếm, quang minh nơi đó tự nhiên sanh;

Thấy mặt ngát mùi, tịch diệt bởi đây thân chứng được.

Nay buổi quá đêm,

Đốt hương cúng dường.

 

DƯNG HƯƠNG

Hương này lấy ở rừng thiền,

Trồng nơi tuệ uyển thiên nhiên ngạt ngào.

Dao giới vót hình núi cao,

Đốt lò tâm nguyện muôn thâu cúng dường.

 

DƯNG HOA

Hoa tâm cánh nở màu tươi,

Mùi thơm sực nức, hoa trời kém xa.

Phật tiền dâng cúng tâm hoa,

Muôn thu gió nghiệp thổi qua không xàu.

 

TÂU BẠCH

Kính tâu:

Đại Giác thập phương,

Hùng Sư tam thế.

Rót cam lộ cứu kẻ cơ cầu,

Cầm thần châu soi nơi tăm tối.

Trộm nghe:

Sâu kêu năm dạo,

Gà giục ba hồi.

Bóng đuốc tiệc mồi hồ tàn hết,

Bóng sao Ngân Hán đã lặn rồi.

Giấc điệp lại quay về thế mộng,

Tiếng chuông khua tán chốn âm thầm.

Trăng mờ vừa ngậm vành non biếc,

Trời đỏ chưa nhô mặt biển xanh.

Tiếng sâu tường cổ gấp kêu,

Vó ngựa đường quan mới động.

Mù mịt đầu thành khói nhạt bay,

Lả tả ngoài trời móc sớm tỏa.

Chính là lúc đạo sĩ triều chân,

Vừa giữa buổi Tăng già hành đạo.

Ngàn nhà muôn họ cửa còn đóng,

Một đêm sáu dạo công đã thành.

Đường thế mịt mùng,

Quần sanh tất tả.

Tuy kinh giấc ngủ ôm gối nằm,

Chửa tỉnh trọn đời mở mắt dậy.

Các Phật tử ơi!

Nếu cứ suốt đêm chơi túng tứ,

Thì thấy trọn ngày tâm tối tăm.

Đến nỗi trăng trói một đời,

Đều do vẩn vơ hai chữ.

Vì ngươi chỉ mở tia sáng soi,

Để lại sau này mà tự xét.

Nên biết mạng người vô thường,

Chớ để lúc này lỡ mất.

Phải thấy Đại Bi ngay trước mắt,

Phải nhìn Chánh Giác tự trong lòng.

Nếu hay đảm đang nhận ngay,

Liền được hiển hiện luôn đó.

Chúng con kính tưởng giờ này định làm khóa lễ quá đêm.

 

SÁM HỐI NGHIỆP CĂN: Ý

Dốc lòng sám hối:

Chúng con bởi từ bao nhiêu kiếp tới nay:

Bổn tâm bỏ mất,

Chánh đạo xa vời.

Đọa ba đường khổ,

Bởi sáu căn sai.

Trước chẳng sám hối,

Sau khó kịp theo.

Nghiệp căn ý là:

Nghĩ vơ nghĩ vẩn,

Không lúc nào dừng.

Mắc mứu tình trần,

Lấp tâm chấp tướng.

Như tằm kéo kén,

Càng buộc càng bền.

Như ngài vào đèn,

Tự thiêu tự đốt.

Tối tăm không tỉnh,

Nghiêng ngửa sanh xằng.

Khuấy rối tấc lòng,

Đều do tam độc.

Tội keo tham là:

Mưu ngầm ghen ghét,

Keo cú vơ cào.

Một vốn ngàn lời,

Còn cho chưa đủ.

Tiền như nước chứa,

Lòng tựa chén rò.

Rót vào lại hết,

Nên nói chưa đầy.

Tiền mục thóc vàng,

Không cứu đói rét.

Lụa chồng là chất,

Nào có giúp cho.

Được người mấy trăm,

Chưa nói là nhiều.

Hại mình một đồng,

Làm như hao lớn !

Trên từ của quý,

Dưới đến tơ gai.

Kho đụn chất đầy,

Chưa từng bố thí.

Biết bao nhiêu sự,

Ngày tính đêm lo.

Khổ tứ lao thần,

Đều theo tham nghiệp.

Tội sân nộ là:

Lấy tham làm gốc,

Lửa sân bốc ngay.

Quắc mắt quát to,

Đốt thương hòa khí.

Không những kẻ tục,

Cả đến chúng Tăng.

Kinh Luận bàn pha,

Cùng nhau công kích.

Chê cả Sư Trưởng,

Nhiếc đến Mẹ Cha !

Héo lá úa cành,

Nồng nàn lửa độc.

Buông lời tổn vật,

Cất tiếng hại người.

Không nghĩ từ bi,

Không theo luật cấm.

Bàn suông tựa Thánh,

Tới cảnh như ngu.

Dẫu ở không môn,

Chưa thành vô ngã.

Như cây sanh lửa,

Lửa cháy đốt cây.

Những lỗi trên đây,

Đều do sân nghiệp.

Tội ngu si là:

Tín căn ngoan độn,

Ý thức tối tăm.

Không biết tôn ti,

Không chia thiện ác,

Chặt cây đau xác.

Giết gấu gãy tay.

Nhiếc Phật thành tai,

Nhổ Trời ướt mặt !

Quên ơn quên đức,

Bội nghĩa bội nhân.

Không xét không hay,

Đều vì si nghiệp.

Những tội như thế,

Rất nặng rất sâu.

Đến khi chết rồi,

Đọa vào địa ngục.

Trải ngàn ức kiếp,

Mới được thác sanh.

Dầu được thác sanh,

Bị báo ngoan ác.

Nếu chẳng sám hối,

Sao được tiêu trừ.

Đối trước Phật nay,

Xin sám hối cả.

(Sám hối, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG KHUYẾN THỈNH

Khuyến thỉnh thập phương tam thế Phật,

Các vì Thánh, Hiền, Tăng Bồ-tát.

Mở lòng vô lượng đại từ bi,

Độ tận chúng sanh sang bến giác.

(Khuyến thỉnh, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG TÙY HỶ

Con nay vui vẻ tin theo Phật,

Thành kính hôm mai sám lỗi xưa.

Nguyện sớm qua về thang Thập địa

Chơn tâm Chánh giác chẳng lùi xa.

(Tùy hỷ, đoạn dốc lòng kính lễ vô lượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG HỒI HƯỚNG

Đệ tử hồi tâm cửa đạo về,

Dập đầu kính lễ đức Từ Bi.

Nguyện đem công đức cho sanh chúng,

Nhơn tốt xin thành Chánh Biến Tri.

(Hồi hướng, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

DỐC LÒNG PHÁT NGUYỆN

Một nguyện: Nguồn linh thường một màu trong vắt.

Hai nguyện: Tạng thức kia hết đất lân la.

Ba nguyện: Mối ngờ vực phá ra tan tác.

Bốn nguyện: Trăng định soi thường được đoàn viên.

Năm nguyện: Pháp trần lặng không lên không diệt.

Sáu nguyện: Lưới ái ân dứt tuyệt giằng co.

Bảy nguyện: Ngôi Thập địa toan lo cho được.

Tám nguyện: Cõi Tam Thiên thấu thực bỏ nguy.

Chín nguyện: Tâm viên hết giơ tay lên nữa.

Mười nguyện: Ý mã không phải lựa dây cương.

Mười một nguyện: Lòng vui vẻ theo gương Phật giáo.

Mười hai nguyện: Tính thích ưa thấm đạo tham thiền.

(Phát nguyện, đoạn dốc lòng kính lễ vô thượng Tam Bảo khắp mười phương)

 

VÔ THƯỜNG BUỔI QUÁ ĐÊM

Trống pháp dạo tan phù thế mộng,

Chuông chùa khua động khắp gần xa.

Vẫn ham giấc ngủ đang mài miệt,

Chẳng quản vầng đông đã chói loà.

Vằng vặc đêm trường còn có sáng,

Mịt mù lối quỷ khó tìm ra.

Nay không cố gắng công trau đạo,

Ngày khác làm sao gặp Phật Đà.

 

CẢNH SÁCH CHUNG

Sanh, già, bịnh, chết,

Lẽ thường tự nhiên.

Muốn cầu giải thoát,

Lại càng rối ren.

Mê mà cầu Phật,

Hoặc mà cầu thiền.

Thiền không cầu nữa,

Ngậm miệng ngồi yên.

 

    Chia sẻ với thân hữu: