Trong khuôn khổ khóa “Sống chung tu học” lần thứ 4 của Ni giới GĐ.IV PGKS, sáng 10/05/2026 (20/03/Bính Ngọ), chư hành giả Ni tại khóa tu đã được lắng nghe thời pháp thoại từ HT. Giác Pháp – Ủy viên HĐTS, Phó Trưởng ban Nghi lễ TƯGH, Phó Thường trực Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái, Tri sự trưởng GĐ.V PGKS, thông qua chủ đề "Những yếu tố căn bản một vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni cần học tập, hành trì".
.jpg)
Đưa ra một ví dụ gần gũi nhưng đầy ý nghĩa để minh họa cho con đường tu học của người xuất gia, Hòa thượng khẳng định: "Cũng như một học sinh ở bậc tiểu học phải nắm vững bốn phép tính căn bản: cộng, trừ, nhân, chia và thuộc lòng bảng cửu chương, thì khi lên các bậc học cao hơn mới có thể học phương trình, căn số, lũy thừa hay giải tích, hình học không gian; người xuất gia cũng vậy, trước hết phải có nền tảng căn bản vững chắc mới mong tiến sâu trên con đường đạo nghiệp".
Theo Hòa thượng, một vị xuất gia trước tiên phải học thuộc giới luật. Tuy nhiên, học giới thôi vẫn chưa đủ, mà còn phải học kinh, học luật, học oai nghi tế hạnh của người tu sĩ. Nếu thiếu sự học căn bản, việc tu hành sẽ trở nên chông chênh, dễ rơi vào tình trạng tu mà không có gốc rễ. "Vì thế, người xuất gia cần phải kiên trì rèn luyện thân tâm, trau dồi đạo hạnh từng ngày, chứ không phải chỉ đơn giản cạo bỏ mái tóc, khoác lên mình chiếc áo Cà-sa, hằng ngày ăn chay, tụng kinh, làm công quả là có thể thành tựu được đạo quả giải thoát trong giáo pháp của Đức Như Lai", Hòa thượng nhấn mạnh.
Để giúp đại chúng dễ lãnh hội, Hòa thượng chia thời pháp thành hai phần trọng yếu: "Bước đầu xuất gia" và "Những yếu tố căn bản mà một vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni cần phải học tập, hành trì".
.jpg)
Nói về bước đầu xuất gia, Hòa thượng cho rằng, điều quan trọng không nằm ở thời gian xuất gia bao lâu, mà cốt yếu là xuất gia như thế nào và đã thực hiện được ý nghĩa chân thật của đời sống xuất gia ra sao. Trong đó, HT. Giác Pháp chỉ rõ, xuất gia có ba ý nghĩa lớn: xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia.
Giảng về “xuất thế tục gia”, Hòa thượng nhận định, người xuất gia phải tập từ bỏ tâm phàm để hướng đến tâm Thánh, từ bỏ đời sống gia đình để bước vào đời sống không gia đình, nương tựa nơi Tăng đoàn thanh tịnh và sống trong tinh thần hòa hợp. Mối liên kết của người xuất gia không còn là huyết thống thế gian, mà là sự gắn kết bằng giới luật, đạo tình và lý tưởng giải thoát. Hòa thượng lưu ý đại chúng: "Nhiều người tuy đã rời bỏ mái nhà thế tục nhưng khi vào chùa lại chấp ngôi Tịnh xá, tự viện coi là nhà của mình. Như vậy chẳng khác nào bỏ ngôi nhà nhỏ để bước vào ngôi nhà lớn hơn mà thôi. Ngay cả những vị tuổi đạo cao, làm trụ trì lâu năm cũng có thể vướng vào sự chấp trước ấy. Đây là điều vô cùng nguy hiểm cho con đường tu học, vì như vậy là chúng ta chưa thật sự đạt được ý nghĩa của xuất thế tục gia".
Mặt khác, về “xuất phiền não gia”, HT. Giác Pháp dẫn lời trong Quy Sơn cảnh sách: "Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân…", để khẳng định rằng, người xuất gia phải bước đi trên con đường siêu việt, rèn luyện thân tâm khác hẳn người thế tục và tự mình hàng phục ma quân phiền não. Bởi lý tưởng xuất gia là sống đời phạm hạnh, chiến thắng những giặc phiền não như tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, phẫn nộ… Muốn được như vậy, theo Hòa thượng, người tu phải biết quay về rèn tâm, sửa tâm từng ngày. Bởi lẽ, "tu hành không phải sống lâu lên lão làng, không phải nhiều tuổi đạo rồi sanh tâm cống cao, ngạo mạn. Nếu tu lâu mà ngã mạn càng lớn thì đó là điều vô cùng nguy hiểm. Vì thế, mỗi hành giả phải luôn biết tự điều phục, tự khắc chế nội tâm để thoát khỏi sự chi phối của ma quân phiền não", Hòa thượng khuyến tấn.
.jpg)
Đối với ý nghĩa thứ ba là “xuất tam giới gia”, tức vượt thoát ba cõi sáu đường, Hòa thượng dạy rõ: "Nếu người xuất gia tu hành mà vẫn còn mãi quanh quẩn trong vòng luân hồi sinh tử thì thật uổng phí cả một đời tu. Do đó, hành giả phải luôn tự nhắc nhở mình tinh tấn tu tập để thoát ly sinh tử, vì đây mới chính là mục đích tối thượng của người xuất gia".
Từ đây, Hòa thượng tiếp tục khai thị về năm đức tính căn bản của người xuất gia, hay còn gọi là "Ngũ đức xuất gia', mà bất cứ ai phát tâm bước vào cửa đạo cũng cần phải hiểu rõ và thực hành.
.jpg)
Qua đó, Hòa thượng đã giảng giải cặn kẽ nhằm hun đúc nơi chư hành giả Ni một chí nguyện mạnh mẽ và kiên định: "Người học đạo phải luôn tinh tấn, không được để chí nguyện xuất gia ban đầu bị mai một theo năm tháng. Trong tâm tư phải luôn nghĩ tới việc chống đỡ ngôi nhà Tam bảo, không để bị suy vong, phải sớm tối lo nghĩ việc hoằng truyền mối đạo rộng lớn. Chúng ta phải luôn ghi nhớ mục đích tối hậu là 'thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh', lấy đó làm kim chỉ nam cho suốt hành trình tu học của mình".
Tuy nhiên, để thực hiện được chí nguyện ấy, hành giả cần bước sang giai đoạn thứ hai, đó là học tập và hành trì những yếu tố căn bản của một vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, mà theo HT. Giác Pháp, nền tảng đầu tiên chính là tu tập tam vô lậu học: giới, định và tuệ để đoạn trừ lậu hoặc.
Nói đến tu giới, không phải chỉ đơn giản giữ đủ 250 giới của Tỳ-kheo hay 348 giới của Tỳ-kheo-ni là đã viên mãn giới pháp. Bởi giới luật còn bao gồm Tam tụ tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Ngoài ra còn phải hiểu rõ các khái niệm “chỉ trì”, “tác trì”, “chỉ phạm”, “tác phạm”. Nếu không học cho thấu đáo thì rất khó thực hành giới pháp một cách trọn vẹn.
.jpg)
Đối với định và tuệ, Hòa thượng nhấn mạnh, người tu cần phải hành thiền miên mật. "Muốn có định lực và trí tuệ, hành giả Ni phải biết vận dụng năm thiền chi gồm: tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Trong đó, 'tầm' là hướng tâm đến đề mục thiền, 'tứ' là duy trì và quán sát liên tục trên đề mục ấy, 'hỷ' là niềm vui nhẹ nhàng phát sinh khi tâm an trú, 'lạc' là trạng thái an vui sâu lắng, còn 'nhất tâm' là sự tập trung tuyệt đối, không tán loạn – yếu tố cốt lõi đưa đến thiền định sâu xa", Hòa thượng chỉ rõ.
Ngoài ra, theo Hòa thượng, còn có rất nhiều pháp môn thiền tập khác nhau, tùy theo căn cơ mỗi người mà hành trì thích hợp. Tuy nhiên điều cốt yếu vẫn là sự hành trì miên mật, nếu hành giả không hiểu rõ các pháp môn và tự thực tập miên mật, thì khó có thể thành tựu định và phát sinh trí tuệ.
Hòa thượng cũng nhắc đến nhiều ví dụ trong kinh Trung Bộ mà Đức Phật đã dùng để giáo hóa hàng đệ tử, như ví dụ lõi cây, ví dụ người làm vườn, người thợ đóng xe hay người chăn bò… Qua đó cho thấy, nếu không thấu hiểu lời Phật dạy thì hành giả khó có thể áp dụng đúng phương pháp tu tập để thanh lọc thân tâm. Mà khi thân tâm chưa được thanh lọc thì làm sao có thể bước vào dòng Thánh đạo.
.jpg)
"Để thật sự xứng đáng với danh xưng 'Chúng trung tôn', người xuất gia phải nỗ lực tu học không ngừng nghỉ. Con đường giải thoát chưa bao giờ là điều dễ dàng. Nếu dễ, Đức Phật và chư Tổ xưa kia đã không phải trải qua bao năm tháng nhọc nhằn, dùng vô lượng phương tiện, diễn nói giáo pháp suốt 49 năm, qua hơn 300 pháp hội, để dẫn dắt chúng sanh trên con đường tu tập", Hòa thượng khẳng định.
Khép lại thời pháp, Hòa thượng ban đạo từ khuyến tấn chư hành giả Ni: "Khi người xuất gia hiểu rõ và thực hành vững vàng tam vô lậu học: Giới – Định – Tuệ, thì dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn giữ được đạo tâm kiên cố, không bị thoái chuyển trên con đường tu học và giải thoát".
Một số hình ảnh được ghi nhận:
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)