CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tiểu sử cố Hòa thượng Giác Hiền

Chứng minh Ban Trị sự Giáo đoàn II

(1931 – 2020)

Hoà thượng Thích Giác Hiền, thế danh là Nguyễn Duy Tránh, tự là Quý Ngọc, sinh ngày 12 tháng 2 năm Tân Mùi (1931), chánh quán tại làng Dạ Lê Chánh, tổng Dạ Lê, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên (nay là thôn Dạ Lê Chánh, xã Thuỷ Vân, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên – Huế). Người được sinh trưởng trên vùng đất thiêng liêng, nơi xuất phát nhiều bậc Danh Tăng, Danh Ni Phật giáo Việt Nam như Hoà thượng Thanh Khái Huệ Minh - Trụ trì chùa Từ Hiếu, Hoà thượng Giác Tiên - Khai sơn chùa Trúc Lâm (Huế), Hoà thượng Giới Nghiêm - Nguyên Tăng trưởng Phật giáo Nam Tông, Ni trưởng Diệu Hương - Khai sơn Ni viện Diệu Đức và nhiều vị khác nữa. Vì vậy, dân gian có lời nôm na rằng: “Quảng Trị - Trung Kiên, Thừa Thiên - Dạ Lê”. Nhờ nương bóng mát Bồ-đề che chở, nhờ giọt nước thanh lương tưới tẩm, thấm nhuần thắm đạo đức, dân làng nơi đây được sống trong phước địa thuần phong, thanh cao mỹ tục, học hành tiến bộ, cũng có nhiều người làm quan lớn trong triều đình.

Thân phụ của Người là cụ ông Nguyễn Duy Giáng, pháp danh Nguyên Thành và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Biện, pháp danh Nguyên Viện. Người là con út trong gia đình có 5 anh chị em, 4 trai, 1 gái. Người được sinh trong gia đình nhiều đời kính Phật trọng Nho, luôn hướng tâm về Tam bảo, quý trọng Tăng sư, những ngày hiếu hỷ đều thỉnh chư Tăng về nhà tụng kinh cầu nguyện.

Năm Người lên 9 tuổi, ông nội qua đời, gia đình mời Thầy về nhà tụng Kinh Địa Tạng, không ai sai bảo mà cậu bé Nguyễn Duy Tránh, tự mình cầm quạt hầu Thầy. Sau khi hoàn mãn, Thầy chủ lễ xoa đầu và nói rằng: “Chú này có căn lành với Phật Pháp, sau này có thể xuất gia tu được”. Kể từ đó, tính tình Người thay đổi, càng ngày càng có chí hướng thiện, không như những đứa trẻ khác trong làng thường hay đi câu cá, bẫy chim…

Ắt hẳn nhiều đời đã kết thiện duyên với Tam bảo, năm 1950, lúc tuổi đôi mươi, Người đã phát tâm quy y Tam Bảo và thọ trì 5 giới với Đại lão Hoà thượng Đôn Hậu - Trụ trì chùa Linh Mụ (Huế), với pháp danh là Tâm Quảng.

Đến tuổi trưởng thành, vâng theo lời song thân, Người lập gia đình với bà Lê Thị Khá và có được 5 người con, 2 trai 3 gái.

Vào thời ấy, Người cũng tham gia trong Ban Sáng lập Khuôn hội Phật học Dạ Lê Chánh, có Niệm Phật đường riêng, Khuôn hội vẫn còn sinh hoạt cho đến ngày nay.

Năm 1960, cuộc sống kinh tế khó khăn nên Người tha phương mưu sinh nhiều nơi như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Sài Gòn, Miền Tây Nam Bộ. Trong cuộc mưu sinh ấy, Người nhận ra:

Ta nhận ra ta hư ảo,

Với căn thân cát bụi thế gian,

Trong giấc mộng đời ta say ngủ,

Trói thân ta trong cát bụi vô thường.

Ngày 10 tháng 4 năm Ất Tỵ (1965), tại Đà Nẵng, Người đến Tịnh xá Ngọc Giáng tham dự lễ Phật đản. Hình ảnh những nhà Sư Khất sĩ trong chiếc y vàng giải thoát của Phật Tăng xưa khiến cho tâm thức của Phật tử Tâm Quảng trở nên bình an, tĩnh lặng. Lại suy tư thế thái nhân tình, quy luật đời người, thế là, Người đã dõng mãnh phát tâm xuất gia, được Đức Trưởng lão Giác Tánh và Đức thầy Giác Tịnh thâu nhận, ban cho pháp danh Giác Hiền, trong ý niệm:

Giác ngộ đời hư huyễn, Hiền Thánh ngự liên hoa.

Chỉ một năm tu học giới hạnh tinh nghiêm, làu thông kinh kệ, Người được Giáo đoàn cho thọ 10 giới Sa-di và Tứ y pháp tại Tịnh xá Ngọc Nhơn (Quy Nhơn), vào ngày 14 tháng 4 năm Bính Ngọ (1966).

Hơn 4 năm theo Tăng đoàn học hạnh Sa-môn Khất sĩ, du phương khất thực hoá duyên, với tinh thần “Khất sĩ y bát chơn truyền đạo, ta-bà du hoá độ nhân sanh”, giới hạnh châu viên, duyên lành kết tụ, vào ngày rằm tháng Bảy năm Canh Tuất (1970), tại Tịnh xá Ngọc Nhơn (Quy Nhơn), Nguời được truyền trao giới Cụ túc Tỳ-kheo.

Sau khi thọ nhận đầy đủ giới pháp, Người theo các vị Tôn trưởng luân phiên tu học và hành đạo tại các Tịnh xá Ngọc Hội (Bồng Sơn), Tịnh xá Ngọc Trị (Quảng Trị), Tịnh xá Ngọc Hương (Huế).

Năm 1974, Người được Giáo đoàn cử về trụ trì Tịnh xá Ngọc Trang (TP. Nha Trang). Năm 1975, Người cùng với Trưởng lão Giác Cẩm và Hoà thượng Giác Minh về trụ tại Tịnh xá Ngọc Hương (Huế).

Từ năm 1980, trường Hạ của Hệ phái thường xuyên được tổ chức tại Tịnh xá Trung Tâm (quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh), Người đã về an cư tu học nhiều năm ở Hạ trường.

Người chuyên cần tu học và công quả phụng sự ngôi nhà Chánh pháp. Những năm xây dựng Tịnh xá Ngọc Hương (Huế), Người đã ngày đêm tiếp sức với chư Tăng trong Giáo đoàn.

Năm 1989, Người thay mặt Giáo đoàn làm đốc công giám sát công trình trùng tu Tịnh xá Ngọc Nghĩa  (Quảng Ngãi).

Năm 1990, Người được Giáo đoàn cử về trùng tu Tịnh xá Ngọc Hà (Đông Hà), sau nhiều năm chiến tranh hư nát bỏ phế.

Năm 2006, sau khi Hòa thượng Giác Thìn, Trụ trì Tịnh xá Ngọc Giáng viên tịch, Giáo đoàn cung cử Người về trụ tại tịnh xá để làm nơi nương tựa tâm linh cho chư Tăng và Phật tử. Đạo hạnh của Ngài luôn là tấm gương sáng cho tứ chúng noi theo.

Bình thường giới luật hằng chăm,

An nhiên tĩnh lặng truy tầm lý kinh,

Hạnh lành toả vững niềm tin,

Phúc thời trổ quả rạng hình liên hoa.

Ngày ngày tinh tấn trong hạnh hóa duyên khất thực và nghiên cứu học hỏi giáo lý, Người rất tâm đắc bộ Quy Sơn cảnh sách của Tổ Linh Hựu, và Văn khuyến phát Bồ-đề tâm của Tổ Thật Hiền, nên thường giảng dạy hai bộ kinh văn này cho các hàng tân học xuất gia trong các khoá Bồi dưỡng đạo hạnh.

Ngoài ra, Người còn quy y cho rất nhiều Phật tử ở các miền tịnh xá. Đặc biệt, tại Tịnh xá Ngọc Giáng, có 4 chị em trong một gia đình được Người chứng minh, xuất gia tu học, trở thành hàng Ni lưu Thích tử, đó là Ni sư Ngàn Liên – Trụ trì Tịnh xá Ngọc Tân (Tiền Giang); Ni sư Tâm Liên – Trụ trì Tịnh xá Ngọc Chơn (Bến Cầu, Tây Ninh); Sư cô Liên Khôi, Sư cô Liên Sương tu học tại Thiền viện Trúc Lâm Nguyên Minh (TP. Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk).

Theo dòng thời gian, tuổi đời càng cao, thân thể cũng yếu dần, trong 3 năm cuối đời, Hoà thượng không còn đủ sức khoẻ để tham dự các sinh hoạt của Tăng đoàn, Người an trụ tại Tịnh xá Ngọc Giáng.

Ngày qua ngày lặng lẽ,

Trăm năm cũng vô thường,

Những cõi đời huyễn hoặc,

Đến để rồi ra đi…

Không ai sống mãi miên trường,

Thì xin nhớ lẽ chân thường tại tâm.

Cỗ xe tứ đại cũng đến lúc tan rã, trưa ngày 11 tháng 5 năm 2020 (nhằm ngày 19 tháng 4 năm Canh Tý), sau khi dùng cơm trưa, Người cảm thấy khó thở, và rồi trút hơi thở cuối cùng, vào lúc 12 giờ 45 phút, tại Tịnh xá Ngọc Giáng, nơi Người đã xuất gia tu học, và cũng là nơi từ bỏ xác thân giả tạm. Người trụ thế 90 năm, Hạ lạp 50 năm.

Áo ai qua núi bay lồng lồng,

Buông tiếng cười khan thoát mộng trần.

Sự ra đi của Hòa thượng để lại bao niềm thương tiếc. Giáo đoàn từ nay mất đi một bậc Tôn túc khả kính, chư Tăng hậu học không còn được nghe những lời giáo giới khuyên răn, thiện nam tín nữ Phật tử thiếu vắng vị Thầy hướng đạo cao quý. Thật là, một sự mất mát lớn, một niềm tiếc thương vô hạn!

Kính lạy Giác linh Hoà thượng thuỳ từ chứng giám.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan