Trong khuôn khổ khóa BDTT PL.2570 của Hệ phái PGKS, trong ngày 15/07/2025 (02/06/Bính Ngọ), Trưởng lão HT. Giác Giới – Phó Thư ký HĐCM GHPGVN, Giáo phẩm Chứng minh Hệ phái, Chứng minh GĐ.I PGKS, Trụ trì Tổ đình Minh Đăng Quang (tỉnh Vĩnh Long), đã có hai thời pháp thoại với chủ đề "Vị trí và nhiệm vụ của vị trụ trì trong thời hội nhập", mở đầu cho chuỗi chuyên đề của khóa học.
Không chỉ bàn về vai trò quản trị Tịnh xá, hay trách nhiệm hành chính của người đứng đầu một Tịnh xá, Trưởng lão Hòa thượng đã đi ngược về dòng lịch sử Phật giáo để đưa ra một nguyên lý đáng suy ngẫm: “Người trụ trì trước hết phải là người trụ trì chánh pháp, rồi mới là người trụ trì một ngôi Tịnh xá”.
Trở về hình ảnh Tăng đoàn thời Đức Phật, Trưởng lão HT. Giác Giới cho biết, trong thời kỳ đầu của Phật giáo chưa hề có danh xưng “trụ trì” như ngày nay. Đức Thế Tôn cùng chư vị đại đệ tử như Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên luôn dẫn dắt các đoàn Tỳ-kheo du hóa khắp nơi, “vì hạnh phúc số đông, vì an lạc chư thiên và loài người”. Việc cư trú lâu dài tại một trú xứ chỉ diễn ra trong mùa an cư, còn phần lớn thời gian là những cuộc hành cước không ngừng nghỉ để truyền bá chánh pháp.
Tinh thần ấy cũng được Đức Tổ sư Minh Đăng Quang kế thừa khi khai sáng Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam với tôn chỉ “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”. Nhắc lại lời dạy của Tổ sư Trưởng lão Hòa thượng chỉ rõ: “Người Khất sĩ không nên lưu trú quá lâu ở một nơi, bởi sự an trú quá mức dễ làm phát sinh tâm sở hữu, dẫn đến những ràng buộc vi tế của bản ngã. Tịnh xá thuở ban đầu không phải là nơi để tạo lập quyền sở hữu, mà chỉ là phương tiện cho người già yếu dưỡng bệnh và làm điểm tựa hướng dẫn bá tánh tu học”.

Từ đó, Trưởng lão Hòa thượng đặt ra một vấn đề rất đáng suy ngẫm đối với người trụ trì hôm nay, rằng nếu quên mất lý tưởng du hóa, người tu rất dễ biến trách nhiệm phụng sự thành sự gìn giữ một “cơ nghiệp”, rồi vô tình khởi lên ý niệm “chùa của tôi”, “Tịnh xá của ta”, mà theo Trưởng lão Hòa thượng, đó chính là điều người xuất gia cần tỉnh giác để vượt qua, nhất là trong thời đại hội nhập, Phật giáo nhập thế đang trở thành xu hướng.
Bàn về hai chữ “hội nhập”, Trưởng lão Hòa thượng không xem đây chỉ là yêu cầu của xã hội hiện đại, mà đặt nó trong mối tương quan giữa Giáo hội, pháp luật và truyền thống Khất sĩ. “Người trụ trì hôm nay phải hiểu Hiến chương Giáo hội, am tường Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, nắm vững nội quy các Ban Ngành và thực hiện đúng đường hướng hành đạo trong ngôi nhà chung của GHPGVN. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, hội nhập không đồng nghĩa với hòa tan. Hiến chương Giáo hội thống nhất ý chí và hành động của toàn Giáo hội nhưng vẫn tôn trọng truyền thống riêng của từng Hệ phái. Chính vì vậy, người Khất sĩ khi bước vào đời sống hội nhập càng phải hiểu sâu hơn về cội nguồn của mình để không đánh mất bản sắc”, Trưởng lão Hòa thượng nhấn mạnh.
Nhắc lại nhận định của cố Hòa thượng Thích Minh Châu khi GHPGVN được thành lập năm 1981: “Hệ phái Khất sĩ giữ vai trò như Nhất Thiết Hữu Bộ – chiếc cầu nối dung hòa giữa các truyền thống”, Trưởng lão HT. Giác Giới khẳng định: “Đó không chỉ là một vị trí lịch sử, mà còn là trách nhiệm của người Khất sĩ hôm nay, góp phần xây dựng sự hòa hợp trong lòng Giáo hội bằng tinh thần trung đạo và bao dung”.

Dựa trên tinh thần trách nhiệm đó, Trưởng lão Hòa thượng quay trở lại với sứ mệnh của người trụ trì trong thời hội nhập, nhấn mạnh rằng, người xuất gia không chỉ gìn giữ một ngôi tự viện mà còn phải gìn giữ mạng mạch của Chánh pháp. Như cổ đức có câu: “Trụ Pháp vương gia, trì Như Lai tạng / Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”. Theo Trưởng lão Hòa thượng, đây không phải những câu tán dương mang tính nghi lễ, mà chính là lời xác lập vị trí của người xuất gia khi chỉ rõ rằng, người trụ trì không phải là người quản lý tài sản của tự viện, mà là người gìn giữ kho tàng giáo pháp của Đức Phật. “Muốn làm được điều ấy, trước hết phải tự ‘phục nguyên’ chính mình, trở về đúng phẩm chất của một bậc đạo sư, lấy sự tu tập làm gốc, lấy giác ngộ làm mục tiêu và lấy lợi ích chúng sinh làm sự nghiệp. Có thể nói, thượng cầu Phật đạo và hạ hóa chúng sanh, chính là hai phương diện không thể tách rời của đời sống Phạm hạnh”, Trưởng lão Hòa thượng khẳng định.
Dẫn lời Đức Phật về công đức bố thí, Trưởng lão Hòa thượng nêu rõ, người cho thức ăn là cho sức khỏe, người cho y phục là cho vẻ đẹp, người cho chỗ ở là cho sự an ổn, nhưng Đức Phật khẳng định, ai giảng dạy chánh pháp, người ấy cho sự bất tử. Theo Trưởng lão Hòa thượng, “bất tử” ở đây không phải là sự trường tồn của thân xác, mà là con đường đưa con người vượt thoát sinh tử bằng Diệu pháp. “Bởi vậy, nhiệm vụ cao quý nhất của vị trụ trì không nằm ở việc xây dựng cơ sở vật chất, mà là kiến lập niềm tin cho hàng tín thí nơi chánh pháp, giúp con người chuyển hóa được tham - sân - si để tìm thấy con đường giải thoát cho chính mình”.
Ngoài ra, khi nói đến việc “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”, Trưởng lão Hòa thượng nhiều lần nhấn mạnh, điều cần được nối truyền không phải là hình thức, hay nghi lễ, mà chính là Tứ Thánh đế. Trưởng lão Hòa thượng nhắc lại hình ảnh nổi tiếng trong Kinh Tương Ưng về nắm lá trong tay và lá trong rừng Sim-sa-ba: “Những điều Đức Phật biết thì nhiều như lá trong rừng, song những gì Ngài dạy chỉ là nắm lá trong tay, bởi đó là những điều trực tiếp đưa đến sự đoạn tận khổ đau. Cũng như dấu chân voi bao trùm mọi dấu chân của muôn loài, tất cả thiện pháp cuối cùng đều quy tụ nơi Tứ Thánh đế. Đó chính là cốt lõi mà người Khất sĩ phải học, phải hành và phải truyền trao”.

Để làm được điều đó, theo Trưởng lão Hòa thượng, người xuất gia cần hiểu rõ, tu tập và thành tựu về Chánh tri kiến, bởi lẽ “người tu thiếu Chánh kiến thì dù tinh tấn đến đâu cũng chỉ là ‘tu mù’. Mà muốn có chánh kiến thì nhất định phải gần gũi bậc thiện tri thức, lắng nghe diệu pháp và biết như lý tác ý để quán chiếu năm uẩn là vô thường, khổ, vô ngã”, Trưởng lão Hòa thượng chỉ rõ, đồng thời tha thiết mong mỏi mỗi người Khất sĩ, chí ít trong đời này, phải có định hướng rõ ràng trên con đường giải thoát, hướng đến thành tựu quả vị Nhập lưu, để không còn mãi trôi lăn trong vòng sinh tử.
Có thể thấy, dẫu ở tuổi gần cửu tuần, trải qua 66 mùa hạ, Trưởng lão HT. Giác Giới vẫn tự nhắc mình mỗi ngày bằng lời quán niệm: “Đêm ngày trôi qua bên ta, nay ta trở thành người thế nào?”. Đó vừa là lời tự cảnh tỉnh của một bậc Trưởng lão đã dành trọn đời cho con đường xiển dương chánh pháp, cũng đồng thời là thông điệp gửi đến tất cả những người đang gánh vác trọng trách trụ trì. Bởi lẽ, người trụ trì chỉ có thể hướng dẫn đại chúng khi chính mình không ngừng học pháp, hành pháp và soi chiếu lại bản thân.
Như kết lời, Trưởng lão HT. Giác Giới khẳng định: “Hội nhập có thể đem đến nhiều phương tiện mới, nhưng điều giữ cho người Khất sĩ luôn đứng vững giữa mọi biến chuyển của thời đại vẫn là chánh tri kiến, Giới - Định - Tuệ và lý tưởng ‘Nối truyền Thích-ca Chánh pháp’ mà Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã dày công phục hưng và trao truyền. Chúng ta phải luôn khắc nhớ rằng, muốn làm tròn trách nhiệm của một vị trụ trì trong thời hội nhập thì trước hết phải trở về với cốt lõi của chánh pháp. Người trụ trì không phải là người giữ ngôi chùa, mà là người gìn giữ mạng mạch Phật pháp. Chỉ khi có Chánh tri kiến, mọi hoạt động quản trị, hoằng pháp và hội nhập mới không đánh mất bản chất của người Khất sĩ”.
Một số hình ảnh được ghi nhận:

























