Tiếp nối chuỗi đề tài Thiền Đông Độ, nhưng khác với những chương cú lịch sử thông thường, HT. Minh Bửu – UVTT HĐTS, Phó Trưởng Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái kiêm Trưởng ban Tăng sự Hệ phái, Tri sự phó GĐ.IV PGKS, trụ trì Pháp viện Minh Đăng Quang, trong thời pháp thoại thứ hai tại trường hạ Pháp viện (phường Bình Trưng, TP.HCM), sáng 16/06/2026 (02/05/Bính Ngọ), đã dẫn dắt chư hành giả đi thẳng vào guồng máy vận hành của tâm thức, nhận diện chân tâm và vọng tâm, thấy rõ mối tương quan giữa bản thể tịch tịnh và hiện tượng sinh diệt, từ đó tìm lại “đường đi lối về” của tâm ý giữa muôn duyên biến động của cuộc đời.
Từ nền tảng ấy, toàn bộ thời pháp được triển khai như một hành trình phản quán tự kỷ, giúp người nghe từng bước khám phá bản thể rỗng rang vốn sẵn đủ nơi tự thân và hiểu được diệu dụng vô cùng của tâm thức khi không còn bị những lớp vọng tưởng, chấp trước và phân biệt che lấp. Đây cũng chính là tinh thần cốt tủy mà Thiền Đông Độ đã trao truyền qua nhiều thế hệ: từ lịch sử để đi vào yếu lý, từ yếu lý để trở về thực chứng và từ thực chứng để sống trọn vẹn giữa cuộc đời mà vẫn an nhiên tự tại.
Nhắc lại lịch sử Thiền Đông Độ, HT. Minh Bửu cho biết, trong dòng chảy hơn 1000 năm của Thiền Đông Độ, hành trạng vượt biển hoằng hóa của Tổ Bồ Đề Đạt Ma vẫn luôn là một dấu son đặc biệt trong lịch sử Phật giáo. Tổ Bồ Đề Đạt Ma là vị Tổ thứ 28 của Phật giáo Ấn Độ. Vào năm 520 Tây lịch, vâng theo lời di huấn và sự thọ ký của Thầy mình là Tổ Bát Nhã Đa La (vị Tổ thứ 27), nhận thấy duyên lành Phật pháp tại Ấn Độ đã đến hồi chuyển dịch và phương Đông là nơi có nhiều bậc đại căn đại trí, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã không quản gian lao, vượt trùng dương qua Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương để chèo thuyền đến đất Quảng Đông, Trung Hoa, cập bến vào ngày 21/06/Canh Tý (520 Tây lịch).
Hòa thượng nhấn mạnh, hành trình ấy không đơn thuần là sự dịch chuyển của một hình hài địa lý, mà là bước chuyển mình vĩ đại của mạch nguồn Phật pháp. Song, theo Hòa thượng, việc người học Phật ôn lại cuộc đời và công hạnh của các bậc Tổ sư không đơn thuần là việc học sử liệu, hay tra cứu kiến thức lịch sử, mà để nhận ra “ý mạch” của chư Tổ, thấy được con đường mà các Ngài đã đi qua để từ đó soi chiếu lại chính mình.
“Giá trị của Thiền tông không nằm ở việc ghi nhớ một mốc thời gian, hay tôn vinh một cuộc hành trình đã qua, mà nằm ở khả năng giúp mỗi hành giả nhận ra con đường trở về với chính mình ngay trong từng niệm hiện tiền. Đây cũng là điều Thiền muốn trao truyền – phương pháp soi sáng thực tại; không phải dấu chân của chư Tổ trên vạn dặm đường xa, mà là dấu chân tỉnh thức trên hành trình nội tâm của mỗi người. Bởi lẽ, giữa những biến động không ngừng của cuộc sống, điều làm con người bất an không phải là ngoại cảnh, mà là những chuyển động vi tế trong tâm thức”, HT. Minh Bửu nhận định.
Hòa thượng đặt ra một câu hỏi tự vấn rằng: “Liệu bản thân có bận tâm không? Có phiền não, lo lắng và bất an hay không?”, qua đó chỉ rõ, giữa những biến động không ngừng của cuộc sống, điều làm con người bất an không phải là ngoại cảnh, mà là những chuyển động vi tế trong tâm thức. Mọi khổ đau, phiền não, hệ lụy của luân hồi đều bắt đầu từ một điểm cốt lõi duy nhất: Một niệm tưởng.
Hòa thượng dẫn lời cổ đức: “Tình sanh tam đồ báo ứng, / Niệm động lục đạo phân trương”, tức: “Tình một thoáng, nẻo ba đường báo ứng, / Niệm một giây, nhân sáu nẻo phân chia”. Chỉ một niệm khởi lên trong vô minh cũng đủ gieo mầm cho khổ đau và luân hồi. Nghiệp báo không chờ đến khi hành động được biểu hiện thành hình tướng bên ngoài mới hình thành, mà đã bắt đầu từ những ý niệm âm thầm trong tâm thức. Chính vì vậy, Thiền tông luôn nhấn mạnh việc phản quan tự kỷ, quay lại soi sáng từng niệm tâm hiện hữu. Một tích tắc mê lầm liền dựng nên vách ngăn vạn dặm, một sát-na tỉnh giác lập tức mở lối trở về nguồn sanh khởi. Đạo lộ giải thoát, do vậy, chính là sự trực nhận đương niệm hiện tiền, nơi mà bản giác xưa nay vốn chưa từng bị bụi trần che khuất.
“Chỉ cần tâm thức vừa thoáng qua, nếu hành vi và suy nghĩ ấy phát xuất từ vô minh, từ sự mê mờ bất giác, thì ngay trong một tích tắc ấy, hạt giống của ba đường dữ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) đã được gieo mầm. Sai lầm của chúng sanh không đợi đến khi làm một điều gì đó to tát, hiển lộ ra bên ngoài mới gọi là tạo nghiệp. Trái lại, nó âm thầm diễn tiến qua quá trình tư duy phiền não, xen tạp muộn phiền suốt một khoảng thời gian dài, rồi bộc phát chỉ trong một sát-na ngắn ngủi. Học đạo chính là học nguyên lý vận hành này, là học cách thấu suốt bản thể tự tánh để hằng tỉnh giác trong từng niệm đương hiện tiền”, HT. Minh Bửu giảng giải.
Đi sâu vào cấu trúc vận hành của tâm qua hình ảnh chữ “Tâm” trong cổ tự (心) qua bài kệ kinh điển của Trần Hi Di, thời Tống:
“Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tợ nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố Phật dã do tha”.
Có thể hiểu: “Ba chấm tực như các ngôi sao trời, nét cong như vầng trăng khuyết; mang lông đội sừng từ đây mà có, thành Phật làm Tổ cũng từ đây mà nên”. Với triết lý này, HT. Minh Bửu khẳng định: “‘Nhất thiết duy tâm tạo, vạn pháp do tâm sanh’ - Toàn bộ đời sống mê hay ngộ, trói buộc hay giải thoát đều phát xuất từ tâm này, không có một cảnh giới nào bên ngoài quyết định số phận con người. Thiên đường, hay địa ngục trước hết được hình thành từ những nhận thức, tư tưởng và tập khí bên trong. Do đó, người tu hành cốt lõi là phải sát cánh chiến đấu với chính mình, thiết lập một nhãn quan sắc bén để nhận diện rõ ràng đâu là chân tâm và đâu là vọng tâm”.
Hòa thượng mượn hình ảnh người thợ kim hoàn để minh họa cho tiến trình tu tập để nhận diện vọng tâm. Muốn có vàng ròng, trước hết phải nhận rõ đâu là đồng, chì, thao, kẽm và những tạp chất pha trộn. Cũng vậy, muốn nhận ra chân tâm thường trú, hành giả phải thấy rõ bộ mặt thật của vọng tâm sinh diệt. Tinh thần ấy chính là mạch sống xuyên suốt của Kinh Lăng Nghiêm. Bảy lần Đức Phật gạn hỏi tôn giả A-nan về nơi trú ngụ của tâm không nhằm cung cấp thêm tri thức triết học, mà nhằm tháo gỡ từng lớp vọng chấp để hiển lộ bản tâm thanh tịnh vốn sẵn đủ nơi mỗi người.
Từ câu hỏi kinh điển của Trưởng lão Tu-bồ-đề trong kinh Kim Cang: “Vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm?”, tức: “Làm thế nào để an trụ chân tâm và làm thế nào để hàng phục vọng tâm?”, Hòa thượng khai thị, sự hàng phục chân chính không phải là cuộc chiến cưỡng ép giữa một cái tôi với những vọng tưởng đang sinh khởi. Hàng phục tâm là thấy rõ cơ chế vận hành của tâm.
Hòa thượng chỉ rõ, trong chiều sâu của tàng thức (A-lại-da thức), nơi giống như một kho chứa khổng lồ chứa đầy những chủng tử tạp nhiễm do con người huân tập từ vô thủy kiếp, vô lượng chủng tử thiện ác luôn tiềm tàng và chờ cơ hội hiện hành. Nếu hành giả thiếu tỉnh giác, những chủng tử ấy sẽ dẫn dắt đời sống theo quán tính nghiệp lực. Ngược lại, khi tâm không còn bám chấp, không còn trụ trước, mọi hiện tượng sinh khởi đều được thấy biết mà không bị đồng hóa. “Đó cũng chính là tinh thần ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’, tức không trụ nơi đâu nhưng vẫn khởi tâm sáng suốt và tỉnh thức. Ngày nào chưa nhận rõ được sự thật này, hành giả sẽ buộc phải lấy dã tâm, vọng tâm làm chủ. Mà hễ xài vọng tâm thì ngay trong niệm ấy đã chứa đựng sự dối trá, mâu thuẫn, xung đột và khổ đau rồi, chẳng cần đợi đến khi quả báo nhãn tiền hiển hiện”, Hòa thượng khẳng định.
Luận giải về mối tương quan giữa bản thể và hiện tượng, Hòa thượng dẫn hai câu kinh nổi tiếng: “Chư pháp tùng bổn lai, / Thường tự tịch diệt tướng” – các pháp từ xưa nay, tướng nó vốn thường tự vắng lặng, tịch diệt; nhưng ngay sau đó lại là: “Xuân đáo bách hoa khai, / Hoàng oanh đề liễu thượng” – xuân đến trăm hoa nở, / hoàng oanh hót cành dương. Thoạt nhìn, hai tầng ý nghĩa này dường như đối lập nhau, khi một bên là tịch diệt, vô tướng, một bên là sinh động, biến chuyển và đầy màu sắc của cuộc đời, nhưng theo Thiền Đông Độ, đây không phải là hai thực tại tách biệt.
HT. Minh Bửu chỉ rõ: “Bản thể và hiện tượng vốn không hai, giống như sóng và nước. Sóng có thể nổi lên muôn hình vạn trạng, nhưng chưa từng rời nước, nước tuy lặng yên nhưng cũng không tách khỏi sóng. Chân tâm cũng như thế. Ngay nơi đời sống sinh hoạt hằng ngày, nơi sắc thanh hương vị xúc pháp đang hiện hữu, bản thể thanh tịnh vẫn luôn hiện tiền. Người mê chỉ thấy sóng mà quên nước, người ngộ thấy sóng chính là nước. Do vậy, con đường của Thiền không phải là trốn chạy cuộc đời. Người kiến tánh không tìm giải thoát bằng cách xa lìa thế gian, cũng không đóng cửa tâm hồn trước những đổi thay của cuộc sống. Các Ngài vẫn đi đứng, ăn mặc, làm việc, giáo hóa, tiếp vật lợi sinh, nhưng tất cả đều được thực hiện từ nền tảng vô nhiễm và vô trụ”.
Dẫn lời cổ đức: “Thánh nhân dụng tâm nhược kính, / Vật lai tắc hiện, vật khứ bất lưu”, Hòa thượng nhận định: “Tâm bậc Thánh như tấm gương sáng, vật đến thì hiện bóng, vật đi chẳng lưu dấu. Đó chính là diệu dụng của bản thể rỗng rang. Không phải rỗng rang để trở nên vô cảm, cũng không phải tịch diệt để xa lìa cuộc sống, mà là sự tự do tuyệt đối giữa dòng sinh diệt”.
Khép lại thời pháp, HT. Minh Bửu nhắc nhở đại chúng: “Con đường giải thoát không nằm ở việc chất chứa thêm kiến thức hay chạy theo những khái niệm cao siêu. Điều quan trọng nhất là quay lại nhận diện chính mình, thấy rõ từng niệm tâm đang vận hành và sống được với chân tâm thường trú. Khi ấy, hành giả không còn là người lữ khách mãi rong ruổi tìm kiếm chân lý bên ngoài, con đường trở về đã hiện hữu ngay nơi đương niệm. Chân tâm chưa từng rời xa, chỉ vì vọng tưởng che phủ nên con người quên mất viên ngọc quý vốn có trong tự thân. Và, cũng từ khoảnh khắc nhận ra điều ấy, mọi nẻo đường sinh tử bỗng hóa thành đường về, mọi hiện tượng cuộc đời đều trở thành diệu dụng của bản thể rỗng rang, tự tại”.
Một số hình ảnh được ghi nhận: