Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang PL.2570: Thượng tọa Giác Hoàng nhấn mạnh tinh thần “học để thực hành”

Tiếp nối nội dung đã triển khai trong thời pháp trước tại Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), chiều 24/06/2026 (10/05/Bính Ngọ), TT. Giác Hoàng – Ủy viên HĐTS, Phó Viện trưởng VNCPHVN, Phó Trưởng ban Văn hóa TƯGH, Chánh Thư ký Ban Thường trực GPHP, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Giáo dục Tăng Ni GĐ.III PGKS, tiếp tục đi sâu hơn vào việc vượt qua khoảng cách giữa Pháp học và Pháp hành thông qua chủ đề “Học để thực hành”, nhằm giúp hành giả nhận thức rõ: “Học để biết đường đi, hành để trải nghiệm con đường và chứng để đạt tới đích đến giải thoát”.

Với khẳng định mở đầu thời pháp rằng, người tu không thể xem nhẹ việc học, Thượng tọa chỉ rõ: “Nếu thiếu nền tảng nhận thức đúng đắn về thân tâm và các pháp, hành giả rất dễ rơi vào mê tín, chấp trước, hoặc thực hành sai lệch. Học chính là quá trình xây dựng Chánh kiến – bước khởi đầu không thể thiếu trên lộ trình giác ngộ, chứ không phải bị ràng buộc bởi các khái niệm hình thức và bản chất vận hành của vạn pháp”.

Tuy nhiên, Thượng tọa không nhìn nhận việc học như một sự tích lũy kiến thức hàn lâm đơn thuần, mà coi đó là một lộ trình chuyển hóa tri thức thành trí tuệ giải thoát. Theo Thượng tọa, kiến thức kinh điển dù phong phú đến đâu cũng chỉ mới dừng lại ở tầng mức văn tự, nếu chưa thực sự được chuyển hóa thành kinh nghiệm sống. Rõ ràng, người học có thể thuộc lòng kinh luật, thông hiểu giáo nghĩa, nhưng nếu nội tâm vẫn còn bị chi phối bởi tham - sân - si thì trí tuệ giải thoát vẫn chưa thể phát sinh.

Phân định rõ ràng giữa tri thức và trí tuệ, Thượng tọa chỉ rõ: “Tri thức là những điều được nghe, được đọc và được ghi nhớ; còn trí tuệ là sự thấy biết như thật, phát sinh từ quá trình quán chiếu và thực nghiệm nơi chính thân tâm mình. Do đó, học giáo lý nếu chỉ dừng lại ở văn tự luận giải mà thiếu đi sự ứng dụng hành trì, thì đó cũng chỉ mới dừng lại ở mức tri thức thế gian. Chỉ khi trực tiếp nhận ra vô thường, khổ và vô ngã trong từng cảm thọ, suy nghĩ và hoàn cảnh sống, hành giả mới thực sự bước vào dòng chảy của sự chuyển hóa”.

Tiến trình phản tỉnh và chuyển hóa này là tiến trình tu học quen thuộc nhưng vô cùng quan trọng trong Phật giáo nguyên thủy: Văn tuệ – Tư tuệ – Tu tuệ, mà theo TT. Giác Hoàng giảng giải, “văn tuệ” giúp người học tiếp nhận giáo pháp, chính là nền tảng vững chắc để thiết lập “tư tuệ” (suy ngẫm, quán chiếu); “tư tuệ” giúp nghiền ngẫm, thẩm sát và soi sáng những điều đã học, từ đó đưa đến sự thành tựu của “tu tuệ”; “tu tuệ” như vậy là thành quả của sự thực hành miên mật, khi chân lý không còn là đối tượng để nghiên cứu mà trở thành kinh nghiệm sống động nơi tự thân. Điều này cũng được minh chứng rõ nét qua lời dạy của Tổ sư Minh Đăng Quang trong Chơn Lý “Học và Tu”: “Cho nên người tu trong đạo Phật cần phải biết rằng từ văn học là nghe nói để tiến lên tư học là suy gẫm, và đến hành học là học trong việc làm biết nơi sự đi thì mới mong đắc học”.

Có thể thấy, bản thể của sự học theo tinh thần Khất sĩ là học trong từng hành động, từng bước đi của đời sống xuất gia thường nhật. Chính từ đây, một khái niệm đặc sắc được TT. Giác Hoàng làm nổi bật, đó là “Hành học”, tức học ngay trong sự thực hành. Theo Thượng tọa, đắc đạo không sinh khởi từ việc học đạo trên sách vở, mà xuất hiện trong quá trình hành đạo. “Người tu học phải biết chuyển hóa từng lời kinh thành hơi thở, từng giáo lý thành đời sống và từng bài học thành sự thay đổi nơi chính mình. Học trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi; học trong khi tiếp chúng, làm việc, hành thiền; học từ thành công cũng như thất bại; học từ những lúc tâm an tịnh cho đến khi phiền não khởi sinh. Đó mới là sự học có khả năng dẫn đến giải thoát, còn việc học đạo trên trang giấy nếu không song hành thực nghiệm, thì cùng lắm chỉ mang lại cái nhìn ‘kiến đạo’ trên mặt lý thuyết huyễn hóa”, Thượng tọa nhận định.

Để nhấn mạnh vai trò quyết định của việc thực hành, Thượng tọa dẫn lại hai bài kệ nổi tiếng trong Kinh Pháp Cú:

Dầu đọc tụng nhiều Kinh,
Tâm buông lung cẩu thả,
Như kẻ chăn bò thuê,
Khó hưởng Sa-môn quả

Và:

Dầu đọc tụng ít Kinh,
Nhưng hành trì Giáo pháp,
Như thật, tâm giải thoát,
Từ bỏ tham sân si,
Hai đời không chấp thủ,
Thọ hưởng Sa-môn quả
”.

Qua lời cảnh tỉnh sâu sắc này, Thượng tọa chỉ rõ giá trị đích thực của việc học nằm ở khả năng chuyển hóa nội tâm: “Người học nhiều nhưng không hành trì, chỉ giống như người đếm của cải cho kẻ khác; trong khi, người thực hành chân thật, dù hiểu biết không nhiều, vẫn có thể từng bước tiến gần đến giải thoát. Người tu học nếu vướng kẹt vào đa văn mà sanh lòng ngạo mạn, phóng dật thì tự đánh mất lợi ích giải thoát của mình. Như trong Chơn Lý “Học và Tu”, Tổ sư cũng đã nghiêm khắc răn dạy: ‘Học là để biết đặng tu hành, chớ phải đâu học là để học, học mãi cho điên, cho chán, cho chết, cho hết thì giờ, tự vận’. Quả vị Thánh chứng không nằm ở những lý luận cao siêu xa vời, mà hiện hữu ngay nơi sự nhu nhuyến, hạ mình tỉnh giác”.

Bên cạnh việc thấu đạt tầm quan trọng của việc học pháp và hành pháp, TT. Giác Hoàng cũng đồng thời nhấn mạnh việc xác định sự “vừa vặn” trong tiến trình tu học, mà ở đó, Thượng tọa chỉ rõ, hành giả cần phải thực hành phương châm “nhất môn thâm nhập”, tức chuyên tâm mật niệm và thuần thục một pháp môn phù hợp với trình độ nhận thức tự tánh của mình, thay vì vọng tưởng theo đuổi những điều quá ngưỡng. Như Tổ sư từng dạy: “Đối với các Ngài, tu là học, học là tu, vừa vặn. Có khi mỗi kiếp chỉ tu có một pháp, xong rồi pháp này mới tu đến pháp khác nữa, cũng y như người uống thuốc chữa bịnh, mỗi lần uống một thứ thuốc trị cho xong từng chứng bịnh, mà chẳng chịu biết đến những việc xa vời”. Hay, trong Kinh số 64 Pháp trí (Chương 7 pháp, Tăng Chi Bộ Kinh) cũng khẳng định, một vị Tỳ-kheo chân chính luôn là người biết pháp, biết nghĩa, biết tự ngã, biết ước lượng, biết thời, biết hội chúng và biết người thắng kẻ liệt. “Sự hiểu biết toàn diện và có chừng mực này giúp hành giả tránh được việc vấp ngã do ‘con mắt ngó xa quá thì chơn đi vấp té’, bước đi vững chãi trên con đường tu tập mà không rơi vào cực đoan hay ảo tưởng. Khi bước đi trong hiện tại, điều tối quan trọng là nhìn rõ từng bước chân ngay trước mặt, không để việc học đi quá xa việc thực hành dẫn đến hoang tưởng về chứng đắc giả lập”, Thượng tọa khẳng định.

Một điểm nhấn đặc biệt trong bài giảng là tư tưởng giáo dục đầy khoáng đạt của Tổ sư Minh Đăng Quang được Thượng tọa nêu bật qua lời dạy: “Trường học là vũ trụ, chúng sanh là học trò, các pháp đổi thay tiến hóa là bài vở, vạn vật là món tạm dùng”. Theo đó, không gian học tập của người Khất sĩ không bị giới hạn trong giảng đường hay thư viện. Toàn bộ cuộc sống chính là đạo tràng tu học rộng lớn, mà ở đó, mỗi con người gặp gỡ, mỗi hoàn cảnh thuận nghịch, mỗi biến chuyển của thế gian… đều là những bài học quý giá giúp hành giả nhận diện chính mình.

Tinh thần ấy dường như đã phá vỡ ranh giới vốn tồn tại lâu nay giữa Pháp học và Pháp hành, khi đưa đến khẳng định, học không chỉ diễn ra trong giờ giảng, còn tu không chỉ giới hạn trên bồ đoàn thiền định; học chính là tu và tu cũng chính là học. Mỗi bước chân tỉnh thức là một bài học, mỗi lần chiến thắng phiền não là một kỳ thi, mỗi trải nghiệm trong cuộc sống đều là cơ hội để trưởng thành trên đường đạo.

Thượng tọa một lần nữa khẳng định: “Học để tu, tu để chứng và chứng rồi lại tiếp tục học nơi cuộc đời vô tận. Giáo pháp chỉ thật sự có ý nghĩa khi được trải nghiệm và chuyển hóa thành phẩm chất sống. Đến khi đạt được những kinh nghiệm tâm linh chân thật, người tu cũng không nên chấp thủ vào chính những điều mình đã đạt được”.

Cuối thời pháp, Thượng tọa trích dẫn lời dạy của Tổ sư trong Chơn Lý “Học Chơn Lý”: “Vậy nên mỗi người tự tìm học thẩm xét, và bằng có nghe pháp học pháp là để thật hành kinh nghiệm đến với chơn lý, nắm chơn lý mà đắc đạo. Đừng chấp pháp, hãy liệng bỏ pháp lại sau lưng cho kẻ khác đi sau được học, mà mình thì không chứa giữ một pháp nào cả”, thay cho lời nhắc nhở đại chúng hãy xem giáo pháp như chiếc bè đưa người qua sông. “Mục đích của việc học không phải để nắm giữ kiến thức, mà để thấu đạt chân lý; không phải để tự hào về hiểu biết, mà để đoạn trừ khổ đau. Khi đã đi qua dòng sông sinh tử, người hành giả phải biết buông chiếc bè xuống, tiếp tục thắp sáng ngọn đèn chánh pháp cho những người đi sau”, TT. Giác Hoàng khuyến tấn, khép lại thời pháp thoại thứ hai tại trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang.

 

Một số hình ảnh được ghi nhận: