Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Năm Thân nói chuyện khỉ

loc khiNăm 2016 là năm Bính Thân. Theo lịch âm, năm Bính Thân (năm con Khỉ) bắt đầu từ ngày 8/2/2016 đến hết ngày 27/1/2017. Trong văn hóa phương Đông, con Khỉ đứng vị trí thứ 9 của 12 con vật trong Thập nhị Địa chi, đại biểu cho địa chi Thân, thuộc mệnh Sơn hạ hỏa (Lửa dưới chân núi). Khỉ là động vật cực kỳ thông minh, nhanh nhẹn, và là loài linh trưởng giống con người nhất trong số các động vật.

1. Nguồn gốc của loài Khỉ

Khỉ có tên khoa học là “Ceropithecidae”, nhưng có nhiều họ khác nhau, được các nhà động vật học phân loại, vì Khỉ sống từng vùng khác nhau trên thế giới. Có loại khỉ ăn thịt, ăn mối cũng như ăn trái cây, lá cây. Vì có nhiều chủng loại nên hình dáng và màu sắc của loài Khỉ cũng khác nhau. Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis), Khỉ đuôi lợn (Macaca leonia), Khỉ Mốc (Macaca assamensis), Khỉ mặt đỏ (Macaca artoides), Khỉ vọc xám (Trachypithecus barbei), Khỉ đột (Gorin-Gorilla), Vượn (Gibbon), Đười ươi (Orangutan), Khỉ Muôn (Chimpanzee), Tinh tinh (Pan troglodytes), Khỉ lùn (Bonobo), Khỉ đột mỏ dài (Pavian)... Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, có những giống Khỉ cao lớn trên 1,5m và có bộ óc bằng 1/3 bộ óc con người, cho nên chúng khá thông minh và giỏi hơn các thú vật khác. Chúng có thể hiểu được nhiều ký hiệu, một số từ, cho nên thường bắt chước loài người rất mau lẹ.

2. Khỉ trong đời sống văn hóa

Trong văn hóa đại chúng, hình ảnh con khỉ cũng có một vị trí nhất định. Khỉ đi vào đời sống văn hóa người châu Á qua năm Thân, tháng Thân, ngày Thân, giờ Thân.

Trong đời sống văn hoá của người Việt Nam ta, khỉ cũng thường được người đời nhắc đến như nơi nào xa xôi hoang vắng, người ta thường gọi nơi đó là nơi "khỉ ho cò gáy", hay ở Nam bộ, chiếc cầu tre bắc qua kênh rạch ở vùng sông nước được gọi là cầu khỉ. Để nói lên những thói xấu, nhưng không che giấu ai: "Khỉ lại là khỉ, mèo lại hoàn mèo". Còn con người, ai hay nhăn nhó thì bảo: “mặt nhăn như khỉ”, xấu quá lại nói “khỉ ăn ớt”, “khỉ nếm mắm tôm”. Để chỉ chỗ ăn ở luộm thuộm, hôi hám thì bị chê “bẩn như tổ khỉ”. Còn hành động nào quá trớn, đê tiện thì được xem đó là “trò khỉ”. Tư thế đi đứng không nghiêm chỉnh, vặn vẹo cũng bị chê là “khỉ leo cây”. Hành động của người không biết điều được ví là kẻ "rung cây nhát khỉ", v.v... Trong khá nhiều trường hợp “khỉ” như là một ý nghĩa của tiêu cực, gièm pha.

Từ thời Xuân Thu (770 – 476 TCN) ở Trung Hoa, người ta gọi động vật này là “Hầu” (). Đến thời nhà Hán, người ta cho rằng khỉ là con vật may mắn, vì từ “hầu” đồng âm với từ “hầu” – một tước vị quyền quý. Do vậy, trong nhiều tranh vẽ, hình tượng con khỉ mang ý nghĩa là “phong hầu” (phong chức tước). Nếu thấy hình tượng con khỉ leo trên cây phong thì biểu tượng mang ý nghĩa “phong hầu quải ấn” (đeo ấn phong hầu). Hình ảnh của khỉ thường được điêu khắc hoặc dán trên các bức tường và cửa ra vào với mục đích mong được phước lành và niềm vui. Từ đó về sau, khỉ chính là tượng trưng cho sự tốt lành, may mắn.

3. Khỉ trong văn học

Trong thi ca - văn học cổ điển Trung Quốc, các thi nhân, mặc khách thường dùng từ “viên” để chỉ cho khỉ. Nhà thơ Tiêu Thuyên có bài “Phú đắc dạ viên đề”: “Quế nguyệt ảnh tài thông,// viên đề quýnh nhập phong,// cách nham hoàn tiếu lữ,// lâm đàm tự hưởng không”… Trong mỗi câu của bài thơ đều nói đến tiếng vượn kêu, khiến người đọc cảm thấy tiếng vượn kêu thê lương, làn gió lạnh bao trùm. Bài thơ “Vịnh Viên” của tác giả Câu Phác Thơ đời Đường nói về nỗi cô đơn của con khỉ được nuôi trong cửa son nhà quyền quí, nhìn lên ánh trăng vằng vặc mà nhớ về những đêm thu cùng đùa vui với chúng bạn, cất lên tiếng kêu ai oán, đã thể hiện nỗi khát vọng tình cảm của chúng: “Tọa tại Vu Sơn canh hướng tây,// bất tri hà sự đáo Ba Khê,// trung tiêu vi ức thu vân bạn,// dao cách chu môn hướng nguyệt đề”. Trong bài “Bát trường bình văn viên” của Phạm Thành Đại đời Tống viết: “Thanh viên linh linh minh ngọc tiêu,// tam thanh lưỡng thanh cao thụ tiêu...” Bài thơ với từ ngữ thanh thoát, âm điệu bay bổng, đã thể hiện hết tình người qua tiếng vượn.

Trong văn học hiện đại có tác phẩm “Hành Tinh Khỉ” là một tiểu thuyết do Pierre Boulle, xuất bản lần đầu vào năm 1963 bằng tiếng Pháp có tên là La Planète des Singes. Nội dung trong “Hành Tinh Khỉ”, tác giả muốn cảnh tỉnh con người bằng một câu chuyện mang tính triết lý và giáo dục sâu sắc. Ở một hành tinh nọ, loài người đã không ý thức được mình, để cho những thuộc tính xấu phát triển như sự lười nhác, quen hưởng thụ, bỏ mặc đồng loại, sống ích kỷ phát triển. Vì thế, một xã hội văn minh đã được xây dựng ngàn đời bị tiêu diệt. Họ vẫn là hình hài con người nhưng mọi hành động và suy nghĩ không hơn con vật là bao nhiêu. Những con khỉ trước kia vốn chịu sự chỉ đạo của con người thì nay chúng lại là chủ nhân của một xã hội văn minh, chi phối cuộc sống con người, do giống khỉ ham bắt chước, chịu động não.

4. Hình tượng Khỉ trong Phật giáo

Mục đích tối hậu của người tu học Phật là đạt được giải thoát giác ngộ. Thế nhưng, điều căn bản trước nhất của mỗi hành giả là phải huấn luyện tâm và làm chủ được tâm. Trong Phật giáo, đặc biệt là trong thiền gia thường ví tâm của con người lăng xăng – lộn xộn như con khỉ. Nhận biết tâm trong cuộc sống đã khó, giữ được tâm bình lặng trong thiền định càng nan giải khôn cùng. Ngài Tịnh Danh từng ví “tâm như khỉ vượn”, rất khó chế ngự, rất khó điều phục. Trong Con đường dẫn đến Phật quả - Những giáo lý về Pháp bảo của sự giải thoát (Thanh Liên dịch), Gampopa cũng tự vấn: “Có bao giờ bạn nhìn thấy bức tranh tuyệt đẹp minh họa các giai đoạn của thiền định? Bạn thấy một con voi, một con thỏ, một con khỉ, và một người đàn ông. Con voi là tâm ta, con thỏ là sự hôn trầm, con khỉ là sự xao lãng và người đàn ông là sự chú tâm. Ở cuối trang giấy, con khỉ đang dùng một sợi dây để kéo con voi đến nơi nào nó muốn”.

Chư vị Tổ sư nhận thấy loài khỉ lăng xăng, nhảy nhót nên mượn hình ảnh này sánh ví cho tâm thức của con người là “tâm viên, ý mã” (Tâm như con khỉ chuyền cành, ý sinh diệt liên tục như con ngựa giong ruổi ngoài đồng). Tâm người ta cũng thế, không khi nào được yên, cứ lăng xăng, lộn xộn, suy nghĩ, nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác, từ quá khứ, hiện tại đến tương lai, đó là tâm viên. Tâm này sẽ đưa con nguời đến loạn động, phát sinh ra đủ thứ phiền não, cấu uế… Tâm viên (tâm con khỉ) này là một hình ảnh triết lý, biểu trưng cho một dòng tâm thức luôn hoạt động liên tục không bao giờ biết dừng nghỉ. Bởi vậy, tâm chúng sinh bị vô minh che lấp nên phải luân hồi trong vòng sanh tử.

Trong bộ Jataka - truyện tiền thân Đức Phật, có nhiều mẩu chuyện kể về tiền thân của Đức Phật đã từng làm con khỉ; như câu chuyện Đức Phật đã làm một con khỉ chúa và đem thân mình nối với sợi dây treo thành một chiếc cầu dây để cứu cả đàn thoát chết. Và trong một mẩu chuyện khác, tiền thân Ngài là một con khỉ thông minh, lanh lợi đã thoát chết trước nanh vuốt của con cá sấu (tiền thân Ðề-bà-đạt-đa).

Trong các hệ thống kinh điển, đặc biệt là hệ thống kinh tạng Nguyên thủy, hình ảnh con khỉ xuất hiện như là bài học sống động. Trong kinh điển có lưu lại sự kiện Đức Phật bỏ vào rừng Parileyya để sống độc cư thiền tịnh và nhập hạ trong ba tháng mùa mưa khi Tăng đoàn không hòa hợp và không vâng theo lời chỉ dạy của Ngài. Khi Đức Phật an trú và nhập hạ trong khu rừng này thì Ngài cũng đã hóa độ được con voi chúa và con khỉ chúa, chúng đã cảm mến, tình nguyện phục vụ Phật trong suốt thời gian Ngài cư ngụ tại khu rừng này. Con voi chúa làm thị giả hầu hạ Đức Phật, còn con khỉ chúa nhận nhiệm vụ đi hái trái, kiếm thức ăn để dâng cúng lên Ngài. Chúng làm đều đặn như vậy với sự nhiệt tâm và hoan hỷ mà không hề nhàm chán cho đến khi thân hoại mạng chung. Đó là những hình ảnh cao đẹp, những bài học đầy giá trị nhân văn trong kinh điển đã để lại cho hậu thế qua hình ảnh của những con khỉ.

Kết luận

Sang năm mới, năm Bính Thân là dịp tốt để mọi người có thể tu tập và quán chiếu lại chính mình qua hình ảnh con khỉ. Hiện nay, ở một số chùa có trưng bày tượng ba con khỉ với biểu tượng “bịt miệng = không nói, bịt mắt = không thấy, bịt tai = không nghe”. Con người thường thích nói nhiều, mà nói thì thường là nói toàn chuyện thị phi của người khác, cho nên chúng ta phải tập “không nói thị phi, lời ác, gây đau khổ cho người”. Tập không thấy, không nghe lỗi người để bớt phiền não, sân si. Hãy tập bớt thấy, bớt nghe, bớt nói. Hãy tập sống sao mà khi thấy ta không động, khi nghe ta không phiền, và nói năng không gây bức não cho người. Đa số phiền não sanh khởi do nhìn không thấu, nghĩ không thông, buông không đành, quên không được. Tu là tập buông xả, sống chánh niệm an trú trong hiện tại để đời sống phúc lạc hơn.

    Chia sẻ với thân hữu: