CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Ngày thứ tám

 

goenka

Thiền sư S.N. Goenka

Thiền Minh Sát 10 ngày

> Lời giới thiệu

> Bài giảng ngày thứ nhất

> Bài giảng ngày thứ hai

> Bài giảng ngày thứ ba

> Bài giảng ngày thứ tư

> Bài giảng ngày thứ năm

> Bài giảng ngày thứ sáu

> Bài giảng ngày thứ bảy

> Bài giảng ngày thứ tám

> Bài giảng ngày thứ chín

> Bài giảng ngày thứ mười

> Bài giảng ngày cuối

> Bảng giải thích thuật ngữ Pàli

NHỮNG BÀI GIẢNG TÓM TẮT CỦA KHÓA
THIỀN MINH SÁT MƯỜI NGÀY
Nguyên tác: "The Discourse Summaries" S.N Goenka 1994
Thiền sư S.N. Goenka; Việt dịch: Thích Minh Diệu

BÀI GIẢNG CỦA NGÀY THỨ TÁM

Ngày thứ tám đã qua, quý vị chỉ còn hai ngày để tu tập. Trong những ngày còn lại, tôi biết quý vị đã hiểu phương pháp đúng đắn, thế nên, quý vị có thể thực tập đúng theo phương pháp và cũng ứng dụng nó trong đời sống hằng ngày. Hãy hiểu giáo pháp là bản chất tự nhiên, là chân lý, là qui luật vũ trụ.

Qui luật của tăng và giảm

Qui luật của đoạn trừ

Tâm xả ly là an lạc tối thượng

Tu tập tâm xả ly có thể làm cho chúng ta sống một đời sống chánh hạnh

Nhờ tu tập tâm xả ly, chúng ta xác định một tương lai hạnh phúc cho chính chúng ta

Ngày thứ tám đã qua, quý vị chỉ còn hai ngày để tu tập. Trong những ngày còn lại, tôi biết quý vị đã hiểu phương pháp đúng đắn, thế nên, quý vị có thể thực tập đúng theo phương pháp và cũng ứng dụng nó trong đời sống hằng ngày. Hãy hiểu giáo pháp là bản chất tự nhiên, là chân lý, là qui luật vũ trụ.

Về phương diện này, có một tiến trình tăng trưởng liên tục. Về phương diện khác, có một tiến trình đoạn diệt. Điều này cũng được giải thích rõ trong những câu kệ:

Các pháp có điều kiện quả thật là vô thường

Bản chất của chúng luôn sinh khởi và hoại diệt.

Nếu chúng sinh ra và được đoạn trừ,

Sự đoạn diệt này mang lại hạnh phúc chân thật. [1].

Tâm sinh khởi có điều kiện là tâm vô thường. Bản chất tự nhiên của mỗi  Saṅkhārā là sanh và diệt. Nó hoại diệt, nhưng sát na kế tiếp nó lại sinh khởi; và lặp đi lặp lại như thế không biết bao nhiêu lần; đây là cách tăng trưởng của Saṅkhārā. Nếu chúng ta phát triển trí tuệ và bắt đầu quán sát một cách khách quan, khi đó tiến trình saṅkhārā tăng truởng sẽ dừng lại và tiến trình đoạn trừ saṅkhārā sẽ sinh ra. Một saṅkhāra sinh khởi, nhưng hành giả giữ niệm xả ly; khi đó saṅkhāra mất hết năng lực và sẽ tự hoại diệt. Tuần tự, các saṅkhārā cũ sẽ sinh khởi và hoại diệt, tiến trình sinh diệt này đã giúp cho chúng ta giữ được tâm bình thản. Càng đoạn trừ nhiều saṅkhārā, chúng ta càng được nhiều hạnh phúc, hạnh phúc thoát khỏi mọi khổ đau. Nếu tất cả saṅkhārā   cũ đều được đoạn trừ thì chúng ta thành tựu vô lượng an lạc của sự giải thoát viên mãn.

Thói quen cũ của tâm thức là phản ứng, và tạo ra nhiều phản ứng (saṅkhārā). Những điều bất như ý đến với chúng ta, và như thế chúng ta lại tạo ra một saṅkhāra sân giận. Vì saṅkhāra phát khởi trong tâm đã phối hợp với một cảm thọ bất lạc trên thân. Sát na kế tiếp, vì thói quen phản ứng cũ, chúng ta lại tạo ra nóng giận nữa, nóng giận này trực tiếp dẫn đến cảm thọ bất lạc trên thân. Tác nhân kích thích nóng giận bên ngoài chỉ là phụ trợ; sự phản ứng mới thật sự là yếu tố quan trọng tác động đến cảm thọ trong chính chúng ta. Cảm thọ bất lạc làm chúng ta có phản ứng sân giận, rồi nó lại tạo ra một cảm thọ bất lạc khác, và lại tiếp tục làm chúng ta phản ứng. Cứ như vậy, tiến trình tăng trưởng vận hành. Nếu không phản ứng lại cảm thọ thay vào đó chúng ta chỉ mỉm cười và hiểu bản chất vô thường của nó, khi đó chúng ta sẽ không tạo ra saṅkhārā   mới, và saṅkhārā đã sinh khởi sẽ bị tiêu diệt không còn tăng trưởng nữa. Kế đến, một saṅkhārā tương tự sẽ sinh ra ở cấp độ sâu trong tâm thức; chúng ta giữ niệm xả ly, và nó sẽ biến mất. Kế đến một saṅkhārā khác nữa lại sinh khởi; chúng ta vẫn giữ niệm xả ly, và nó biến mất. Tiến trình  đoạn trừ saṅkhārā đã vận hành.

Những tiến trình mà chúng ta đang quán sát trong mỗi chúng ta cũng đang vận hành khắp vũ trụ. Ví dụ, có người gieo hạt giống cây banyan (cây bồ-đề). Từ hột giống bé tí nó phát triển thành cây lớn, cây này kết vô số quả hằng năm trong suốt thời gian cây sinh tồn. Và sau khi cây chết, tiến trình vẫn tiếp tục, vì mỗi trái mà cây đã sinh ra chứa đựng một hột hoặc vô số hột, có cùng tính chất như hột giống ban đầu đã sinh trưởng thành cây. Bất cứ khi nào một trong những hạt giống này rơi vào đất tốt nó sẽ nảy mầm và phát triển thành một cây khác, và cây này lại tiếp tục sản sinh ra hàng ngàn trái, và những trái cây này đều chứa những hột giống. Trái cây và hột giống, hột giống và trái cây; một tiến trình tăng trưởng bất tận. Cũng như vậy, vì vô minh chúng ta gieo một hạt giống saṅkhāra, sớm muộn gì hạt giống này sẽ cho ra một trái, hay còn gọi là một saṅkhāra, và saṅkhāra này cũng chứa cùng một loại giống như saṅkhāra cũ. Nếu chúng ta gieo hạt giống vào vùng đất tốt nó sẽ nảy mầm thành một saṅkhāra mới, và đau khổ của chúng ta tiếp nối sinh ra. Tuy nhiên, nếu chúng ta ném hạt giống vào đất đá, chúng không thể nảy mầm, không sinh sản. Tiến trình tăng trưởng dừng lại, và tự động tiến trình đoạn diệt vận hành.

Hãy hiểu tiến trình vận hành này. Tiến trình này cũng có nghĩa là cần phải có nguồn năng lượng cho sự vận hành của đời sống, của thân và tâm tồn tại. Nguồn năng lượng cho thân thể là thức ăn, cũng như môi trường xung quanh chúng ta. Nếu một ngày nào đó chúng ta không ăn, dòng vận hành của vật chất (thân thể) sẽ không dừng lại ngay lập tức. Nó tiếp tục tiêu thụ những nguồn năng lượng dự trữ chứa trong thân thể. Chỉ khi nào tất cả năng lượng dự trữ đã tiêu thụ hết thì dòng vận hành sẽ dừng lại, thân thể sẽ chết.

Thân thể cần thức ăn hai hoặc ba lần một ngày, nhưng dòng tâm thức đòi hỏi phải nạp năng lượng vào trong mỗi sát na. Năng lượng thức ăn nạp vào cho tâm là saṅkhārā. Mỗi sát na, saṅkhāra mà chúng ta tạo ra có trách nhiệm duy trì dòng vận hành của tâm thức. Tâm thức sinh ra trong sát na kế tiếp là sản phẩm của saṅkhāra này. Mỗi sát na chúng ta nạp vào saṅkhāra, và dòng vận hành của tâm thức tiếp tục hoạt động. Nếu ở bất cứ sát na nào chúng ta không tạo ra một saṅkhāra mới, dòng tâm thức vẫn không dừng lại; nó sẽ tiêu thụ saṅkhāra cũ từ nguồn dự trữ. Saṅkhāra cũ này bắt buộc phải tạo ra một kết quả của nó lên bề mặt của tâm thức để tiếp tục duy trì dòng vận hành; và saṅkhāra này sẽ biểu hiện là một cảm thọ trên thân. Nếu chúng ta phản ứng lại cảm thọ, lại nữa chúng ta bắt đầu tạo ra một saṅkhāra mới, gieo trồng những hột giống khổ đau mới. Nhưng nếu chúng ta giữ tâm bình thản quán sát những cảm thọ, saṅkhāra sẽ không còn sức mạnh và bị tiêu diệt. Ở sát na kế tiếp, saṅkhāra cũ phải xuất hiện để duy trì dòng vận hành tâm thức. Lại nữa chúng ta không phản ứng, và nó bị tiêu diệt. Bất cứ lúc nào chúng ta duy trì tỉnh giác và niệm xả ly, tuần tự những saṅkhārā  cũ sẽ xuất hiện trên bề mặt tâm thức và rồi bị tiêu diệt; đây là qui luật của tự nhiên.

Chúng ta phải tự mình chứng nghiệm tiến trình qua việc thực hành phương pháp này. Khi nào những thói quen và đau khổ cũ của chúng ta đều được đoạn trừ, khi đó chúng ta biết rằng tiến trình saṅkhāra đoạn trừ đã được thực tập.

Ngành luyện kim hiện đại cũng áp dụng kỹ thuật này. Để tinh chế và làm cho một kim loại trở thành tinh chất hoàn toàn, điều cần thiết là tách những phân tử hỗn tạp ra khỏi hàng tỉ phân tử tinh chất. Điều này được tiến hành bằng cách cán dẹp khối kim loại ấy thành thể hình que, và lấy kim loại đã tinh chất tạo ra một thể hình tròn. Cho vòng tròn kim loại đã được tinh chế này trượt qua thanh kim loại hình que, và chính vòng kim loại này tạo ra một sức hút tự động loại mọi phân tử hỗn tạp ra khỏi thanh kim loại hình que. Đồng thời, tất cả phân tử trong thanh kim loại hình que được sắp ngay thẳng; thanh kim loại này trở thành dễ uốn, dễ dát mỏng, có thể sử dụng được. Cũng như vậy, phương pháp thiền Minh Sát Tuệ có thể được xem như vòng tròn thanh tịnh tỉnh giác trượt qua cấu trúc cơ thể, loại trừ mọi cấu uế, gặt hái những lợi lạc.

Tỉnh giác và xả ly sẽ làm cho tâm thanh tịnh. Trong tu tập, chúng ta cảm nhận cảm thọ lạc hoặc khổ đều không quan trọng. Điều quan trọng là chớ phản ứng lại với tâm tham đắm hoặc sân giận, vì chúng chỉ gây ra khổ đau. Thước đo duy nhất để trắc lượng sự thăng tiến trong tu tập của chúng ta là tâm xả ly. Nếu chúng ta thể nhập vào chiều sâu của tâm thức và để loại trừ những cấu uế, chúng ta phải tu tập tâm xả ly đối với các cảm thọ trên thân. Nếu chúng ta tu tập tâm tỉnh giác và xả ly đối với những cảm thọ, khi đó chúng ta sẽ dễ dàng giữ tâm bình an đối với các đối tượng bên ngoài.

Một lần có người hỏi đức Phật, sự lợi lạc chân thật là gì. Ngài đáp rằng lợi lạc tối thượng là giữ được tâm chúng ta bình an trước mọi biến đổi, thăng trầm của cuộc đời. Chúng ta có thể đối diện với những cảm thọ lạc hoặc khổ, chiến thắng hoặc thất bại, được hoặc mất, danh thơm hoặc tiếng xấu; chắc chắn mỗi chúng ta phải đối diện với những điều này. Nhưng liệu chúng ta có thể mỉm cười trong mọi hoàn cảnh, một nụ cười thật sự xuất phát từ tâm của chúng ta không? Nếu tâm chúng ta đạt được tâm xả ly ở cấp độ sâu nhất, chúng ta sẽ đạt được chân hạnh phúc.

Nếu tâm xả ly chỉ hình thức bề ngoài thì nó sẽ không giúp được gì cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Cũng giống như, mỗi chúng ta mang trên người một bình xăng, hoặc bình dầu. Nếu một tia lửa sinh ra, (cũng như kết quả của phản ứng ở quá khứ), ngay lập tức nó tạo thành một vụ nổ lớn, rồi sản sinh ra hàng triệu đóm lửa khác, (cũng có nghĩa là nó tạo thêm nhiều saṅkhārā nữa). Đám lửa cháy càng nhiều, khổ não càng tăng trong tương lai. Nhờ hành trì thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta dần dần hút rỗng bình nhiên liệu. Những đóm lửa vẫn phát ra vì saṅkhāra quá khứ vẫn còn, nhưng khi lửa phát ra, chúng chỉ đốt nguồn nhiên liệu của chúng mang đến; nhiên liệu mới không được cung cấp. Chúng bùng cháy cho đến khi nguồn nhiên liệu của chúng mang đến hết sạch, và khi đó chúng bị tiêu hủy đi. Về sau, khi chúng ta tiến xa hơn trên con đường tu tập, chắc chắn chúng ta bắt đầu phát triển dòng nước mát của tình thương và lòng từ bi, và bình chứa nhiên liệu lúc bấy giờ được chứa đầy với nước mát này. Khi ấy, ngay khi có một đóm lửa phát sinh, nó cũng liền bị tiêu huỷ. Nó cũng không thể đốt cháy ngay cả một tí nhiên liệu mà nó mang đến.

Trên phương diện tri thức, chúng ta có thể hiểu vấn đề này, và hiểu rằng chúng ta nên có sẳn máy bơm nước phòng khi lửa phát sinh. Nhưng khi lửa phát sinh thì chúng ta lại sử dụng vòi bơm xăng và một đám cháy lớn phát sinh. Sau đó chúng ta nhận ra sai lầm, nhưng chúng ta lại tiếp tục vi phạm trong lần lửa cháy kế tiếp, vì trí tuệ của chúng ta còn nông cạn. Nếu ai có trí tuệ thật sự, khi gặp lửa vị ấy sẽ không đổ xăng vào, vì biết rằng điều này gây tác hại. Thay vào đó vị ấy tưới nước mát của tình thương và lòng từ bi, giúp đỡ những người khác và chính mình.

Trí tuệ phải là trí tuệ đối với những cảm thọ. Nếu quý vị tự luyện tập để tỉnh giác và giữ bình thản đối với mọi cảm thọ trong mọi hoàn cảnh, quý vị sẽ không bị bất cứ điều gì có thể chế ngự. Có thể khoảng vài giây quý vị quán sát trong niệm xả ly. Khi đó, với tâm xả ly này, quý vị quyết định những hành động nào cần tiến hành. Chắn chắn rằng đó là một hành động đúng, tốt, có lợi cho người khác, vì hành động này được quyết định khi tâm bình thản.

Đôi khi trong cuộc sống chúng ta cũng cần sử dụng hành động mạnh. Chúng ta đã cố giải thích cho ai đó một cách lịch sự, tử tế, với một nụ cười, nhưng họ chỉ có thể hiểu qua những lời nói nặng, hành động cứng rắn. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng lời nói hoặc hành động mạnh. Nhưng trước khi làm như vậy, chúng ta phải kiểm tra lại tâm của mình có được bình tĩnh hay không, và xem chúng ta thật sự có lòng từ bi và tình thương với mọi người hay không. Nếu được như thế, hành động sẽ có ích; bằng không, nó sẽ không giúp gì cho người khác. Chúng ta hành động mạnh để giúp những người sai lầm. Căn cứ vào tình thương và lòng từ này chúng ta không thể làm bất cứ điều gì sai trái.

Trong trường hợp bị công kích, người hành trì thiền Minh Sát Tuệ tập tránh xa người xung đột và nạn nhân bị xung đột, ban rải lòng từ không chỉ cho nạn nhân mà còn những người gây xung đột nữa. Chúng ta phải hiểu rằng người gây xung đột không biết anh ta đang làm hại chính mình. Hiểu được điều này chúng ta cố gắng giúp anh ta ngăn ngừa không làm bất cứ điều gì gây đau khổ cho anh ta trong tương lai.

Tuy nhiên quý vị phải cẩn thận, không phải kiểm tra những hành động sau khi biến cố đã xảy ra. Quý vị phải tự kiểm tra tâm của mình trước khi hành động. Nếu tâm đầy ắp phiền não, chúng ta không thể giúp bất cứ ai. Trước tiên chúng ta phải chỉnh đốn những sai lầm của chúng ta rồi mới có thể chính đốn sai lầm của người khác. Trước hết chúng ta phải thanh lọc tâm của chúng ta bằng tự quán sát mình. Sau đó chúng ta mới có thể giúp mọi người.

Đức Phật dạy có bốn hạng người trên thế gian này:

Hạng người đi từ bóng tối vào bóng tối

Hạng người đi từ ánh sáng vào bóng tối

Hạng người đi từ bóng tối ra ánh sáng

Hạng người đi từ ánh sáng ra ánh sáng

Đối với hạng người đầu tiên, mọi thứ xung quanh chỉ là đau khổ, tối tăm, nhưng điều bất hạnh lớn lao nhất của vị ấy là không có trí tuệ. Mỗi khi gặp khổ đau, vị ấy sinh tâm sân hận, căm ghét, bực tức và đổ lỗi cho người khác làm khổ mình. Tất cả những saṅkhārā của nóng giận và thù hằn này sẽ mang lại cho cuộc sống tương lai của vị ấy tối tăm và khổ não hơn.

Hạng người thứ hai được xem là có đời sống tươi sáng: như là có tiền bạc, địa vị, quyền lực, nhưng vị ấy cũng chẳng có trí tuệ. Vì vô minh vị ấy phát triển chủ nghĩa tự ngã, không hiểu rằng những tham chấp của tự ngã sẽ mang lại cho vị ấy một tương lai tối tăm.

Hạng người thứ ba có cùng hoàn cảnh như hạng người đầu, đó là bị đoanh vây bởi tối tăm. Nhưng nhờ có trí tuệ, và hiểu hoàn cảnh của mình, vị ấy biết rằng chính vị ấy phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi khổ đau của bản thân. Vị ấy lặng lẽ và an lòng làm những gì có thể thay đổi được hoàn cảnh, nhưng không khởi lên bất cứ sân giận nào, hoặc thù ghét người khác; thay vào đó, vị ấy chỉ có tình thương và lòng từ với những người đang gây đau khổ cho mình. Tất cả những gì anh ta tạo ra mang lại sự sáng lạng cho tương lai.

Cuối cùng, hạng người thứ tư, giống như người ở nhóm thứ hai, có đầy đủ tiền bạc, địa vị và quyền lực, nhưng không như hạng người thứ hai, vị ấy có trí tuệ. Vị ấy sử dụng những gì mà vị ấy có để bảo tồn bản thân và những người nương vào vị ấy, nhưng bất cứ những gì mà vị ấy làm đều vì mục đích tốt đẹp cho người khác, với tình thương và lòng từ. Sự sáng lạng ngay bây giờ và tương lai.

Ở đây chúng ta không thể chọn lựa hoặc hướng vào bóng tối hoặc hướng ra ánh sáng; điều này được quyết định do Saṅkhārā quá khứ của chúng ta. Quá khứ không thể thay đổi được, nhưng chúng ta có thể kiềm chế ở hiện tại bằng sự điều phục chính bản thân. Tương lai chỉ là quá khứ kết hợp với những gì có mặt trong hiện tại. Thiền Minh Sát Tuệ dạy cho chúng ta phương cách để có thể tự chủ chính mình nhờ sự tu tập tâm tỉnh giác và xả ly đối với cảm thọ. Nếu chúng ta phát triển khả năng tự chủ này trong giây phút hiện tại, chắc chắn tương lai của chúng ta sẽ trở nên xán lạn.

Sử dụng hai ngày còn lại, quý vị học phương cách làm chủ bản thân trong sát na hiện tại. Tiếp tục hành trì giáo pháp để loại trừ tất cả khổ đau, và an vui với hạnh phúc chân thật tại đây và ngay bây giờ.

Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều được hạnh phúc!

_______________________

[1] Trường bộ kinh, Kinh Ðại Bát Niết-bàn số 16.

    Chia sẻ với thân hữu: