Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Những bước chân du hóa

8

Trên con đường của văn hóa và lịch sử, có những bước chân rầm rập rung chuyển đất trời, lại có những bước chân thầm lặng, nhẹ nhàng mà chuyển hóa lòng người. Có những bước chân làm tung bụi mù trên mặt đường, lại có những bước chân bám bụi đường vào da thịt. Có những bước chân đến đích rồi thì dừng lại, lại có những bước chân còn đi mãi trên đường khi sứ mạng trên đời chưa hoàn tất.

Bước chân của những người Khất sĩ thuộc trường hợp thứ hai. Khởi đầu, “Khất sĩ là học trò khó đi xin ăn để tu học[1]. Họ có mặt trên những nẻo đường ở Ấn Độ, Lào, Việt Nam… Có thể gọi đó là những bước chân du hóa: đi để hoằng hóa, đi để mà chuyển hóa, chuyển hóa bằng bước đi, đi để góp phần thay đổi thế giới và thay đổi lòng người.

Những người Khất sĩ, tưởng như họ cầu xin thực phẩm trần gian, nhưng thực ra họ chỉ cầu xin lẽ thật và lòng tốt của con người. Tưởng như họ chỉ thu về chút của cải vật chất, thực ra họ cho đi của cải tinh thần và gieo trồng những hạt giống của điều thiện khắp bốn phương trời. Tổ sư Minh Đăng Quang nói: “Khất là xin, sĩ là học; sống là xin, ai ai cũng là đang sống xin, để cho được cái học cái biết, xin sống là để cho nên cái biết, biết ấy là học, cho biết lẽ thật…[2].

Bước chân của người Khất sĩ, cũng như tay lần tràng hạt của người tu sĩ, tự nó là ngôn ngữ, là biểu tượng của đạo hạnh. Đi là đến với cuộc đời, là gặp gỡ lòng người, là gieo rắc niềm vui và sự khoan dung, an tĩnh. Trên con đường xe cộ tấp nập, ồn ào ngoài kia, chỉ có người tu sĩ đầu đội trời chân đạp đất, lặng lẽ đi, âm thầm, không vướng bận, không âu lo, không dè chừng, không nghi ngại, không đòi hỏi, xem cuộc đời như bào ảnh trôi qua trước mắt, chỉ có một tâm nguyện hòa giải với thiên nhiên, hòa hợp với lòng người.

Những người tín hữu đang chờ bên đường từ sáng sớm để dâng lễ vật cho những sứ giả của Đức Phật đâu phải là những người bố thí, ban phát; chính họ đang chờ nhận những hạt giống lành, như nhận nước Cam lồ tưới mát tâm hồn có khi đang khô héo vì tham sân si, nhận hoa trái tinh thần tô điểm cho cuộc đời lắm khi bất hạnh và rủi ro của họ. Chúng ta hãy đọc một đoạn văn trong Chơn lý “Bài học cư sĩ”:

Bạch chư Đại đức,

Chúng tôi xin dâng các lễ vật này, gọi là lễ cúng dường vật thực (y, bát, cốc, thuốc uống).

Những món ăn cơm, bánh trái, được hạp theo lẽ đạo.

Có cũng được hợp theo luật đạo, để dâng cúng đến Phật Pháp Tăng.

Xin Tam Bảo chứng minh!

Ngưỡng cầu cho các bậc ân nhân,

Nhứt là cha mẹ chúng tôi, tất cả chúng sanh, và chúng tôi đều được sự tiến hóa, sự ích lợi, và sự bình an lâu dài.[3]

Những người Khất sĩ Việt Nam đã bước đi âm thầm suốt 70 năm trên con đường của bốn phép an trú trong quán niệm như Đức Thế Tôn đã dạy: “Quán niệm thân thể nơi thân thể”, “quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ”, “quán niệm tâm thức nơi tâm thức”, “quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức” trong tâm thế “tinh cần, sáng suốt và tỉnh thức, bỏ ra ngoài mọi tham dục và chán bỏ đối với cuộc đời” (Nhất Hạnh, Con đường chuyển hóa, Nxb. Tôn giáo, 2006, tr. 5-6).

Với Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, người mở ra con đường đi tới chánh đạo là Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, thế danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Huờn, sinh năm 1923. Vĩnh Long (làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, huyện Tam Bình) là nơi Đức Tổ sư sinh ra. Gành Mũi Nai - Hà Tiên là nơi Tổ sư an trú, thiền định và đắc đạo. Sau đó Sư về Phú Mỹ - Mỹ Tho tu trì ở chùa Linh Bửu rồi đến năm 1946 khai lập Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, bắt đầu dẫn đoàn Du Tăng đi hành đạo, nên xem đây là nơi Tổ sư chuyển pháp luân. Sau một cung đường truyền đạo, Đức Tổ sư trở về Vĩnh Long, nơi sinh trưởng cũng là nơi chứng kiến ngày Đức Tổ sư vắng bóng.

Những bước chân của các Giáo đoàn Du Tăng và Ni giới tiếp tục xuất phát từ Tổ đình Mỹ Tho mái tranh vách đất do Tổ sư định lập, từ đó tỏa ra khắp miền Tây, miền Đông Nam Bộ và lên đất Sài Gòn – Gia Định. Tháng 4 năm 1965, Tịnh xá Trung Tâm ở số 7 Nguyễn Trung Trực, Gia Định được khởi công xây dựng trong một khuôn viên rộng 5.490 m2. Ban đầu tịnh xá bao gồm tòa chánh điện, nhà thờ Cửu Huyền Thất Tổ, hai dãy nhà Tăng và các cốc của chư Tăng. Nơi đây trở thành trụ sở của Trung ương Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam từ năm 1966 đến năm 1980. Sau ngày hòa bình, từ tháng 11 năm 1980, Thượng tọa Giác Toàn (trụ trì) và Thượng tọa Giác Phúc (Giáo phẩm Hệ phái) tổ chức trùng tu Tịnh xá Trung tâm.

Trước năm 1975, trên toàn miền Nam, Giáo hội Tăng-già Khất sĩ có khoảng trên 250 tịnh xá mà văn phòng Trung ương là Tịnh xá Trung Tâm. Hội đồng lãnh đạo Giáo hội do ngài Trưởng lão Giác Tánh làm Tăng chủ và Thượng tọa Giác Nhiên làm Tổng Trị sự trưởng, tức Viện trưởng Viện Hành đạo. Theo gương của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, các đệ tử của Ngài đã thành lập nhiều đoàn Du tăng Khất sĩ, gồm 6 Giáo đoàn Tăng và 1 đoàn Ni gọi là Ni giới Hệ phái Khất sĩ, cùng với 3 Giáo đoàn Ni dưới sự điều hành trực tiếp của chư Tăng. Với bộ y vàng, không nón mũ, giày dép, tay bưng bát, các nhà sư Khất sĩ đã dấn bước trên khắp các làng mạc và thành phố miền Nam. Đi đến đâu quý Ngài cũng tổ chức thuyết pháp, xây cất tịnh xá, tích cực tham gia quyên góp cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh và thiên tai.

Ngay từ năm 1968, những người kế tục sự nghiệp của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã tạo lập một thửa đất 6,2 hecta bên xa lộ Sài Gòn để xây dựng Pháp viện, chuẩn bị mở mang đạo tràng. Pháp viện do Hòa thượng Giác Nhiên, nguyên Trưởng Giáo đoàn IV Hệ phái Khất sĩ chủ trì xây dựng, với sự đóng góp công đức của Hòa thượng Giác Phúc (viện chủ) và Hòa thượng Giác Lai (trụ trì). Pháp viện đã được trùng tu qua các đời trụ trì: Hòa thượng Giác Phúc, Thượng tọa Giác Khoa, Trưởng lão Giác Huyền. Lúc bấy giờ Pháp viện chỉ gồm chánh điện, nhà thờ Cửu Huyền Thất Tổ và am cốc của chư Tăng được xây cất bằng vật liệu nhẹ.

Từ năm 1968 cho đến năm 1975, quanh Pháp viện là một bãi rác khổng lồ, có lúc cả vạn người mưu sinh trên mặt bằng hơn 6 vạn mét vuông, ngập đầy đồ phế thải: hàng nhựa, bao ni-lông, xích líp, vỏ xe, đồ hộp quá hạn… Sau 1975, thời cuộc đổi thay, Hệ phái Khất sĩ chưa thể tái thiết Pháp viện trên khu đất do mình tạo lập, nhưng dự án đại trùng tu Pháp viện Minh Đăng Quang vẫn không thôi nung nấu tâm can Hòa thượng Giác Tường, Hòa thượng Giác Phúc, Hòa thượng Giác Toàn và những tu sĩ kế nghiệp Tổ sư Minh Đăng Quang. Hệ phái đã hiến 2 hecta cho sự nghiệp công ích của quận Thủ Đức, hiến thêm 0,5 hecta để mở rộng đại lộ. Vào ngày 28-2-2009, Pháp viện được chính thức khởi công xây dựng trên mặt bằng 37.490 m2 tại địa chỉ 505 Xa lộ Hà Nội, phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh. Sau 5 năm khẩn trương thi công, Pháp viện tạm hoàn thành những phần căn bản để tổ chức Đại lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng vào ngày mùng 01 tháng 02 năm Giáp Ngọ - 2014. Vậy là hoa sen đã nở trên bãi bùn, bãi rác năm xưa.

Với chánh điện, thiền đường, giảng đường tạo thành một cấu trúc hài hòa, Tăng phòng gắn với công trình nhưng vẫn có tính chất độc lập, bốn ngôi tháp án ngữ ở bốn góc của chánh điện, Pháp viện là đỉnh cao thể hiện tinh thần “Trung đạo”, quan điểm thờ phụng và phương pháp tu tập của Hệ phái Khất sĩ. Điều đó cho thấy sự kế thừa truyền thống hoằng pháp, hệ thống tịnh xá và kiến trúc mỹ thuật của Hệ phái Khất sĩ thời trụ xứ.

Thành tựu ngày hôm nay luôn nhắc nhở những bước chân du hóa của ngày hôm qua và nói lên rằng đó là kết quả của một quá trình hoằng hóa và chuyển hóa kéo dài bảy thập niên. Hạt giống đã gieo từ 70 năm trước, nay đã thành cây cho trái chín. Như Tổ sư Minh Đăng Quang viết: “Sự lựa giống tức là lựa giáo pháp, để tu học gieo trồng, đặng có kết quả tốt đẹp cho đời, là điều mà ai cũng mong muốn như vậy[4]. Ngài còn nói: “Tất cả chúng sanh là đoàn Du Tăng Khất sĩ. Đúng lý như vậy, ai ai khá hay giác ngộ, tự mình đi lấy, chớ nên ỷ lại và nô lệ[5].

Tự mình đi lấy, chớ nên ỷ lại và nô lệ”, lời khuyên đó của Tổ sư Minh Đăng Quang vẫn còn ý nghĩa thời sự, không chỉ trong tu tập, mà cả trong sinh hoạt văn hóa và ứng xử hằng ngày của con người.

GS.TS. Huỳnh Như Phương
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM


[1] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành, tr. 164.

[2] Sđd, tr. 865.

[3]Sđd, tr. 239.

[4] Sđd, tr. 479.

[5] Sđd, tr. 866.

    Chia sẻ với thân hữu: