CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


NS. Tuyết Liên giảng Chơn lý "Chánh đẳng Chánh giác"

Vào ngày mùng 2 tháng 5 năm Kỷ Hợi (nhằm ngày 4 tháng 6 năm 2019) tại trường hạ Tịnh xá Ngọc Phú (số 64 đường Ni sư Huỳnh Liên, phường 10 quận Tân Bình, TP. HCM), Ni sư Tuyết Liên, trụ trì Tổ đình Tịnh xá Ngọc Hiệp, chia sẻ cùng chư hành giả An cư chủ đề “Đọc và tìm hiểu Chơn lý của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang”.

Được biết, năm nay là năm thứ 4 Ni sư chia sẻ Chơn lý cùng đại chúng.

Năm nay, Ni sư cùng đại chúng đọc và tìm hiểu Chơn lý số 9 “Chánh đẳng Chánh giác”.

Trước khi đi vào nội dung bài đọc, Ni sư khuyên nhủ đại chúng hãy dành thời gian đọc Chơn lý để tiếp cận, tư duy thẩm thấu lời dạy của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang. Đọc và suy ngẫm thật kỹ từng lời thì chúng ta mới có thể thấy biết được con đường đức Tổ sư đã đi và dạy cho chúng ta cách đi như thế nào cho có kết quả để làm được điều đó thì chúng ta phải đọc kỹ (nỗ lực học thuộc lòng nếu có thể) 10 quyển Chơn lý đầu tiên thì chúng ta sẽ thấy được căn bản pháp hành, con đường tiến hóa của muôn loại.

Về nội dung bài “Chánh đẳng Chánh giác”. (Viết theo bài giảng của Ni sư Tuyết Liên)

Mở đầu quyển Chơn lý số 9, trước nhất Tổ sư đã định nghĩa từng chữ một của tựa đề, giải thích đơn giản nhưng dễ hiểu, vì ngôn từ của Chơn lý rất bình dân, dành cho tất cả mọi tầng lớp xã hội, trình độ nào thì hiểu theo trình độ ấy. Và cuối cùng Tổ sư lại gom gọn lại rằng Chánh đẳng Chánh giác là Vô thượng, là không trên, là mục đích và chỗ đến của tất cả chúng sanh.

Kế đến Chánh đẳng Chánh giác còn được so sánh với 4 hình ảnh khác nhau

- Cha lành của muôn loại: Chánh đẳng Chánh giác là cội nguồn của tình thương yêu, yêu khắp tất cả chúng sanh chung không phân biệt tập cấp.

- Thầy chung của thế giới: Thế giới thì gồm 2 dạng hữu hình và vô hình, chánh đẳng chánh giác là thầy của tất cả, dạy cho tất cả những pháp lành.

- Chúa tể của võ trụ: Nghĩa là Chánh đẳng Chánh giác có quyền lực, có năng lực chế ngự và điều phục không phải chỉ ở nơi thế giới mà gồm luôn cả vũ trụ, một không gian rộng lớn.

- Chơn lý pháp bảo: Nghĩa là Chánh đẳng Chánh giác là sự thật , dù thời gian có thay đổi như thế nào, không gian thay đổi ra sao thì Chánh đẳng Chánh giác vẫn như như bất động.

Từ những định nghĩa, ví dụ, so sánh… để rồi Đức Tổ sư lại ví Chánh đẳng Chánh giác, là một cặp nhân quả “Có thật hành Chánh đẳng, mới sanh chánh giác”, hay là con đường Trung đạo là Niết-bàn. Niết-bàn là Trung đạo.

Ở nhiều quyển Chơn lý khác như “Bát chánh đạo”, “Y bát chơn truyền”… Đức Tổ sư cũng đề cập rất nhiều về con đường Trung đạo, tuy chữ nghĩa thì có phần khác nhau ở mỗi quyển nhưng ý thì không thay đổi và nơi quyển Chơn lý số 9 này thì đức Tổ sư nói đến ý nghĩa Trung đạo khá chi tiết. Vả lại, cách hành văn của Tổ sư rất mới và lạ, bắt đầu cho một ví dụ về Trung đạo, Đức Tổ sư dùng với 2 từ “cũng như”,  hai từ này được lặp lại chín lần đồng nghĩa sẽ có 9 ví dụ để giải thích ý nghĩa. 9 ví dụ ấy được tóm tắt như sau :

1. Cũng như bờ lộ nơi khoảng giữa mới kêu là đạo chánh đẳng.

2. Cũng như đất bằng khoảng giữa, không cao thấp là chỗ cứu khổ chết lâu dài, mà kêu là con đường chánh đẳng trung đạo.

3. Cũng như mặt nước bằng thẳng kêu là đạo chánh đẳng trung bình, đứng vững.

4. Cũng như tinh thần vật chất không dư không thiếu, không thái quá không bất cập,trong đời có đạo trong đạo có đời, cọ sát tiếp cận thực tế thì kêu là trung đạo Chánh đẳng của bậc giác ngộ.

5. Cũng như lìa thiện ác, không ở bên nào, tức là chánh giữa trung đạo, chánh đẳng chánh giác của người trí huệ.

6. Cũng như không bỏ hai bên lề, mà mình thì đi theo chánh giữa, mới gọi là đạo của mình.

7. Cũng như chỉ có những ông già, già kinh nghiệm trí huệ từ bi, mới được gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác

8. Cũng như kẻ chơn như nằm nghỉ, nơi chỗ kín mới yên thân an dưỡng lâu đời, như hơi thở điều hòa, không hay dở mau chậm, mới gọi là chơn chánh đạo.

9. Cũng như sự sống của trái tim điều hòa không mau chậm, là sự không thái quá bất cập của tương đối.

Qua 9 ví dụ này cho ta thấy được trung đạo được Tổ sư ví khá là đời thường, vì chúng hiển thị ngay trong đời sống của chúng ta,không giải thích cao xa như nhiều nhà trí giả khác, đơn giản và mộc mạc, gần gũi mà dễ hiểu.

Kế đến, Đức Tổ sư lại dùng ví dụ để định nghĩa cho “ Chánh đẳng chánh giác”. Thường thì chúng ta hay thấy rất nhiều hình ảnh thể hiện ý nghĩa của từ bi và trí tuệ, hai danh từ này thường được sử dụng rất nhiều và lập đi lập lại trong đời sống của người tu sĩ, đây cũng là 2 trong 8 cánh biểu hiện ý nghĩa của hoa sen, 2 trong 5 màu của lá cờ Phật giáo,… Nhưng trong bài Chơn lý này, đức Tổ sư lại cho chúng ta thêm một định nghĩa mới “Chánh đẳng là từ bi, sống chung, hòa hiệp, và Chánh giác là trí huệ, dứt bỏ điều sái quấy” định nghĩa này có thể làm nên sự khác biệt và đặc thù trong chơn lý của đức Tổ sư. “Chánh đẳng Chánh giác” cũng là cây Bồ-đề to lớn che chở cho muôn loài, hay là giai cấp của giới luật mà tạo thành đời sống của bậc vô thượng tối cao.

Ở thời đại công nghệ 4.0 ngày hôm nay, chúng ta thường nghe rất nhiều chủ đề nói về cách “ Sống chậm”, vì xã hội tiến hóa nhanh quá, nhanh đến mức con người không thể kiểm soát được vì vậy sống chậm là cách để con người hiện đại nhìn ra nhiều vấn đề để cân bằng xã hội cũng như cân bằng đời sống cá nhân. Nhưng cách đây gần một thế kỷ, khi mà công nghệ chưa phát triển thì đức Tổ sư cũng đã đề cập về vấn đề sống có tư duy quán chiếu, và trong chơn lý này Đức Tổ sư có dạy: “Đời sống của bậc Chánh đẳng Chánh giác Trung đạo thật tối thượng tối cao. . . Ta có thể nói đó là kẻ mà bao giờ cũng biết mình có hơn người, mà cũng có thua người. Vì vậy mà họ chẫm rãi, khoan thai, trang nghiêm, êm ái, đằm thắm nhẹ nhàng, khéo léo chơn thật, ôn hòa hiền hậu, dịu dàng tốt đẹp, giải thoát tự do, thanh tịnh vắng lặng, đứng vững sống mãi trên đời, và được thành công trong mọi việc, điều chi cũng được như ý, mà khỏi phải lo âu, cố chấp giữ gìn.”

“Cái sức mạnh của bậc Chánh đẳng Chánh giác là không bao giờ khoe khoang hay khiêm nhượng”. Mới đọc qua câu này có nhiều người sẽ dễ hiểu lầm và đặt câu hỏi thắc mắc rằng tu hành mà tại sao lại không khiêm nhượng (khiêm nhượng là biết nhún nhường?). Nếu đọc kỹ đoạn tiếp theo chúng ta sẽ thấy rõ, theo Tổ sư thì khiêm nhượng nghĩa là bị mê lầm, sa ngã, theo một lề lối, nẻo quanh co nào đó mà không chú tâm vào con đường mà mình đang đi. Cũng như nhiều vị tu học khất sĩ, chưa tìm hiểu kỹ giáo pháp khất sĩ (bộ Chơn lý), dành nhiều thời gian cho việc đọc những bộ luận cao xa với nhiều tên gọi rất “khoa học”, mà vội nói rằng khất sĩ không có pháp tu nên đi bôn ba khắp nơi cầu học. Thật ra thì pháp khất sĩ có rất nhiều, điều quan trọng rằng chúng ta có đủ sức để học, để tu, để thực hiện rốt ráo hay không mà thôi!

Kế đến, đức Tổ sư lại dùng 2 câu chuyện để cho chúng ta biết ý nghĩa của chữ “Hòa” của trung đạo. Hai câu chuyện này tuy khác nhau về nội dung nhưng ý nghĩa cốt yếu là khuyên nhủ chúng ta phải biết chia sẽ cho nhau vì tất cả chúng sanh là chung sống  và “sống để học hành mở trí cho yên vui” chớ không phải lo cho xác thịt. Nếu có xảy ra 2 cực đoan, người sống an nhàn thì quá dư dã, còn người làm việc cực nhọc mà lại thiếu thốn, gây ra sự hỗn loạn trong xã hội, vậy nên cần phải dung hòa trung đạo, từ bi chánh đẳng, trí huệ chánh giác.

Trong đời sống thường nhật của chúng ta, nhất là những vị tu hành, chúng ta cố gắng sống một cuộc sống đơn giản, bình thường, từ bên trong (tâm ) hay cho đến bên ngoài (vật chất). Nếu nói vui thì chúng ta cần nên cắt bỏ cái đuôi có phụ từ quá: Như vui quá, giận quá, sướng quá, khổ quá… Vì “quá” là vượt ra khỏi một giới hạn cho phép mà Tổ sư gọi đấy là thái quá, là ruộng, là bãi, là non cao, là trủng thấp, là trên mây v.v…

Một vị khất sĩ, muốn trở thành bậc “Trung đạo Chánh đẳng Chánh giác” thì việc cần làm là phải sống đời khất sĩ tri túc. Chư Phật quá khứ thành đạo cũng bằng con đường này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo cũng bằng con đường này và việc chúng ta cần làm là noi theo các vị để trở thành bậc giác ngộ. Khất thực dạy cho người biết nuôi đạo giúp tăng, dạy cho mình biết trau tâm, giồi trí, ban hành trung đạo hay nói cách khác, khất thực xin ăn là pháp hành để trau tâm, người giúp ta vật chất ta giúp lại cho người bằng tinh thần, dung hòa cùng nhau chung sống

Trước năm 1975, hạnh khất thực là việc làm thường nhật của người khất sĩ, sống đúng theo chơn lý và đạt được tâm giải thoát đúng nghĩa một vị khất sĩ, không nhà cửa, không của cải, ngày qua ngày tâm không tham chấp, dễ tu nhập định, tham thiền. Nhờ vậy, mà cư gia bá tánh dễ thấy đạo, được học đạo bằng cách tiếp cận, gần gũi chư Tăng Ni qua thân giáo hay khẩu giáo. Còn hiện nay, việc khất thực gần như là pháp hành bị hạn chế vì nhiều lý do nên phần lớn thế hệ tân học chúng ta chưa cảm nhận sự tinh tấn trong pháp hành, chỉ được tham dự buổi khất thực truyền thống như những cảnh phim được dựng sẵn, nên sự hoằng truyền giáo pháp có phần hạn chế. Vậy nên tài thí pháp thí dung hòa nuôi đạo, là phận sự của tất cả, đừng ai chia sẻ, mà bị đớn đau, và phải biết kỉnh trọng đạo. Vậy nên Tăng không xin, mà tự cư gia phải lo bố thí, cư gia không hỏi mà tự Tăng phải tìm dạy.

Trải dài trong bộ Chơn lý của đức Tổ sư, Ngài thường hay lập đi lập lại về sự tiến hóa, chúng ta sống là phải tiến chớ không phải dừng lại hay thối lui, cũng giống như một người mẹ sanh ra một đứa con, nuôi con người mẹ sẽ không vui khi con mình chậm phát triển. Vậy nên sự tu học thì nên cố gắng có sự tiến bộ mỗi ngày, ngày mai hơn bữa nay, tháng sau hơn tháng này, năm sau sẽ hơn năm này, có như vậy thì sự học tu mới có kết quả. Cho nên chúng sanh tập lần từ giáo lý của ta, người, đến gia đình, xã hội, phải trải qua từng lớp giả tạm, để đến với lớp sống chung, toàn thể của võ trụ chúng sanh. Tuy sự hành là từ thấp đến cao nhưng Tổ sư dạy chúng ta trong việc suy nghĩ thì ngược lại, đừng bao giờ nghĩ riêng cho mình trước mà phải nghỉ đến cái chung “Vậy nên thấy lớn, chớ đừng thấy nhỏ là thiếu học, vì tất cả chúng sanh chung, là có gồm cả xã hội gia đình, và mình trong đó, có sót ai đâu”.

Cuối cùng, đức Tổ sư nêu ra đường lối tu tập cũng như giáo lý của 3 tông phái: Thích-Đạo-Nho. Trước nhất là Tổ sư nói về cách lập giáo của Khổng Tử, dạy cho gia đình trở nên thiện lương, là giáo lý tạm thời để cho người ác trở nên thiện, trẻ nhỏ thành người lớn… rồi lần lần tiến hóa hơn nữa, giáo lý của Lão Tử  dạy cho xã hội trở nên lương thiện, cuối cùng nói về giáo lý của Đức Thích Ca, là giáo lý dạy cho người thiện trở nên bậc giác ngộ. Vậy nên đức Tổ sư đã khẳng định bước đi của sự tiến hóa thông qua ba tôn giáo “Cho nên trường học của chúng ta có ba lớp: từ Khổng Tử, bước đến Lão tử, đến Phật Thích-ca và sẽ đi thi. Vậy nên ai học được đến lớp của Phật, dầu thi rớt quả Phật, chớ cũng được làm vua cõi Trời, vua cõi người”. Tuy đức Tổ sư có phân lập ba lớp khác nhau, nhưng không phải để so sánh tôn giáo với tôn giáo, mà là tất cả những ai muốn thành Phật đều phải trải qua ba lớp, ba giáo lý, vì tam quy hiệp nhất, ba giáo là một nhà. Thể hiện rõ ý nghĩa của sự “hòa”, ý nghĩa của trung đạo chánh đẳng chánh giác.

Tóm lại: Ý pháp CL Chánh đẳng Chánh giác, Đức Tổ sư giới thiệu con đường Trung đạo là con đường của chư Phật ba đời, là con đường giác ngộ có công năng đưa người đến kết quả an vui, người đắc đạo quả ấy kêu là Phật.

Một ý pháp rất thú vị, một cặp nhân quả “Có thật hành Chánh đẳng, mới sanh Chánh giác, và cũng nhờ Chánh giác mới được đến nơi Chánh đẳng”, tức “có từ bi mới có trí tuệ hay có trí huệ mới mở lòng từ bi”. Chánh đẳng Chánh giác là Trung đạo là Niết-bàn hay Niết-bàn là Trung đạo. Chỉ rõ mục đích của chúng sanh sống là để học, để tu; từ bi chánh đẳng, trí huệ chánh giác, dung hòa trung đạo là tư tưởng mà Chơn lý muốn hướng dẫn chúng ta cách sống đời an vui khỏi khổ.

Với mục đích và cách sống “sống để tu hành học đạo, việc làm xem như tuồng giải trí, kinh nghiệm vui chơi” thì kết quả sẽ là “chờ ngày mãn kiếp bước lên trời Phật” thể hiện một trạng thái tâm cảnh của người đạt đạo.

Câu kết Hòa là đạo, đạo là trung, trung là kết quả. Quả trung đạo Chánh đẳng Chánh giác là quý báu hơn hết, đúng lý hơn hết. Chúng ta nên lưu tâm suy gẫm.

 

    Chia sẻ với thân hữu:

Các bài viết liên quan