TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC TƯỜNG (1930 - 2026)

TIỂU SỬ

TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC TƯỜNG
(1930 – 2026)

Ủy viên Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh GHPGVN
Chứng minh Đạo sư Phật giáo Khất sĩ

 

 

I.     THÂN THẾ VÀ THỜI NIÊN THIẾU

Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường, thế danh Nguyễn Văn Khảm, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1930 (Canh Ngọ) tại Rạch Bà Khôi, ấp Phú An, tổng An Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc.

Ngài sinh trưởng trong một gia đình thuần nông, hiền lương, chất phác, giàu đạo đức. Thân phụ là cụ Ông Nguyễn Văn Hiệu (pháp danh Thiện Phước), thân mẫu là cụ Bà Huỳnh Thị Lúa (năm 1965, cụ Bà xuất gia với pháp danh Thích Nữ Minh Liên). Hòa thượng là người con thứ tám trong gia đình có 9 anh chị em.

Tuổi thơ của Ngài gắn liền với ruộng đồng, sông nước miền Tây Nam Bộ. Sau khi học hết lớp ba trường làng, Ngài ở nhà phụ giúp gia đình làm ruộng và sau đó học nghề cắt tóc. Cuộc sống mộc mạc, cần lao đã hun đúc đức tính nhẫn nại, khiêm cung và bền bỉ – những phẩm chất quý giá âm thầm nâng đỡ con đường tu tập của Ngài về sau.

II.    NHÂN DUYÊN XUẤT TRẦN VÀ ĐƯỢC ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG THỌ KÝ

1.     Nhân duyên xuất trần

Nhân duyên xuất trần của Ngài ảnh hưởng túc duyên từ người em gái út sớm xả tục xuất gia năm 16 tuổi (pháp danh Đàn Liên). Đời sống Phạm hạnh, thanh thoát của vị Khất sĩ Ni đã cảm hóa sâu sắc nhận thức của bà con xóm giềng, đặc biệt là trong dòng tộc. Hạt giống Bồ-đề cũng từ đó âm thầm đơm chồi trong tâm Hòa thượng.

Dù vậy, nhân duyên thù thắng thực sự khai mở tuệ nhãn, chuyển hóa cuộc đời Ngài là vào một lần đi ngang qua Linh Phước Tự. Chứng kiến thiện tín vân tập đông đảo, Ngài bước vào và lần đầu tiên được thính pháp, đảnh lễ Đức Tổ sư Minh Đăng Quang. Hình ảnh vị Sa-môn Khất sĩ oai nghi đĩnh đạc, phong thái thoát tục, thong dong vô ngại đã chấn động mạnh mẽ và thức tỉnh tâm thức Ngài.

Chỉ một lần hội ngộ, thiện căn nhiều đời được điểm hóa, thấu tỏ nẻo đạo. Từ ấy, Ngài lặng lẽ nuôi chí xuất trần. Khắc ghi lời dạy dung dị mà diệu huyền của Đức Tổ sư: “Ai tu nấy đắc”, Ngài miên mật vun bồi nội lực, rèn luyện chí nguyện kiên cố, tĩnh tâm đợi nhân duyên chín muồi mới thong thả bước lên đường giải thoát. Khi chí nguyện đã quyết, Ngài đê đầu đảnh lễ song thân ba lạy, thâm tạ ân sinh thành dưỡng dục, buông xả duyên trần cùng nghề cắt tóc, từ giã cõi tục, cất bước tầm đạo.

2.     Thọ ký của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang

Khi vừa rời nhà, nghe tin Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đang hoằng hóa tại Tịnh xá Ngọc Quang (Sa Đéc), Ngài tìm đến đảnh lễ và xin lưu lại tịnh xá làm công quả. Những ngày tháng dầm sương dãi nắng lao tác công quả, phước duyên lớn Ngài được kề cận Đức Tổ sư: Ngài xắn đất dưới ao đưa lên, Sư Tổ tự tay bê đất đắp nền, kiến tạo Tịnh xá Ngọc Quang với mây tre lá đơn sơ. Công việc dẫu nhọc nhằn, nhưng lại là suối nguồn hỷ lạc vô biên, trở thành ký ức thiêng liêng theo Ngài suốt cuộc đời.

Chính nhân duyên thù thắng ấy, dẫu còn hình tướng cư sĩ, Ngài đã được Đức Tổ sư Minh Đăng Quang thọ ký pháp danh Giác Tường. Đây là sự ấn chứng lặng thầm, sâu sắc từ vị Tổ sư dành cho đệ tử - một bậc pháp khí tương lai, chính thức mở ra con đường du hóa vô trụ, vô cầu và vô nhiễm.

III.  XUẤT GIA TU HỌC, THỌ GIỚI VÀ LAN TỎA CHỦNG TÁNH BỒ ĐỀ

  1. Thế phát xuất gia

Vào ngày Rằm tháng 3 năm Giáp Ngọ (1954), tâm Bồ Đề chính thức đơm hoa. Ngài được Bà thí chủ đưa đến Tịnh xá Ngọc Quang (Sa Đéc) đảnh lễ Đức Trưởng lão Tri sự Giác Như (Đức Tri sự Trưởng đầu tiên của Phật giáo Khất sĩ) dâng lời thỉnh cầu xuất gia. Sau khi nghiêm cẩn khảo hạch duyên khởi phát tâm cùng các điều kiện cơ bản của người xuất gia, Đức Trưởng lão Tri sự từ bi hứa khả, hoan hỷ thu nhận và cử hành thế phát.

Đến 3 giờ chiều cùng ngày, Đức Trưởng lão Tri sự đưa Ngài về Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long) thỉnh cầu Giáo hội chứng minh và chính thức thẩm nhận pháp danh Giác Tường. Khi ấy, Ngài tròn 24 tuổi.

2.     Đăng đàn thọ Sa-di và Cụ túc giới

Qua nửa tháng tinh tấn công quả và miên mật tịnh tu, nhân duyên tròn đủ, ngày 30 tháng 3 ÂL năm Giáp Ngọ (1954), tại đạo tràng Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long), Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ giới Sa-di. Từ đó, Ngài theo hầu cận Thầy Bổn sư cùng quý Tôn đức vân du hóa độ khắp mọi miền tịnh xá.

Trải qua bốn năm thúc liễm thân tâm, trau dồi oai nghi tế hạnh và trọn lễ hầu Thầy, làm tròn bổn phận một vị Tập sự Tỳ kheo. Vào mùa Vu Lan thắng hội năm Mậu Tuất (ngày Rằm tháng 7 năm 1958), tại Tịnh xá Liên Trung (Cần Thơ), Ngài phát đại nguyện thọ Cụ túc giới. Được Thầy Bổn sư từ bi đồng thuận và đại chúng Tỳ-kheo thanh tịnh tác pháp chứng minh, Ngài trang nghiêm đăng đàn thọ giới Tỳ-kheo, chính thức dự vào hàng Tăng bảo, trở thành một bậc Sa-môn Khất sĩ, nối tiếp mạng mạch Tổ Thầy, truyền trì Chánh pháp Như Lai.

3.     Phúc khí gia phong – Lan tỏa chủng tánh Bồ-đề

Một điểm son sáng ngời trong cuộc đời hành đạo của Hòa thượng chính là sự lan tỏa chủng tánh Bồ-đề thâm sâu đến gia quyến. Nối tiếp gót chân của người em gái út (Sư cô Đàn Liên) và của Hòa thượng, dòng tộc của Ngài đã tươi nhuận hoa đạo khi có thêm nhiều vị xả tục xuất gia, học đạo giải thoát. Trong đó, đặc biệt có thân mẫu của Ngài (Sư bà Minh Liên), cùng chư vị Tôn túc Ni: Sư cô Cẩn Liên, Sư cô Thiện Liên, Sư cô Mỹ Liên, Sư cô Tâm Phương và Hòa thượng Giác Nghiêm. Đây quả thật là phước báu vô lượng, phúc khí gia phong, đồng thời là minh chứng sinh động cho năng lực cảm hóa từ bi trí tuệ của những bậc chơn tu giải thoát.

IV.  ĐẠO NGHIỆP VÀ GÁNH VÁC PHẬT SỰ

1.     Dấu chân hoằng pháp và chí nguyện dấn thân

Sau khi lãnh thọ giới pháp Tỳ-kheo, Ngài cùng quý Tôn đức trong đoàn Du Tăng Khất sĩ cất bước vân du, hành đạo khắp các tỉnh thành Nam Trung nước Việt. Từ các đạo tràng tịnh xá: Ngọc Viên (Vĩnh Long), Ngọc Minh (Cần Thơ), Ngọc Quang (Sa Đéc), Ngọc Đông (Tân Hòa Đông), Ngọc Tường (Mỹ Tho), Ngọc Chánh (Gia Định), Trung Tâm (Gia Định) đến các tỉnh thành Khánh Hòa, Phú Yên, Huế... đâu đâu cũng in đậm dấu chân hoằng pháp độ sanh của Ngài.

Với chất giọng hùng hồn, rành rẽ, đậm nét hào sảng của người Nam bộ, Ngài là một trong những vị Pháp sư thuyết giảng kinh pháp nổi danh trong Đoàn Du Tăng Khất sĩ thời bấy giờ. Mang chí nguyện đại thừa, Ngài luôn vô úy dấn thân, không nề hà gian khó, nhọc nhằn, nguyện đem ánh sáng Chánh pháp rọi soi đến mọi nẻo đường.

2.     Đặt nền móng kiến tạo và phát triển Phật giáo Khất sĩ

Sau một thời gian lui về vùng biển Vũng Tàu tịnh tu, năm 1960, vâng lời Bổn sư chỉ dạy, Ngài cùng với Hòa thượng Thích Giác Nhu đồng tâm hiệp lực hỗ trợ Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên hoằng dương chánh pháp, mở mang mối đạo.

Đặc biệt, vào năm 1964, trước những biến chuyển của thời cuộc, Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên vận động Ngài cùng Hòa thượng Thích Giác Nhu đệ đơn xin sáng lập Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam. Khi pháp lý thành lập Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam được thông qua (năm 1966), Ngài cùng Hòa thượng Thích Giác Nhu thỉnh cầu Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên nhận lãnh trách nhiệm Tổng Trị sự trưởng, Ngài gánh vác trọng trách Phó Tổng Trị sự trưởng của Giáo hội. Đây là giai đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt. Bằng tâm nguyện hy hiến cho đạo pháp, Ngài đã dốc trọn tâm huyết vào các Phật sự quan trọng, góp công đức vô lượng trong việc kiến tạo, củng cố, và đặt nền móng vững chắc cho sự hưng thịnh, phát triển của Phật giáo Khất sĩ.

3.     Trụ cột giữ gìn đạo mạch và hội nhập phát triển

Mấy độ thăng trầm, biến thiên của thời cuộc càng hun đúc tâm đại hùng, đại lực và đại bi của Hòa thượng. Sau năm 1978, khi Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên du phương hoằng hóa tại hải ngoại, Ngài an nhiên lưu lại quê nhà, thường trụ tại Tịnh xá Trung Tâm (Bình Thạnh) và trở thành cội tùng bách vững chắc làm điểm tựa tinh thần cho đại chúng.

Ngài kề vai sát cánh cùng Hòa thượng Thích Giác Nhu làm tròn sứ mệnh nòng cốt, dốc lòng hỗ trợ quý chư Tôn túc: Hòa thượng Thích Giác Phúc, Hòa thượng Thích Giác Ngộ, Hòa thượng Thích Giác Toàn... chung tay lèo lái, ổn định Giáo đoàn và Hệ phái Phật giáo Khất sĩ, giúp Phật giáo Khất sĩ từng bước vượt qua khúc quanh thời đại, hội nhập và phát triển trong giai đoạn lịch sử mới của đất nước.

4.     Dấu ấn đạo tình thiêng liêng

Trong suốt cuộc đời tu học và hành đạo, Ngài cùng với Hòa thượng Thích Giác Nhu đã dệt nên một thiên đạo tình tri kỷ vô cùng cao đẹp, hiếm có chốn thiền môn. Hai vị Tôn túc thường xuyên song hành trong mọi Phật sự: một vị ngự tòa Chứng minh, một vị đăng đàn Thuyết pháp.

Điểm sáng ngời thiêng liêng nhất trong đạo nghiệp của Ngài chính là tâm lượng xả ly, vô trụ. Khi đại cuộc đã tròn, nhân duyên sứ mệnh thiêng liêng của đạo pháp, Hòa thượng Thích Giác Nhu đảm nhận cương vị lãnh đạo tinh thần: Trưởng Phái đoàn Phật giáo Khất sĩ tham dự Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam, lần lượt đảm nhận các chức vụ Phó Chủ tịch HĐTS, Phó Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Riêng Ngài, vẫn thong dong, thanh thoát ẩn mật, giữ trọn nét đẹp bình dị, thanh bần và tiêu diêu thoát tục như thuở nào. Sự gắn bó khắng khít, đồng tâm đồng nguyện trong mọi Phật sự của hai bậc long tượng được giữ gìn trọn vẹn, sắt son cho đến tận ngày Hòa thượng Thích Giác Nhu thâu thần thị tịch (1997) - trở thành dấu ấn đạo tình thiêng liêng vị tằng hữu.

 

 

5.     Tuệ giác sáng ngời và di sản tâm linh

Dù trình độ thế học thuở thiếu thời chỉ dừng ở lớp ba trường làng, nhưng nhờ công phu thiền định miên mật, tuệ giác bừng sáng, Ngài đã để lại một di sản tinh thần sâu sắc trong lòng môn đồ tứ chúng Khất sĩ. Năm 1965 (Ất Tỵ), đáp lời thỉnh cầu của hàng thiện nam tín nữ hữu duyên, Ngài cho ra đời tập Hồi ký “Dưới Mái Nhà Xưa”.

Tác phẩm không chỉ là bức tranh mộc mạc phác họa nếp sinh hoạt làng quê miền Nam trong những ngày khói lửa, ghi dấu truyền thống gia đình và đời sống tu học của Ngài, mà còn khéo léo chuyển tải lý Vô thường và Nhân quả để cảnh tỉnh nhân sinh. Sự uyên áo dung dị của tác phẩm đã được Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên tán thán qua bài thơ họa, đậm chất thiền vị:

                                      DƯỚI ánh Từ Quang bủa khắp Trời,

                                      MÁI tranh ghi lại cảnh đầy vơi!

                                      NHÀ vườn xơ xác vì bom đạn,

                                        XƯA diễn, nay ôn, đã cạn lời

                                        GIÁC ngộ tìm đường tu giải thoát,

                                        TƯỜNG hành Chánh đạo độ cùng nơi

                                        HỒI chuông cảnh tỉnh người mơ mộng,

                                        KÝ niệm truyền lưu để vạn đời…

  (Pháp sư Giác Nhiên đề tặng – 1965)

V.   ĐẠO HẠNH VÀ TẤM GƯƠNG CHO HẬU BỐI

1.     Hạnh nguyện vô trụ

Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng là bài pháp vô ngôn về hạnh xả ly và thoát tục. Ngài lấy vô trụ làm tôn chỉ hành đạo, lấy vũ trụ làm thiền môn, lấy nhân sanh làm quyến thuộc, lấy từ bi và bình đẳng làm cứu cánh.

Suốt 97 năm trụ cõi Ta bà, 67 năm Hạ lạp, hoằng hóa độ sanh, Ngài luôn tĩnh tại an nhiên, không vướng bận lợi danh hay quyền vị, kể cả chức vụ Trụ trì. Ngài một lòng kiên trung, nhiệt huyết với đường lối của Tổ thầy, thủy chung với hạnh Khất sĩ thanh bần đơn giản. Không ngại nắng mưa, chẳng quản phong trần, Ngài thong dong bước đi trên con đường vô nhiễm, giải thoát. Cuộc đời Ngài là minh chứng sinh động và chân thực nhất cho vẻ đẹp thanh tao của một bậc Sa-môn Khất sĩ:

Đạo hạnh lặng thầm như mạch suối,

 Không lời mà thấm khắp non sông.

 Một đời Khất sĩ – Tâm thanh bạch,

GIÁC TƯỜNG chiếu diệu tỏ sắc không.

2.     Thạch trụ tòng lâm

Trên cương vị là Ủy viên Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Chứng minh Đạo sư Phật giáo Khất sĩ, Trưởng lão Hòa thượng thực sự là bóng đại thụ tòng lâm rợp mát, chở che cho đàn hậu học. Ngài đảm nhận Hòa thượng Đàn đầu của các Phân đàn Truyền giới của Giáo hội và Giới đàn Phương trượng của Phật giáo Khất sĩ.

Ngài là tấm gương sáng ngời về đạo tâm kiên định, lòng từ ái và sự tận tụy tuyệt đối với chí nguyện "Nối truyền Thích Ca Chánh pháp". Trọn một đời nghiêm tịnh, hành đạo khiêm cung, Ngài không dùng ngôn từ hoa mỹ mà lấy chính "thân giáo" làm bài pháp sống động, sâu sắc nhất về sự thực chứng pháp hành; xứng đáng là bậc mô phạm, thạch trụ tòng lâm cho tứ chúng nương tựa.

3.     Đạo hạnh thanh bần, vô ngã

         Dấu ấn thiêng liêng và sâu đậm nhất mà Ngài để lại trong tâm thức của chư Tăng Ni cùng hàng Phật tử chính là cốt cách rất đỗi bình dị, thanh bần và đức tính nhẫn nại, chịu thương chịu khó. Dẫu ngự ở ngôi vị Tôn túc lãnh đạo cao trong Giáo hội và Phật giáo Khất sĩ, Ngài vẫn giữ trọn nếp hạnh thiểu dục tri túc của một bậc Sa-môn Khất sĩ: liêu thất cũng như vật dụng sinh hoạt hằng ngày của Ngài vẫn giữ trọn nét đơn sơ, tối giản như thuở sơ tâm mới bước vào cửa đạo. Khi còn tự lo liệu được, dù tuổi hạc đã cao, Ngài tuyệt nhiên không muốn vướng bận hay nhọc lòng chư Tăng hầu cận mà luôn lặng lẽ tự mình chu toàn mọi sinh hoạt cá nhân.

Ngài luôn dấn thân vô ngã, chưa từng nề hà bất kỳ Phật sự nào. Chỉ cần hội đủ duyên lành và thời gian cho phép, Ngài đều hoan hỷ đáp lời thỉnh cầu của các đạo tràng, tịnh xá và cư gia bá tánh, quang lâm chứng minh và ban bố pháp nhũ, tưới tẩm hạt giống Bồ-đề cho Tăng Ni cùng Phật tử xa gần. Đặc biệt, đối với những đạo tràng tịnh xá kiến tạo hay trùng tu, Ngài đều chắt chiu từng chút phước tài, hoan hỷ sẻ chia và chung vai gánh vác Phật sự chung, tuyệt nhiên không một niệm phân biệt thân sơ nhân ngã.

VI.  THỜI KỲ TỊNH DƯỠNG VÀ VIÊN TỊCH

Từ năm 2020, dẫu sắc thân tứ đại dần hiện tướng suy hao theo định luật vô thường, nhưng tinh thần của Trưởng lão Hòa thượng vẫn luôn sáng suốt và khinh an. Thấu triệt lẽ huyễn mộng của kiếp nhân sinh, Ngài lùi dần các công tác Phật sự, an trú tịnh dưỡng tại Tịnh xá Trung Tâm (Bình Thạnh). Tùy thuận theo huyễn thân khiếm an, Ngài vắng dần các kỳ hội nghị của Hội đồng Chứng minh hay các sự kiện trọng đại của Hệ phái. An nhiên tự tại trước lẽ sanh diệt, Ngài rất hiếm khi thăm khám y tế hay nằm viện, giữ trọn cốt cách thiểu dục tri túc của bậc chơn tu.

Đến năm 2025, khi niên cao lạp trưởng, bóng hạc nghiêng tây, đáp lời thành tâm kiền thỉnh của chư Tôn đức lãnh đạo Giáo đoàn, Ngài hoan hỷ dời về Pháp viện Minh Đăng Quang tịnh dưỡng, tạo duyên lành cho môn đồ tứ chúng tiện bề chăm sóc, dâng niềm hiếu kính phụng dưỡng.

Thời gian trôi qua, thân tứ đại ngày một suy hao, tựa như ngọn đèn leo lét trước gió, lá vàng héo úa, nhựa sống cạn dần, cây khô củi mục, nhưng Ngài vẫn luôn sáng suốt chánh niệm, an nhiên đón nhận sự suy mòn tứ đại. Mấy phen các bác sĩ tận tâm tới nơi thăm khám, trị liệu thuốc thang, sức khỏe Ngài cải thiện ít nhiều, nhưng cũng không thể cản ngăn được quy luật vô thường của tạo hóa.

Đầu năm 2026, bước qua tuổi 97, bệnh già càng lúc càng suy kiệt, chư Tăng thỉnh Ngài nhập viện. Ngài hoan hỷ nhận lời và đây là lần nhập viện hiếm hoi trong đời của Hòa thượng, chín ngày sau Ngài bình phục.

Vài tháng sau, Ngài lại nhập viện lần thứ hai, được bác sĩ nhiệt tâm chữa trị và chư Tăng chăm sóc, mười ngày sau sức khỏe bình phục, Ngài ra viện.

Đến ngày 30 tháng 4 năm 2026, bệnh già của Hòa thượng trở nặng, chư Tăng thỉnh Ngài nhập viện lần thứ ba, mặc dù các Y Bác sĩ tận tâm điều trị, môn đồ hết lòng lo toan, nhưng sức khỏe của Hòa thượng dần lụi tàn theo giờ khắc. Đến 19:00 giờ ngày 04 tháng 5 năm 2026, sau khi hội ý của bệnh viện cùng chư Tôn đức lãnh đạo, môn đồ làm thủ tục xuất viện, đón Ngài về Pháp viện Minh Đăng Quang.

Hóa duyên đã mãn, Phật sự một đời đã tròn xong, dầu cạn lửa tắt, Ngài an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 20 giờ 25 phút, ngày 18 tháng 3 năm Bính Ngọ (nhằm ngày 04 tháng 5 năm 2026). Trụ thế: 97 năm - Hạ lạp: 67 năm.

Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường là bậc tòng lâm thạch trụ, một trong những vị long tượng hiếm hoi còn hiện tiền của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt, đối với môn đồ tứ chúng Khất sĩ, sự hiện diện của Hòa thượng là nhân chứng “Vị Tằng Hữu”, có phước duyên diện kiến, hầu cận Tổ sư Minh Đăng Quang, được Tổ sư thọ ký pháp danh Giác Tường khi còn hình tướng người cư sĩ. 

Sự viên tịch của Ngài đã để lại niềm kính tiếc khôn nguôi, là sự mất mát không gì bù đắp được đối với môn đồ tứ chúng Phật giáo Khất sĩ. Dẫu huyễn thân của Ngài trả về tứ đại, nhưng công đức sâu dày, đạo hạnh thanh cao cùng nụ cười từ ái, bình dị của bậc chân tu tịnh hạnh vẫn mãi là ngọn đèn thiền bất diệt, lung linh tỏa sáng và sống mãi trong tâm thức Tăng Ni, tín đồ Phật giáo Khất sĩ và Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

 

Nam mô Giác linh Trưởng lão Hòa thượng THÍCH GIÁC TƯỜNG thùy từ chứng giám.

Ban Thư ký Phật giáo Khất sĩ, Ban Trị sự Giáo đoàn IV và môn đồ pháp quyến
thành kính cung soạn.