CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tìm hiểu về Chơn lý Thờ Phượng

I. Phần giới thiệu

Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, những lời dạy của Ngài được các Thánh đệ tử tiếp tục truyền bá khắp nơi, đem lại nhiều lợi ích và an lạc cho chư thiên và loài người, trong đó có những người con đất Việt.

Theo sự nghiên cứu của GS. Lê Mạnh Thát trong tác phẩm Lịch sử Phật giáo Việt Nam,[1] Phật giáo có thể du nhập vào nước ta vào thế kỷ thứ 2 - 3 trước Tây lịch. Phật giáo đến Việt Nam và phát triển theo thăng trầm của đất nước, có lúc rất cực thịnh như vào thời Lý, Trần nhưng cũng có lúc suy vi như vào những thập niên cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Trong thời gian này, có nhiều vị Tôn đức và các nhà nghiên cứu Phật học đã dấn thân vào con đường phục hưng Phật giáo, trong đó có Tổ sư Minh Đăng Quang.

Trong thời gian 10 năm (1944-1954), từ khi bắt đầu hành đạo đến khi vắng bóng, Tổ sư đã để lại cho thế hệ sau bộ Chơn Lý với 60 bài vô cùng giá trị.

Thượng tọa GIÁC NHUẬN, Tri sự phó GĐ VI, trụ trì TX. Ngọc Chơn

II. Nội dung

1. Duyên khởi của việc thờ phượng

Khi Đức Phật còn sanh tiền chưa có việc thờ phượng Ngài cũng như chư Thánh đệ tử. Chỉ có chăng là việc tưởng nhớ đến công hạnh, đức độ của các Ngài để các các hành giả cũng như hàng cư sĩ thực hành theo. Trong Chơn Lý “Thờ Phượng”, Tổ sư cũng khẳng định điều này: “Khi xưa ở xứ Ấn Độ, thuở Phật sanh tiền, Phật và Tăng là bậc Giải thoát tu chơn nên không có thờ phượng[2].

Việc thờ phượng được manh nha từ khi Đức Phật Niết-bàn ở Kusinàrà, vì để cho mọi người tưởng nhớ công đức và cũng để tránh việc tranh giành tro cốt (xá-lợi) của Đức Phật nên sau khi trà tỳ, xá-lợi của Ngài được Bà-la-môn Dona, người đại diện hội chúng chia ra làm 8 phần. Điều này được đề cập trong Kinh Trường Bộ, bài kinh Đại Bát Niết-bàn:

– Này Tôn giả Bà-la-môn, ngài hãy phân chia xá lợi ra tám phần đồng đều.

– Xin vâng, các Tôn giả!

Bà-la-môn Dona vâng lời hội chúng ấy, phân chia xá-lợi Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng:

– Các Tôn giả hãy cho tôi cái bình dùng để phân chia xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.

Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Dona cái bình.[3]

Rồi đến thời Vua A Dục (Asoka), một vị vua rất tôn sùng Tam Bảo, đã cho xây rất nhiều tháp để tưởng nhớ đến ân đức của Phật và chư Thánh đệ tử. Trong Chơn Lý “Thờ phượng”,[4] Đức Tổ sư cũng có đề cập đến vấn đề này.

2. Mục đích của việc thờ phượng

2.1. Thờ phượng vì kính trọng

Việc thờ phượng của người xuất gia nói chung là để tưởng nhớ đến ân đức sâu dày của chư Phật, chư Thánh đệ tử của Phật, cũng như các vị tiền bối có công với đạo pháp, dân tộc. Còn đối với hàng cư sĩ Phật tử, họ thờ phượng có thể vì tin sâu Phật Pháp, cũng có thể thờ phượng vì tín ngưỡng. Lại có người thờ phượng vì phong trào, thấy ai cũng thờ thì mình cũng thờ nhưng không biết ý nghĩa thật sự của việc thờ cúng.

Còn theo quan điểm của Đức Tổ sư, việc thờ phượng phải được kính trọng tuyệt đối: Lại còn đối với sự tinh tấn là các Ngài chẳng bao giờ dám ngó ngay mặt Phật, chẳng dám ngồi ngang, ngồi gần, hoặc đi trước mặt thoáng bóng, cho đến chỗ ở ngủ của các Ngài thảy cách xa nơi Phật ngự, nhứt là nơi thờ phượng. Những lúc sau Phật tịch, các Ngài thờ phượng xây lập đền tháp nền cao, chỗ tịnh; ngoài cuộc nhóm họp làm lễ, sám hối, khi có việc, hoặc quét dọn, chẳng bao giờ ai dám léo hánh tới gần. Chỗ ăn ngủ phải cách xa nền đất, riêng hẳn mái hiên, tiếng nói chẳng cho nghe lọt bay vào nơi ngôi cốt Phật, giữ y như lúc Phật thuở sanh tiền”[5]. Qua lời dạy của Đức Tổ sư, chúng ta thấy rằng, việc thờ phượng cần có sự hiểu biết và kính trọng một cách đúng đắn. Cũng qua lời dạy này, chúng ra biết được nơi thờ phượng và nơi ở của Tăng chúng cần có một sự tách biệt rõ ràng. Vì có sự tách biệt mới có sự kính trọng tuyệt đối, còn chúng ta ở gần gũi lâu ngày có thể sự kính trọng và niềm tin bị suy giảm.

Vì sao người xuất gia cần phải kính trọng Phật Pháp? Vấn đề này được Tổ sư dạy trong Chơn Lý “Thờ Phượng” với đại ý rằng kỉnh Phật là để kỉnh tâm, mà tâm sẽ biết quý trọng pháp, biết quý trọng pháp thì chúng ta cố gắng tu hành để giải quyết vấn đề sanh tử. Còn không biết kỉnh Phật, trọng Pháp chúng ta sẽ giải đãi, bị vật chất thao túng, gần gũi pháp bất thiện, xa rời pháp thiện, trái với tinh thần tầm cầu Phật đạo ban đầu mà chư Phật, chư Tổ đã dạy.

Vấn đề này cũng được Đức Phật nhắc trong Kinh Trung Bộ, tập 1, bài Kinh Thừa Tự Pháp. Đức Phật đánh giá rất cao những người tu tập theo hạnh viễn ly, không tích chứa tài sản, vật chất  qua câu nói: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật.[6] Tuy đây là một câu nói có vẻ rất đơn giản nhưng lại hàm chứa một triết lý rất sâu sắc. Vì khi là một Sa-môn, một người tu thì hãy lấy tinh thần giáo lý làm đầu, lấy tinh thần tu tập làm đầu, không nên chú trọng nhiều vào các thế lợi để ảnh hưởng đến con đường tu tập. Đức Phật đã thấy rõ được nguy hiểm của những tham dục thế gian mới từ bỏ tất cả để tìm pháp giác ngộ giải thoát và Ngài khuyên các hàng đệ tử cũng cảnh giác với các vấn đề trên để con đường tu tập được tốt đẹp.

Ngày xưa, hàng đệ tử Phật rất kính Phật nhưng không dám gần gũi  vì sợ phát sanh ra sự dễ duôi với Phật, với lời chỉ dạy của Ngài. Họ chỉ cầu pháp với Phật, được Phật chỉ dẫn rồi cố gắng thực hành để chứng được đạo quả. Ngày nay chúng ta có điều kiện học hành rất tốt, kiến thức rất rộng nhưng thành công ở pháp hành rất ít. Vì vậy mà Tổ sư có dạy: “Mặc dầu ít nghe ít học, mà mùi vị đạo lý giúp cho các Ngài được no vui sống mãi đời đời, khác xa hẳn với ông A-nan theo chi gần Phật, thông minh mà không đắc quả. Đúng lý như vậy, kẻ chưa tu thì còn dám làm vi trùng sâu rận ở trong mình Phật, chớ người có tu lâu là sẽ càng xa Phật lần lần, nên đến một ngày kia, ở nơi những thế giới xa, có ra đời những Đức Phật khác được.”[7]

Tóm lại, thờ phượng nói chung, thờ Phật, hay bất cứ vị Bồ-tát nào nói riêng, chúng ta phải có sự kính trọng về công hạnh, thực hành theo các lời dạy các ngài để đem lại lợi ích cho mình, cho người, đó mới là sự kính trọng thật sự. Còn như chúng ta chỉ thờ phượng cho có lệ, học hành kiến thức rất đa văn nhưng chỉ sử dụng kiến thức đó làm lợi ích cá nhân, không phụng sự chúng sanh thì chúng ta chưa thật sự kỉnh Phật và trọng pháp.

2.2. Thờ Phật như một vị thần linh

Đối với hàng cư sĩ Phật tử có điều kiện đến chùa, tịnh xá hay các tự viện thường xuyên, được nghe thuyết giảng và thực hành theo theo những lời chỉ dạy của chư Tôn đức Tăng Ni thì việc thờ phượng của họ tương đối đúng theo tinh thần kỉnh Phật, trọng pháp. Còn lại, phần nhiều Phật tử hay những người theo đạo ông bà, thì cách thờ phượng của họ chỉ theo hình thức tín ngưỡng. Họ đến chùa cũng rất cung kính, cũng lễ Phật, cũng nghe pháp nhưng không thực hành pháp. Họ chỉ xem Phật, Bồ-tát như các vị thần linh với hình thức cầu xin và ban phát. Nếu cầu xin mà được như ý nguyện thì họ càng càng tôn kính hơn và ngược lại. Vì vậy mà Tổ có dạy: “Có người lại tưởng chừng như cốt tượng ấy là vị thần tài, thổ địa, giúp sự nên hay nơi gia đình người. Ấy bởi do nơi sự dể duôi nhàm chán mỗi ngày, mà gây sanh ác tội không hay. Ai ai tâm trạng chúng sanh là thảy giống nhau: Ăn cơm mãi một món thì đâu còn biết ngon? Nói hoài một lời, làm cố một việc thì đâu còn vui thích? Sao bằng là ít nói, ít làm, ít ăn, hay lâu lâu mới ăn, làm, nói một lần, mới gọi là quý hay tốt đẹp.”[8]

Qua đoạn trích trên, Tổ sư muốn nhắc nhở hàng cư sĩ tại gia nếu muốn thờ phượng thì mình phải kính trọng vị Phật, hay vị Bồ-tát mình thờ. Vì mình có kính trọng mới học được các hạnh nguyện lành của các Ngài, rồi thực hành sẽ giúp cho đời sống đạo đức của mình được thăng hoa. Còn mình thờ các Ngài mà xem đó như là một vị thần linh để ban phước, hay giáng họa, điều này không đúng với chân lý, không đúng với tinh thần nhân quả nghiệp báo của đạo Phật.

Trong bài Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt[9] thuộc Kinh Trung Bộ, tập 3, có đề cập vấn đề này khi Phật ở Savatthi, thanh niên tên Subha Todeyyaputta hỏi Đức Phật tại sao giữa loài người với nhau mà có người liệt người ưu, người đoản thọ, người trường thọ, người nhiều bệnh, người ít bệnh, người có quyền lực, người không quyền lực…?

Phật dạy rằng: “ Này thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt có ưu[10]. Qua lời dạy trên của Phật cho ta thấy rõ hai vấn đề:

Một là, con người chính là chủ nhân của nghiệp. Ở đây, Phật muốn nói con người phải tự làm chủ trong các hành động tạo tác của chính mình. Tức là tự mình quyết định những vấn đề tương lai của mình, chớ không một ai quyết định được tương lai và số phận cho mình. Nếu mình không muốn có một kết cục không được như ý ở tương lai thì chính bản thân mình phải nhận thức và hành động theo lý trí, theo những điều đạo đức thiện lành.

Hai là, mình phải có trách nhiệm và thừa tự những gì mình tạo ra, nếu mình tạo ra nhân tốt, sẽ hưởng được những quả lành và ngược lại. Trách nhiệm về hành động của mình không những liên quan hiện tại mà nó còn ảnh hưởng đến tương lai.

Vì vậy nếu chúng ta thờ Phật, các vị Bồ-tát hay các vị Thánh Tăng trong gia đình bằng lòng sự kính trọng, bài trí nơi trang nghiêm, rồi học hỏi theo gương lành các Ngài là một điều tốt. Ngược lại, chúng ta thờ các Ngài như là các vị thần linh để ban phước, mang tài lộc về cho gia chủ thì đó là việc không nên và cũng trái với tinh thần của người học Phật. Điều này được Tổ sư nhắc nhở như sau: “Đã vậy nào thôi, sự muốn rước thỉnh Phật vào mãi nơi nhà, hay cùng sự thờ phượng cốt tượng Phật trong nhà, ngoài sự vị kỷ sái luật tai hại cho mình ấy, còn thêm phải mắc tội tâm với chúng sanh, với đạo Phật. Vì sự cầm chưn Phật, nhốt phạt tượng cốt Phật là có tội với chúng sanh chung. Đem Phật Thánh vào chôn sâu trong giữa nơi uế trược quấy ác phiền não xấu xa là tổn hại cho tinh thần và giáo lý đạo Phật. Ngoại giáo sẽ chê cười rằng Phật Thánh ở nơi cấu trược. Trẻ nhỏ về sau sẽ tưởng lầm Phật Thánh cũng ở trong nhà người thế”[11].

Tóm lại, người đệ tử Phật, khi thờ Phật, Bồ-tát,… cần hiểu rõ được ý nghĩa của thờ phượng, không coi các Ngài là một vị thần linh ban phước hay giáng họa, các Ngài chỉ là bậc Đạo Sư, là người chỉ đường sáng cho chúng sanh. Còn việc có đi và đi đến đích hay không là sự nỗ lực tinh tấn của mỗi con người.

3. Thờ phượng như là một pháp trợ tu

3.1. Đối với người xuất gia

Đối với Tổ sư, việc thờ phượng không phải là pháp cứu cánh, mà đó chỉ là một phương tiện, là một pháp trợ tu cho những người mới vào cửa đạo. Điều cốt lõi mà Đức Tổ sư dạy là mỗi người xuất gia chúng ta phải tu đúng theo những gì chư Phật, chư Tổ đã dạy, đem lại lợi ích cho mình và cho người. Vấn đề này được Tổ nhắc nhở như sau:

Vả lại, Phật bảo người ta tu y theo con đường của Phật, chớ Phật nào có bảo ai thờ phượng Ngài, độc tôn ích kỷ cho Ngài. Ngài muốn cho tất cả chúng sanh đều bình đẳng giác ngộ như Ngài cả cơ mà! Thế sao chúng ta lại đi thờ cúng lễ bái mãi làm chi như kìa để cho trẻ nhỏ hiểu lầm sanh ác tội. Sự thật đã có, phải chăng như thế? Vậy thì chúng ta nên hiểu rằng, thờ phượng là một phương pháp tạm trong lúc đầu cho kẻ ác quấy tội lỗi yếu tâm non dạ. Sự thờ phượng tạm ấy là để an ủi khuyến khích kềm giữ đức tin, nhắc nhở cho kẻ mới sơ cơ, như nhỏ dại một lúc đầu thôi, rồi về sau là phải tự giác ngộ, tự lo tu để mà làm Phật, y như Phật, chớ phải đâu vĩnh kiếp làm tôi đòi cho cốt tượng, cùng sự lập công kể ơn với tượng cốt, đặng mưu sự toại danh hưởng lợi cho thêm khổ nạn. Thế mới biết rằng: Sự thờ phượng không phải thật, thờ phượng là pháp trợ tu cho kẻ nhỏ, chớ đó chẳng phải là cách tu đâu, thì chúng ta đi nhọc lòng bào chữa làm chi?”[12]

Ngày nay, chúng ta thường mượn phương tiện thờ phượng để tạo điều kiện cho hàng cư sĩ có điều kiện đến các tự viện, tịnh xá tu học hoặc cùng hàng xuất gia làm các thiện sự dần dần hướng họ đi trên con đường cứu cánh. Nhưng cũng có trường hợp, chúng ta sử dụng phương tiện quá nhiều, lâu ngày lầm tưởng phương tiện là cứu cánh, nên càng đi càng xa với mục đích ban đầu. Cái chúng ta có được chỉ là phước hữu lậu. Phước hữu lậu chỉ giúp chúng ta chỉ sanh được trên thiên giới, còn cái người tu cần là thoát khỏi sinh tử luân hồi, là phước vô lậu. Điều này được Tổ nhắc nhở trong Chơn Lý “Thờ Phượng” như sau:

“Các Phật Tăng chơn chánh là sẽ thuyết pháp dạy đạo, lo tu làm gương chớ nào ỷ lại vào sự làm giả tạm ấy. Vì các sự bán rẻ đạo pháp xa xí hủy hoại ấy, cầu danh mưu lợi, tuy có được sự ích lợi mau lẹ rộng nhiều thật, nhưng mà chỉ giúp cho chúng sanh được ham vui trong chốc lát, rồi thì về sau phải đọa khổ muôn đời. Vậy nên các bậc trí huệ chẳng bao giờ nỡ lòng nào đi làm việc quá thiển cận, tai hại như thế. Do đó mà các Ngài chỉ ra rằng đạo Phật, chỗ đến của chúng sanh là tinh thần trong sạch vắng lặng cao quý. Những ai bày ra lắm sự hữu vi sắc tướng phá Phật, giết đạo, mê hoặc chúng sanh mãi, tội lỗi khổ báo ấy chẳng vừa đâu! Kẻ ấy dầu có được nhờ phước hữu lậu đó để sanh lên cõi trời kia đi nữa, thì họ cũng phải chịu khổ báo mãi, bởi những cố chấp nặng nề đọa lạc, khó trông gì giác ngộ vượt nghiệp, bước qua đến được Niết-bàn vô lậu an vui thiệt thọ của Phật.”[13]

Lời dạy của Tổ tuy ngắn gọn nhưng là điều mà chúng ta cần suy gẫm lại sự tu học của mình như thế nào trong quãng thời gian vừa qua. Tuy chúng ta là đệ tử của Tổ sư, học theo Chơn lý của Tổ nhưng có mấy ai hành theo được lời dạy của Ngài.

Tóm lại, việc thờ phượng, chư Phật, Bồ-tát,… của người xuất gia chỉ là phương tiện là một pháp trợ tu để giúp việc giữ gìn niềm tin lúc ban đầu. Cái quan trọng của người tu không phải là việc thờ phượng, mà ở sự tu tập theo đúng Chánh pháp của Phật, đúng theo lời dạy của Tổ sư.

3.2. Đối với hàng cư sĩ

Đối với hàng cư sĩ việc thờ phượng di ảnh, cốt tượng của chư Phật, Bồ-tát,… như là một phương tiện để những người lớn tuổi, hay những người không có điều kiện đến chùa gieo duyên lành với Tam Bảo qua sự tụng kinh niệm Phật hàng ngày. Nhưng nếu hàng cư gia thờ phượng, phải để di ảnh, cốt tượng ở vị trí trang nghiêm và thờ phượng bằng tinh thần kính trọng.

Còn đối với việc thờ phượng ông bà trong nhà, Tổ sư có dạy: “Còn thờ phượng ông bà cha mẹ của bậc cư gia cũng y như thế, thảy đều là sự có thấp có cao, có trước có sau. Khi xưa Đức Khổng Tử bày sự thờ phượng ông bà cha mẹ cho kẻ thế gian tại nhà là vì muốn dạy gương hiếu đạo cho con cháu về sau. Với lẽ ông bà chết rồi, mà cha mẹ còn thờ phượng nhớ ơn như lúc sống, thì con cháu đối với cha mẹ đang sống sẽ có hiếu thảo, chẳng dám vong ân, ấy là sự tốt nên cho nó và có ích lợi cho cha mẹ.”[14]

Cũng trong vấn đề này, Tổ sư dạy tiếp với đại ý như sau, chúng ta thờ cúng ông bà ch mẹ tại nhà tuy là tốt nhưng đó cũng là sự thi ân cầu báo vì sự phụng cúng ông bà của cha mẹ giống như cho vay rồi con cháu cũng trả lại. Tốt hơn hết là chúng ta đem hương linh của người đã khuất vào các tự viện, tịnh xá,… có nơi thờ cúng riêng (nhà Cửu Huyền) để cho Cửu huyền Thất tổ của mình được tu tập giải thoát. Nếu chúng thờ phượng hương linh trong nhà với mục đích là nhắc nhở con cháu về lòng hiếu thảo, những điều tốt đẹp của người đã khuất thì cũng được. Còn chúng ta để hương linh trong nhà rồi cầu mong sự vái van, gia hộ, thì hương linh phải chịu sự vướng bận của thế gian, không an tâm ra đi vì sự mến thương, lo lắng cho con cháu là điều không nên.

Tóm lại, “Sự thờ phượng là để dung hòa kẻ chết với người sống, là pháp tạm trau tâm, giồi trí, thân tập sống chung, chớ đâu phải tư riêng ta người, kiến họ.

Vì tất cả chúng sanh là chỉ có một họ Phật, tánh chơn, võ trụ mà ra, cũng như ông bà ta là ông bà của tất cả, chớ phải nào riêng thân tứ đại, chẳng pha trộn nhau mà có được. Do lẽ đó mà sự thờ phượng một người, đến thờ phượng một kiến họ, để đến với sự thờ phượng chung cả chúng sanh, nơi trong vuông chùa đạo Phật của chúng sanh chung là rất đúng lý”[15].

Thông qua lời dạy trên, Tổ sư cũng chỉ cho chúng ta thấy rằng, thờ phượng tuy là một pháp trợ tu nhưng chúng ta biết khéo phương tiện vận dụng sẽ tạo ra được sự đoàn kết, hòa hợp giữa người xuất gia với người xuất gia và người xuất gia với hàng cư sĩ. Sự đoàn kết hòa hợp là rất cần thiết để tạo ra một sức mạnh chân chánh giúp mọi người cùng bước đi trên con đường đạo đức.

III. Lời kết

Qua Chơn Lý “Thờ Phượng”, Tổ sư muốn nhắc nhở chúng ta, thờ phượng linh cốt, tượng của Phật, Bồ-tát, các vị Thánh Tăng, hay các hương linh người đã khuất,… chỉ là pháp trợ tu, là phương tiện giúp người thuở ban sơ bước vào cửa đạo. Ngài dạy: “Vậy thì chúng ta cũng nên hãy biết dùng phép thờ phượng tạm, làm phương pháp cứu thế độ đời, chánh lý trong sạch trong lúc khổ nguy; đó là một sự thích hợp với thời cơ, dùng tạm hữu vi để bước tới vô vi, chân thật, yên vui vĩnh viễn. Vì vô vi là đúng lý quí báu hơn hết.”[16]

Đây không phải là pháp cứu cánh để đưa hành giả đến con đường giác ngộ, giải thoát. Con đường giải thoát mà người hành giả Khất sĩ phải đi là con đường Giới-Định-Tuệ. Chư Phật, chư Bồ-tát, chư Hiền Thánh Tăng đều phải đi qua con đường này. Vì vậy mà trước khi vào Niết-bàn tịch tĩnh, Đức Phật đã tám[17] lần nhắc nhở đến với hàng đệ tử: Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ, Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn, Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu.[18]

 

SÁCH THAM KHẢO

1. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trường Bộ, tập I & II, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 1991.

2. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ, tập I – III, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 1992.

3. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý, NXB Tổng hợp TP. HCM, TP. HCM, 2016.

4. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, 1999.

5. HT. TS. Thích Trí Quảng, HT. TS. Thích Giác Toàn, TS. Nguyễn Quốc Tuấn (đồng chủ biên), Hệ phái Khất sĩ – Quá trình thành, phát triển và hội nhập, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, 2016.

6. Thích Giác Duyên, Hệ phái Khất sĩ – Hình thành và phát triển, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, 2014.

7. Lê Trung Vũ (chủ biên), Nghi lễ đời người, NXB. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1996.

 

[1] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB. Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, 1999.

[2] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý “Thờ Phượng”, NXB. Tổng hợp TP. HCM, TP. HCM, 2016, tr. 639.

[3] Đại Tạng kinh Nam truyền, Kinh Trường Bộ “Đại Bát Niết-bàn”, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 347.

[4] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý “Thờ Phượng”, NXB. Tổng hợp TP. HCM, TP. HCM, 2016, tr. 639.

[5] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý ‘Thờ Phượng”, NXB. Tổng hợp TP. HCM, TP. HCM, 2016, tr. 640.

[6] HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ, tập 1, Kinh Thừa Tự Pháp, Viện Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam ấn hành, 1992,  tr. 31.

[7] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý “Thờ Phượng”, NXB. Tổng hợp TP. HCM, TP. HCM, 2016, tr. 641.

[8] Sđd, tr. 642.

[9] HT. Thích Minh Châu dịch,  Kinh Trung Bộ, tập 3, Viện Nghiên cứu Phật học VN ấn hành, 1992, tr. 473- 481.

[10] Sđd, tr. 474

[11] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý “Thờ Phượng”, NXB. Tổng hợp TP. HCM, TP. HCM, 2016, tr. 641.

[12] Sđd, tr. 645.

[13] Sđd, tr. 646.

[14] Sđd, tr. 647.

[15] Sđd, tr. 649.

[16] Sđd, tr. 650.

[17] Lần 1: Tại Rajagaha; Lần 2: Tại Ambalatthika; Lần 3: Tại Nalanda, rừng Pàvàrikamba; Lần 4: Tại Kotigàma;

    Lần 5: Tại Nàdika; Lần 6: Tại Vesàli; Lần 7: Tại Bhandagàma; Lần 8: Tại Bhogamagara.

[18] HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trường Bộ, tập I, ‘Kinh Đại Bát Niết-bàn’, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1991, tr. 554- 555.

    Chia sẻ với thân hữu: