CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Pháp thoại của Hòa thượng Giác Giới đến với Giáo đoàn VI

Vào ngày 01/01/2021 (nhằm 19/11/ Canh Tý) HT. Giác Giới - Giáo phẩm Chứng minh Hệ phái, Viện chủ Tổ đình Minh Đăng Quang - Vĩnh Long đã quang lâm đến tịnh xá Ngọc Chơn thị trấn Chơn Thành tỉnh Bình Phước và có hai thời pháp thoại truyền đạt kinh nghiệm tu tập đến chư Tôn đức Tăng  Ni Giáo đoàn VI.

Buổi sáng, Hoà thượng thuyết giảng dựa trên kinh nghiệm “độ chúng” của người xuất gia. Thông qua câu chuyện của bản thân, Ngài nhấn mạnh: là người tu, là con của Phật thì sự tu tập phải đạt Sơ quả Tu-đà-hoàn, có chánh kiến, tránh được Dục lậu, Hữu lậu, Kiến lậu và Vô minh lậu. Và người xuất gia cần phải tu tập Bát Chánh đạo để nhập vào các bậc Thánh tiếp theo, gồm: Nhị quả Tư-đà-hoàn, Tam quả A-na-hàm, Tứ quả A-la-hán. Trong đó, thành tựu Thánh quả A-la-hán là mục tiêu tối hậu của người xuất gia. Khi ấy, hành giả sẽ giải thoát hoàn toàn mọi chi phối của phiền não sanh tử và chứng đắc Niết-bàn theo đúng lời đức Phật thường dạy trong các bài kinh căn bản: “Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. (Kinh Phật Tự Thuyết (Udàna 6), Chương 1: Phẩm Bồ Đề, HT. Minh Châu dịch).

Trong buổi pháp thoại, Hoà thượng diễn giải rằng: Sơ quả Tu-đà-hoàn, còn gọi Nhập-lưu hay Thất lai. Trong lộ trình này, hành giả cần phát huy tuệ giác thiền quán quét sạch ba kiết sử là thân kiến, nghi và giới cấm thủ. Bậc Sơ quả biết rõ thân và tâm vô thường, dứt trừ hoài nghi về Tam bảo, hiểu rõ Phật, Pháp, Tăng, tin tưởng tuyệt đối vào nhân quả, trì giới, bố thí, tham thiền và không còn mê tín. Bậc Sơ quả còn bảy lần tái sanh nữa để tiếp tục tu tập chứng đạt quả vị tối thượng.

Nhị quả Tư-đà-hàm, còn gọi Nhất lai, là quả vị đã đoạn trừ ba kiết sử đầu và làm suy yếu hai kiết sử kế tiếp là dục và sân. Bậc Nhị quả còn một lần tái sanh nữa để tiếp tục tu tập chứng đạt quả tối thượng.

Tam quả A-na-hàm, còn gọi Bất lai, là quả vị đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục và sân). Bậc Tam quả không bị tái sanh vào cõi Dục, thường sanh vào cõi Sắc hoặc Vô sắc, từ đó tu hành và chứng đạt quả tối thượng.

Tứ quả A-la-hán là quả vị đã đoạn trừ hoàn toàn mười kiết sử, gồm năm hạ phần kiết sử nói trên và năm thượng phần kiết sử (hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo cử và vô minh). Hữu ái tức luyến ái sự hiện hữu, trú vào cõi Sắc. Vô hữu ái tức ưa thích sự không hiện hữu, trú vào cõi Vô sắc. Mạn là tâm kiêu mạn, chấp thấy có sự chứng đắc. Trạo cử, sự dấy động của tâm, kể cả sự thao thức về chứng ngộ. Vô minh là si mê, mê mờ vì các kiết sử ngăn che. Quả vị A-la-hán còn gọi là Vô sanh, không còn tái sanh, chấm dứt sinh tử luân hồi, chứng đắc giải thoát Niết-bàn.

Ngài sách tấn Tăng Ni tu tập theo Tứ Diệu Đế có ba bước hành động, trong kinh gọi là Tam chuyển Pháp luân.

- Thứ nhất là Thị chuyển, nghĩa là nhận diện cái khổ: Không phải tự dưng mà nhận diện được cái khổ. Phải có kiến thức, phải có kinh nghiệm, phải thực tập. Phải lắng nghe, phải nhìn kỹ thì mới nhận diện được cái khổ thật của mình.

- Thứ hai là Khuyến chuyển, liễu tri được cái khổ thật của mình. nhận diện tìm hiểu rõ hơn.

- Thứ ba là Chứng chuyển, là chứng nghiệm rằng cái khổ này đã được liễu tri. Chứng ở đây có nghĩa là đã tu tập, đã thấy được, đã liễu tri được cái khổ.

- Tóm lại, chuyển thứ nhất là nhìn thấy đây là con đường, đây là phương pháp diệt khổ, cũng là xác nhận có một con đường, một phương pháp giúp cho ta thoát khổ đau và đạt tới an lạc. Chuyển thứ hai là thao thức, ước muốn thực tập, vì ta biết rằng chỉ có thực tập mới đưa tới chuyển hóa, không thể cầu một đấng thiêng liêng nào tu hộ cho mình chuyển hóa, ta phải tự mình tu. Nếu muốn tới đích đến thì ta phải đi bằng hai chân của ta. Thứ ba là tu chứng đạo: đạo đã thực tập rồi thì cố nhiên diệt đã chứng, tập đã đoạn và khổ đã liễu tri.

Buổi chiều cùng ngày, một lần nữa Hoà thượng đã nhấn mạnh về Tứ Diệu Đế được coi là cốt tủy, là xương sống của toàn bộ giáo pháp của Phật pháp. Tất cả giáo pháp của Đức Phật sau này đều là sự phát triển mở rộng dựa trên nền tảng của Tứ Diệu Đế. Thông qua lời Phật đã dạy, Hoà thượng thuyết giảng rằng: “Nếu con người ta không hiểu rõ Tứ Diệu Đế là gì thì không có cách nào khác có thể tránh được con đường sinh tử luân hồi, không hiểu rõ Tứ Diệu Đế là gì thì sẽ không thể nào tìm được con đường để thoát ly khổ đau, trầm luân từ kiếp này sang kiếp khác”.

Ngoài ra, vào cuối thời pháp thoại, Hoà thượng còn khuyến tấn Phật tử tham dự buổi thính pháp tu tập theo Bát Chánh Đạo như sau:

1. Có kiến thức chơn chánh thì không bị mê hoặc và lôi cuốn bởi ngọai đạo tà giáo.

2. Có suy nghĩ chơn chánh thì không bị sa vào lỗi lầm đen tối.

3. Có lời nói chơn chánh thì lợi mình lợi người.

4. Có hành động chơn chánh thì có ích cho mình và không làm thương tổn người khác.

5. Có đời sống chơn chánh thì không bị khinh rẻ, chê bai, được mọi người mến mộ, kính trọng.

6. Có siêng năng chơn chánh thì sẽ thu được nhiều kết quả tốt.

7. Có nhớ nghĩ chơn chánh thì dễ dàng nhập định.

8. Có thiền định chơn chánh thì trí huệ phát triển, quả vị đắc thành.

Bát Chánh đạo chính là phương pháp tu phổ biến cho tại gia lẫn xuất gia, trong bất cứ hoàn cảnh và môi trường nào cũng có thể thực hiện được. Tu tập Bát Chánh đạo chính là tu tập thân, khẩu, ý của chúng ta. Khi thực hành Bát Chánh đạo thì gặt hái nhiều kết quả tốt. Bát Chánh đạo chính là nền tảng chánh giác, là căn bản của giác ngộ và giải thoát.

Sau hai thời pháp thoại, Thượng toạ Giác Điệp – Phó Tri sự GĐ. VI đã đại diện Tăng Ni và Phật tử hiện toạ trong đạo tràng đã dâng lời tri ân cảm tạ những lời thuyết giảng đầy đạo lực uyên thâm và lộ trình tu tập rõ ràng của HT. Giác Giới. Thượng toạ còn cầu nguyện hồng ân Tam bảo gia hộ cho Hoà thượng pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, đạo quả viên thành để mãi mãi là ngọn đèn chơn lý soi đường cho Tăng Ni và Phật tử đi trọn lộ trình tu học.

Sau đây là những hình ảnh được ghi nhận:

 

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan