CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Pháp hành An Cư - Tự Tứ - Vu Lan

Pháp thế gian chỉ đúng, thích hợp ở một thời điểm nhất định, trong khi pháp xuất thế gian đúng, thích hợp vượt ngoài thời gian. Lời dạy của Đức Thế Tôn cách đây 2600 năm vẫn còn vang vọng và có giá trị tuyệt đối với chúng sinh ngày nay và muôn đời sau. Di huấn của Ngài không gì ngoài việc dẫn dắt, khuyến khích chúng sinh trở về với tự tánh, tự mình chuyển hoá chính mình. Giáo pháp của Ngài mang lợi ích đến cho bất cứ ai tinh tấn thực thi, một khi thực tập đều gặt hái kết quả tốt đẹp tuỳ theo khả năng mỗi người. Pháp hành An cư - Tự tứ là một trong những chìa khoá vàng giúp hành giả thực tập vượt thoát lo âu phiền não, khám phá nguồn an lạc nội tâm, tạo bầu không khí hoà hợp trong đại chúng, cộng đồng.

1. Pháp hành An cư

An cư kiết hạ là pháp hành rất quan trọng trong đạo Phật. Khi thân và tâm tĩnh lặng, tự tại, được gọi là “An”, hay nói cách khác, “An” có nghĩa là làm cho tâm an tịnh. “Cư” có nghĩa là trụ lại một địa điểm nào đó trong một kỳ hạn thời gian nhất định để nỗ lực tu tập, chuyển hóa tâm thức mình. Như vậy, “An cư” không phải chỉ là thân an cư mà còn là tâm an cư. Thời gian an cư là khoảng thời gian quý báu, chư Tăng Ni giành hết thời gian và ý chí để tu tập, sống đúng với giáo huấn của Đấng Từ Phụ, hướng đến sự giải thoát cho thân và tâm, không hổ thẹn với lời nguyện “Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu độ chúng sinh”.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, Ngài luôn khuyến khích chư Tăng Ni mỗi năm ba tháng mùa mưa hãy tập trung lại một trú xứ để cùng tu, học hỏi, sách tấn, chia sẻ kinh nghiệm với nhau. Thật ra, pháp an cư này đã được các đạo sĩ Bà-la-môn Ấn Độ thực hành rất nghiêm túc trước đó. Nhận thấy sự lợi ích của việc tu tập này nên Đức Phật đã dạy hàng đệ tử hãy hành trì như vậy.

Trong Đại Phẩm [1], có đề cập rõ vấn đề này. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang ngự tại vườn Trúc Lâm (Veuvana), nơi nuôi dưỡng sóc, thuộc thành Vương Xá (Rājagaha). Thời ấy, việc cư trú mùa mưa chưa được Đức Thế Tôn quy định, nên các Tỳ-kheo du hành trong mùa lạnh, mùa nóng, và cả trong mùa mưa. Dân chúng phàn nàn, đàm tiếu, chê bai rằng:

“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang làm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi. Ngay cả các du sĩ ngoại đạo còn có lệ sống cố định trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khi làm tổ trên các ngọn cây, cũng bám víu và sống cố định trong mùa mưa; còn các Sa-môn Thích tử lại không có lệ ấy”.

Các Tỳ-kheo nghe được những lời phàn nàn, chê bai đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. Khi ấy, Ngài bảo các đệ tử rằng:

Này các Tỳ-kheo, từ nay trở đi mỗi năm vào ba tháng mùa mưa các ông hãy tập trung về cư trú một chỗ đồng tu học chung”.

Đây được xem là duyên khởi của pháp An cư trong đạo Phật vậy.

Hẳn là quy định pháp an cư còn do nguyên nhân thực tế khác nữa. Ở Ấn Độ, đặc biệt vùng lưu vực sông Hằng, vào mùa mưa, nước sông dâng ngập tràn bờ, đường xá lầy lội, những vùng đất cao ráo là nơi trú ngụ của đủ loại rắn rết... Du hành đó đây trong mùa mưa, việc che lều dựng cốc thật bất tiện vô cùng. Thời tiết ẩm lại không có chỗ an trú đàng hoàng khiến cho bệnh hoạn có cơ hội phát sinh dễ dàng. Thế nên, ba tháng mùa mưa rất thích hợp cho việc chư Tăng Ni an cư, thúc thủ tu tập.

Vì địa hình phong thuỷ của từng quốc độ không giống nhau nên thời gian an cư có khác nhau. Truyền thống Bắc tông bắt đầu An cư Kiết hạ sau ngày Phật Đản - Rằm tháng tư, và kết thúc vào Rằm tháng 7 âm lịch; còn Nam tông an cư, gọi là Vũ kỳ An cư (Vassavasa) theo mùa mưa bắt đầu từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 âm lịch (tháng Āssina). Nếu An cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền An cư (Purimikavassà). Còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An cư (Pacchimikàvassà).

Ngày nay Phật giáo có mặt khắp năm châu. Đến quốc độ nào, Phật giáo tuỳ duyên hoằng pháp nơi đó và sự tu tập của chư Tăng Ni cũng linh động uyển chuyển thay đổi thời khắc công phu. Ở Mỹ, Úc, thời gian mùa mưa không nhiều nhưng mùa đông kéo dài và có tuyết rơi rất lạnh. Thế nên chư Tăng Ni tổ chức an cư tu học mùa đông là thích hợp, gọi là Kiết đông. Thời gian khoá an cư cũng tuỳ duyên nên có nơi tu ba tháng, một tháng... Ở các nước hiện đại như Mỹ, Úc, châu Âu môi trường rất tốt, không có côn trùng sinh trưởng vào mùa ẩm thấp, nên việc sát sinh ít phạm phải. Việc chư Tăng Ni tổ chức an cư với mục đích chính là để cùng nhau về tu học chung, trao đổi kinh nghiệm tu học và hành đạo, sách tấn nhau, thúc liễm thân tâm và giữ giềng mối đạo, truyền thống tu học.

Trong ba tháng an cư, các Tỳ kheo ở tại một chỗ, song nếu có các duyên như cha mẹ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni đau yếu bệnh nặng, tai nạn, sắp lâm chung thì được đi ra ngoài trong khoảng thời gian từ một đến bảy ngày. Trước khi đi, vị Tỳ-kheo có duyên sự phải đảnh lễ xin phép trước đại chúng và về đúng hẹn.

Thời Đức Thế Tôn còn tại thế, trong khoảng thời gian an cư, chư Tăng Ni dồn mọi sự nỗ lực vào việc tu tập, hành trì chánh niệm trong oai nghi, phát triển tuệ quán dựa trên các đề mục theo hướng dẫn của Đức Thế Tôn hay của các bậc tôn túc trong Tăng đoàn. Đây là thời gian thu thúc giới luật triệt để, tập trung định lực, còn việc tụng đọc, giảng thuyết kinh chỉ là tuỳ duyên phát sinh. Ngày nay tuỳ theo mỗi trường hạ, thời khoá hành trì và sinh hoạt có khác. Đối với các trường hạ an cư tập trung do Giáo hội tổ chức tại một trụ xứ được chỉ định, thời khoá sinh hoạt theo nghi thức phần lớn giống nhau. Ngoài ra có các buổi học giáo lý, bồi dưỡng kiến thức Phật pháp và một số lãnh vực khác, thực tập diễn giảng, tuyển chọn Tăng Ni có khả năng xuất sắc. Trong khi đó, ở các trường hạ truyền thống, tuỳ theo tiền lệ của các Tổ đình, Sơn môn, Hệ phái mà thời khoá, nghi thức, thanh quy có khác. Hàng năm, đến mùa An cư, Tăng chúng trở về Tổ đình để tu tập theo truyền thống của mình. Cũng có những vị Tăng đến xin trụ an cư để học hỏi, mở rộng tầm kiến thức về các truyền thống. Tuy nhiên có một số trường hợp đặc biệt như nhứt Tăng nhứt tự, hay đang có duyên sự ở xa điểm an cư... những vị này có thể hành pháp Tâm niệm An cư hay Đối thú An cư.

Pháp hành An cư có ý nghĩa và giá trị rất lớn trong đời sống tu học của Tăng Ni. Ý nghĩa thứ nhất đó là trưởng dưỡng lòng từ bi, thương yêu, không tổn hại đến vạn loại chúng sinh. Tất cả sinh loại đều tham sống sợ chết, thế nên chư Tăng Ni hành trì cẩn trọng mật hạnh từ bi này. Ý nghĩa thứ hai của pháp An cư đó là sống tu chung trong tinh thần hoà hợp. Suốt chín tháng, chư Tăng Ni thường vân du đó đây hoằng pháp lợi sinh, nên việc ngồi lại với nhau trong ba tháng để học tu chung, bên cạnh luôn có bạn hữu tri thức, chia sẻ kinh nghiệm sống tu, chỉ lỗi cho nhau, lắng nghe sửa đổi, luôn thành ý cẩn trọng pháp ngôn hoà duyệt, quả thật là một pháp tu vô cùng ý nghĩa, hữu ích. Lại nữa, nhiều Tỳ-kheo trong những ngày tháng liên tục thiên chuyển đó đây, rất khó duy trì đại tâm chánh định thuần thục, cũng rất khó an trú chánh niệm thường xuyên trong mỗi lúc, hay nói cách khác là khó tỏ tường ý thức trong mỗi mỗi công việc. Chính vì vậy thời gian ba tháng để hoàn toàn quay lại với chính mình, hộ trì lục căn, thu thúc tam nghiệp, thiểu dục tri túc, chánh niệm tĩnh giác, tinh tấn suy tầm chân nghĩa giáo pháp, tăng trưởng Giới, Định, Tuệ, chín mươi ngày trong thư nhàn tịch tịnh, công phu này vô vàn dụng ích. Trải qua gần 2.600 năm truyền bá và phát triển, truyền thống An cư mùa mưa của Tăng đoàn Phật giáo vẫn được duy trì. Tuổi đạo của một vị tu sĩ được tính theo số mùa An cư mà vị ấy đã tham dự.

Truyền thống Khất Sĩ được hình thành năm 1947. Giáo hội dưới sự hướng dẫn của Đức Tổ Sư được 8 năm và cho đến hôm nay, pháp hành An cư, Tự tứ đã và đang truyền trì, giữ vững. Hơn thế nữa, đối với ý nghĩa và lợi ích thiết thực của pháp hành an cư Đức Thế Tôn chế định, đời sống tu tập thường nhựt được tóm gọn trong năm nguyên tắc chủ đạo, đặc thù trong truyền thống Khất Sĩ [2] :

1. Một khi đã xuất gia học đạo, hành giả Khất Sĩ không ở một nơi nhất định, không bị ràng buộc về chỗ ở, sống chung trong Tăng chúng, nương sức oai thần của hiệp chúng tinh tấn tu tập.

2. Mỗi ngày một bữa ngọ chay, khất thực nuôi sống thân mình. Mỗi năm thay một bộ tam y do tín chủ cúng dường, không bị ràng buộc trong vấn đề ăn mặc, không cất dành chứa để, ngày qua ngày thong thả, rảnh rang, tâm không tham chấp để chú tâm tham thiền, nhập định.

3. Không giữ tiền, bạc, vàng, đồ quý giá.

4. Bình đẳng vô trị - Sắc thân chúng sinh đều như nhau cả, chỉ lấy đạo đức làm thước đo thấp cao. Khất Sĩ là chất nhựa sống, gắn liền các hội chúng chia rẽ. Khất Sĩ tượng trưng cho giáo lý đại đồng.

5. Thời khoá tu tập hoá duyên sáu thời mỗi ngày y theo thời Phật còn tại thế.

Như thế trong truyền thống Khất Sĩ, một ngày như mọi ngày đều hành pháp an cư cả vậy.

2. Pháp hành Tự Tứ

Khi kết thúc thời kỳ An cư, tức ngày Giải hạ, chư Tăng Ni tổ chức Lễ Tự tứ, còn gọi là “Ngày Tự Tứ Tăng”. “Tự tứ”, tiếng Pali là Pavāraā nghĩa là sự thỉnh cầu, nên lễ này còn được gọi là Lễ Tự Tứ Thỉnh. Trong Đại Phẩm [3] có bàn rất rõ về vấn đề này.

Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, đối với các Tỳ-kheo đã sống qua mùa mưa (an cư), Ta cho phép thỉnh cầu dựa trên ba tình huống là do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ. Bằng cách ấy, các ông sẽ được sống trong bầu không khí hoà thuận êm thắm, nhẹ nhàng thoát khỏi tội, và hiểu rõ thêm về Luật. Và này các Tỳ-kheo, nên thỉnh cầu như vầy”.

Vị Tỳ-kheo trưởng thượng, cao hạ lạp thông báo cho đại chúng:

Bạch các vị, xin đại chúng hãy lắng nghe tôi. Hôm nay là ngày lễ Pavāraā. Đây là thời điểm thích hợp cho đại chúng làm lễ Pavāraā”.

Vị Tỳ-kheo trưởng lão đắp thượng y một bên vai, chắp tay, thưa:

Này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu đại chúng. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng thương xót, xin chư đại đức hãy chỉ lỗi cho tôi. Tôi xin nhận và sửa chữa”.

Vị Tỳ-kheo ấy bạch ba lần như thế. Sau khi vị Tỳ-kheo trưởng thượng thỉnh cầu xong, đại chúng tuần tự từ vị nhiều tuổi hạ đến vị mới tu đều quỳ lên thỉnh cầu như vậy.

Có nhiều trường hợp đặc biệt như vị Tỳ-kheo bị bệnh hay có duyên sự chính đáng... có thể xin gởi lời thỉnh cầu. Vị Tỳ-kheo ấy cũng đắp thượng y đến gặp một vị Tỳ-kheo, chắp tay, quỳ thưa: “Tôi xin gởi lời thỉnh cầu. Hãy vì lợi ích của tôi xin chuyển đạt lời thỉnh cầu của tôi đến trước đại chúng”.

Lễ Tự Tứ này được diễn ra không bầu không khí trang nghiêm, ái kính, thuận hòa đúng như Pháp. Mỗi chúng ta tuy đều tinh tấn tu học, song không phải ai cũng dễ dàng nhận ra lỗi của mình hoặc phạm hoặc lỡ phạm. Trên tinh thần thỉnh nguyện được chỉ lỗi trong Lễ Tự Tứ, chúng ta sẽ được đại chúng soi sáng, chỉ lỗi, phân giải rành rẽ. Sau khi được đại chúng nhắc nhở dạy dỗ, chúng ta thấy được, ghi nhận lỗi, chịu luật phạt và quyết lòng sửa chữa về sau không phạm phải. Lòng chân thành khẩn thiết xin chỉ lỗi, vì tình thương đại thể mong mọi người đều cùng tu tập tốt mà chỉ lỗi, nhận lỗi đầy cảm kích trong sự nghiêm nghị mà bao dung của đại chúng... Tất cả những nghĩa cử như Pháp cao đẹp ấy tạo nên một không gian hoà hợp, thanh tịnh vô ngần.

Kinh Tương Ưng Bộ [4] kể lại: Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang trú tại Lộc Mẫu giảng đường (Migara-mātupāsāda), trong Đông Viên (Pubbārāma) thuộc Xá Vệ thành (Sāvatthi) cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng 500 vị, tất cả đều đã chứng quả vị A-la-hán. Hôm ấy là ngày trăng tròn Bố-tát Tự tứ, Đức Thế Tôn ngồi giữa trời, chúng Tỳ-kheo ngồi xung quanh. Ngài nhìn khắp chúng Tỳ-kheo đang yên lặng một lượt rồi cất tiếng:

Này các Tỳ-kheo, đây chính là lúc đại chúng góp ý xây dựng lẫn nhau, vậy trong chúng Tỳ-kheo ở đây có điều gì góp ý Như Lai về thân và lời hay không?

Ðược nghe như vậy, tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay kính lễ Đức Thế Tôn và bạch:

Bạch Đức Thế Tôn, chúng con không có góp ý gì Thế Tôn về thân hay về lời cả. Bạch Đức Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Ngài làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Ngài làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Ngài thuyết giảng. Đức Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; đệ tử chúng con nay nguyện sống hành đạo và sẽ thành tựu những pháp ấy về sau. Bạch Thế Tôn, con kỉnh xin Thế Tôn góp ý chỉ dạy cho con những khiếm khuyết về thân và về lời nói”.

Này Sāriputta, Như Lai không góp ý gì về thân hay lời nói của ông cả. Này Sāriputta, ông là bậc Đại trí, là bậc Quảng trí, là bậc Tốc trí, là bậc Tiệp trí, là bậc Nhuệ trí, là bậc Thể nhập trí. Này Sāriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển, cũng vậy, ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.”

Bạch Đức Thế Tôn, nếu Ngài không có gì góp ý cho con về thân hay về lời nói, vậy bạch Đức Thế Tôn, đối với năm trăm Tỷ-kheo đang hiện diện nơi đây, xin Ngài góp ý chỉ dạy cho tất cả chúng đệ tử”.

Này Sāriputta, đối với năm trăm Tỷ-kheo này, Ta không có gì góp ý chỉ dạy thêm nữa. Trong năm trăm Tỷ-kheo này, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỷ- kheo là bậc chứng được sáu Thắng trí, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Câu giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát”. [5]

Khi đọc đoạn kinh này, trong vòm trời tâm thức của chúng ta hiển hiện một khung cảnh dung dị mà trang nghiêm, gần gũi mà thiêng liêng. Đức Đạo Sư chứng minh lễ Tự Tứ hôm ấy, Ngài y pháp thỉnh nguyện trước đại chúng; tôn giả Xá-lợi-phất, bậc Tướng quân chánh pháp khiêm cung xin bậc Thầy và đại chúng chỉ lỗi. Đại chúng hôm ấy không phải một đại chúng bình thường, mà là đại chúng gồm các bậc Thánh, chư vị đã đạt đến Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Làm sao có thể tìm thấy lỗi lầm nơi Thánh chúng! Ấy thế mà, chư vị hành pháp để làm gương mẫu cho hậu nhân, hành pháp để tăng thêm sự hoà hợp, kính trọng lẫn nhau trong Tăng đoàn. Đây chính là làm như bậc Thánh, quả thật là việc làm hy hữu, đẹp đẽ trang nghiêm đến lạ kỳ mà xưa nay chưa một đấng giáo chủ và đoàn thể đệ tử nào có thể làm đẹp hơn!

Hình ảnh thiêng liêng trong ngày Lễ Tự Tứ này, ngày nay chúng ta vẫn được chiêm ngưỡng tại các trường hạ an cư, tại các trung tâm tu học của các truyền thống Phật giáo trên thế giới. Tăng chúng Phật giáo vẫn thực thi rất nghiêm túc, trang trọng pháp hành này.

Trong truyền thống Khất Sĩ, ngày Đức Tổ sư vắng bóng, chư Trưởng lão, chư vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni ngộ lý vô thường, hiểu rõ giá trị cao thâm của giáo pháp Đức Phật, càng tinh tấn dõng mãnh tu tập, hành trì giới luật tinh nghiêm, hình thành các Giáo đoàn, nhận trách nhiệm của hàng sứ giả Như Lai, chia nhau hành đạo khắp nơi, chung sức chuyển bánh xe Phật pháp. Từ miền Tây sông nước miền Nam đến miền Trung, Cao nguyên, từ thành phố đến thôn quê, rừng núi, đồng bằng, duyên hải, nơi đâu cũng thấp thoáng tà y vàng mỗi sớm mai khất thực, trùng tuyên giảng dạy lời vàng của Đấng Từ Tôn, hướng dẫn nhân sinh lẽ sống tốt đời đẹp đạo. Sau những ngày mưa an cư tu học tinh chuyên, chư Tăng Ni tựu hội về trụ xứ chính của giáo đoàn làm lễ Tự tứ, như trăm sông ngược về nguồn.

Nếu ai đã từng về dự ngày Lễ Tự Tứ truyền thống Khất sĩ mới chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp thoát tục của chư Tăng Ni trong huỳnh y giải thoát. Không gian của những ngày này đưa chúng ta ngược thời gian trở về năm tháng Đức Thế Tôn còn tại thế. Những sứ giả du phương hành đạo nhân ngày này trở về quây quần bên nhau tựa những viên ngọc rời rạc gom tụ về thành tràng chuỗi chân nguyên. Nhờ trí tuệ đại chúng soi sáng ưu khuyết điểm trong việc tu học, mỗi hành giả trau dồi sửa đổi để viên dung đức trí. Nương sức mạnh tinh tấn của guồng quay đại chúng, mỗi hành giả cuốn theo tu tập tiến bộ hơn.  

Hãy suy ngẫm lời tác bạch của vị Tăng bị bệnh xin được gởi lời thỉnh cầu nêu trên, vị ấy thưa: “...hãy vì lợi ích của tôi xin chuyển đạt lời thỉnh cầu của tôi trước đại chúng”. Ý nghĩa của lời nói tha thiết này quả thật thâm thuý! Có mặt trong Lễ Tứ Tứ, trước sự hiện diện đông đảo của chư Tăng, từ các bậc trưởng thượng đến những vị tân Tỳ-kheo, xin được đại chúng chỉ lỗi là một lợi ích khó nghĩ bàn cho mỗi hành giả. Thật vậy, pháp hành này đòi hỏi hành giả buông bỏ hết mọi ngã chấp, khiêm tốn, cung kính lắng nghe chỉ lỗi. Có như thế hành giả mới hoàn toàn thanh tịnh, thân tâm trống rỗng đón nhận lời chỉ lỗi. Có một tấm lòng chân thành như thế mới mong nhận được sự chỉ bảo tận tình. Với hành giả chưa nhận thức rõ giá trị của Tự tứ, thỉnh cầu một cách máy móc, bản ngã còn nguyên, chắc chắn họ sẽ không nhận được chút lợi ích nào cả.

Một hành giả có những ngày tháng thật sự an cư tu tập, nội tâm rất trong sáng thanh tịnh, bản ngã cởi bỏ dần. Tự thân vị ấy nhận diện được ưu khuyết dễ thấy của mình, đồng thời rất từ hoà nhũn nhặn xin đại chúng chỉ những khiếm khuyết mình chưa ý thức được. Tự thân tinh tấn hành trì, tu tập giáo pháp là niềm vui mừng, là thành tựu thứ nhất; biết khép mình nhận sai, sửa đổi là niềm vui mừng, là thành tựu thứ hai trên hành trình về cõi vô sanh của mình. Được chỉ lỗi thấy sai, vị ấy thành tâm sám hối, pháp hành này khiến thân tâm hành giả nhẹ nhàng, hoan hỷ như vừa để xuống một gánh nặng. Hơn thế nữa, vị ấy đã tặng cho đại chúng một bài học để không còn hành giả thứ hai, thứ ba phạm những lỗi này.

Tinh thần sám hối rất quan trọng trong đời sống tu học của Tăng Ni, cư sĩ và cũng rất cần thiết để kiến lập một nhân cách đạo đức, tốt đẹp cho mỗi người trong thế giới này. Sám hối tức đã quên ngã chấp cố hữu. Sám hối tức cầu tiến trên đường thánh thiện. Sám hối thể hiện một tinh thần dõng mãnh vô song. Sám hối thể hiện một hạnh đức khiêm cung, từ hoà, nhẫn nhục. Thế nên trong các bộ Sám Pháp, Đức Phật luôn tán thán hai hạng người - Một hạng không tạo lỗi lầm và một hạng biết lỗi mà sửa đổi chuyển hoá thành tốt. Đức Tổ sư Minh Đăng Quang cũng dạy: “...Sám hối ấy là pháp tu giác ngộ, rất có ích lợi cho kẻ thật tâm tu hiểu lý nghĩa, để đặng dễ bề sám hối xả đoạ, mà nương theo những pháp lành trong sạch... Chính sự sám hối là tu, có sám hối mới có tu, tu là sám hối”. [6]

Sám hối gồm thâu nhiều mỹ đức như vậy nên người biết đi lên, đặc biệt những người con Phật đang huân đúc cho mình một hạnh giải viên dung nên quay về tự kiểm, biết lắng nghe và tinh cần tu tập chuyển hoá chính mình.

Dù rất tinh tấn tu tập, một hành giả có trí không bao giờ chủ quan theo sở kiến của mình mà nương theo trí tuệ của đại chúng để gội sạch bợn nhơ vi tế nhất. Đức Tổ sư thường nhắc: “Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả, tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả, đó tức là chân lý vũ trụ... Đạo của Sống là xin nhau sống chung, đạo của Biết là học chung, đạo của Linh là tu chung... Các sự tu học giúp ích cho người cho mình, việc chi thiện lành trong sạch đều có thể làm được trong khi gặp gỡ. Ấy tức là thực hiện lẽ sống chung tu học, quán sát hạnh phúc của chung mà xin học lẫn nhau, y theo chơn lý vũ trụ và đạo Phật (Phận sự của Tăng già Khất sĩ xuất gia giải thoát đạo Niết-bàn). Đó là sự thực hành pháp giải thoát lý trung đạo theo Kinh, Luật, Luận, Pháp bảo Tam tạng của từ xưa chư Phật dạy: “Nên phải tập sống chung tu học””. [7]

Đây chính là tinh thần Tam tụ Lục hoà, chư Phật giáo huấn và luôn tán thán mỗi hành giả cần phải thực tập. Ngày Tự Tứ thể hiện trọn vẹn ý nghĩa cao viễn lợi ích như vậy, Tăng chúng câu hội trong không khí tự giác, hoà ái, khoan dung nên cũng được gọi là ngày chư Phật hoan hỷ.

3. Lễ Vu Lan

Ngày Tự Tứ còn mang một ý nghĩa khác đó là ngày Tri ân và Báo ân. Xuất xứ ngày này theo truyền thống Phật giáo Bắc truyền là do Đức Thế Tôn dạy tôn giả Mục Kiền Liên - vị đại đệ tử được Ngài tán dương là vị có thần thông đệ nhất, cách cứu mẹ ra khỏi địa ngục tai ách bằng phương pháp thành kính cúng dường chư Tăng Ni trong ngày Tự Tứ. Vì ngày này chư Tăng Ni sau ba tháng An cư tu học tinh tấn, lại vừa làm lễ Tự Tứ, nên rất thanh tịnh trang nghiêm. Cúng dường cho chư vị thân tâm thanh tịnh được phước báu vô ngần. Nương sự chú tâm cầu nguyện của chư vị Thánh Tăng đầy đủ oai lực, những kẻ đang khổ trong ba cõi sáu đường đều được nương nhờ. Tôn giả Mục Kiền Liên làm theo lời chỉ bảo của Đức Phật và trong ngày Tự Tứ ấy, mẹ Ngài cùng nhiều tội nhân khác được siêu thoát.

Thế nên, ngày này còn được gọi là ngày xá tội vong nhân. Đó là ngày tha thứ mọi lỗi lầm, ngày mọi người biết ăn năn, sám hối phục thiện. Nhờ lòng tha thiết cầu xin sám hối ấy, chư Tăng Ni thanh tịnh gia tâm cầu nguyện cho các vong nhân được tròn bổn nguyện thoát kiếp khổ đau. Làm con nghĩ đến công ơn cha mẹ như trời như biển không sao báo đáp trọn vẹn, noi gương hiếu của Tôn giả Mục Kiền Liên, trong ngày này làm việc mà một người con cần phải làm. Hãy tinh tấn tu tập, cúng dường Tam Bảo, hồi hướng công đức cho cha mẹ đã qua đời sớm được thác sanh về cảnh giới an lành. Cũng nhân ngày này nhắc nhở người con biết hiếu thảo, phụng dưỡng sớm hôm, giúp cha mẹ hiện tiền hiểu rõ Phật pháp, tin sâu nhân quả, siêng năng niệm Phật, làm lành lánh dữ.

Các nước trên thế giới có các Ngày của Cha (Father’s Day), Ngày của Mẹ (Mother’s Day), Ngày lễ Tạ ơn (Thanksgiving Day)... Ở Việt Nam ngày rằm tháng bảy được Phật tử và hầu hết người dân Việt tôn vinh là ngày báo ân cha mẹ. Để có được tấm thân hôm nay, ân dày nghĩa nặng đầu tiên đó là cha mẹ. Tuy nhiên cũng trong ngày này, những thâm ân của bạn bè, huynh đệ, Thầy Tổ, quốc gia, Tam Bảo là những động lực tác thành nên nhân cách sống đạo đức cho chúng ta cũng được tôn vinh sâu sắc.

Từ cơ duyên chư Tăng tựu hội về làm Lễ Tự Tứ mới phát sinh Lễ Tri ân - Báo ân. Song trong nhịp sống ngày nay, nói đến rằm tháng bảy, mọi người thường chỉ đặt nặng quan niệm làm Lễ Tri ân - Báo ân, còn Lễ Tự Tứ dường như mờ nhạt. Hy vọng rằng không vì sự mờ nhạt ấy, mà ý nghĩa sám hối, lắng nghe, phục thiện không như tiền lệ thoảng qua.

Giáo pháp của Đức Thế Tôn không chỉ dành riêng cho hàng đệ tử xuất gia tu tập mà dành cho hết thảy những ai hữu duyên tin tưởng, siêng năng thực hành theo. Cũng thế, An Cư - Tự Tứ rất có ý nghĩa đối với hàng tại gia hay những người bình phàm biết suy ngẫm, vận dụng.

“An cư” chính là tĩnh tâm, quay về chính mình, làm chủ chính mình. Đối diện với bao thử thách trong đời, nếu mỗi ngày chúng ta biết dành một chút thời gian cho riêng nội tâm, quán chiếu lại, quán sát lại, chúng ta sẽ có những quyết định sáng suốt, những hành động đúng đắn, phù hợp phản hồi một cách hiệu quả trong công việc hay đối với những tác lực từ nội tâm, ngoại tại.

“Tự tứ” chính là quên đi bản thân, vị kỷ, sống cho tha nhân, vì hạnh phúc niềm vui không chỉ cho riêng mình mà cho mọi người xung quanh. Tự mình biết lắng nghe lời góp ý của người khác, biết sửa đổi phục thiện, biết chia sẻ kinh nghiệm sống đẹp, biết giúp đỡ mọi người và kiến lập thế giới quanh ta một vườn hoa từ ái, bao dung.

“Tri ân - Báo ân” cũng chính là nền tảng xây dựng trật tự đạo đức cho con người, gia đình, xã hội, thế giới lành thiện, hoàn thiện và thánh thiện.

Sống trong sạch, thanh tịnh, từ ái, biết lắng nghe, biết nhận lỗi, khoan dung, tôn kính ấy là những tặng phẩm tri ân báo ân tuyệt mỹ nhất.

Chú thích:

[1] Đại Phẩm (Mahāvagga), Chương III – Chuơng Vào Mùa Mưa (Vassūpanāyikakkhandhaka).

[2] Chơn Lý, Tổ sư Minh Đăng Quang, NXB. TP HCM, 1998, trang 832.

[3] Trong Chương Pavāraā (Pavāraākkhandhaka), Đại Phẩm (Mahāvagga).

[4] Kinh Tương Ưng Bộ, Tập I, Thiên Có Kệ, Chương 8, Tương Ưng Trưởng Lão Vangisa, mục số 7, Tự Tứ.

[5] Sự kiện này bên Hán tạng cũng có bốn bản Hán tương ưng:

1. Trung A Hàm (số 26, gồm 60 quyển với 222 kinh, Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh tập 1). Kinh này mang số 121, thuộc Trung A Hàm quyển thứ 29, Đại chánh Tân tu, tập 1, trang 610A-610C, do Đại sư Cù Đàm Tăng Già Đề Bà dịch vào khoảng 397-398TL, đời Đông Tấn (317-419).

2. Tạp A Hàm (số 99, gồm 50 quyển với 1362 kinh ngắn, đại, tập 2), kinh này mang số 1212, thuộc Tạp A Hàm quyển thứ 45, đại, tập 2, trang 330A-330C, do Đại sư Cầu Na Bạt Đà La (394-468) dịch vào khoảng sau 435 TL, đời Lưu Tống (420-478).

3. Tăng Nhất A Hàm (Số 125, gồm 51 quyển, 52 phẩm, 471 kinh cùng Phẩm Tự, Đại chánh Tân tu, tập 2). Kinh này mang số 5, phẩm 32, thuộc Tăng Nhất A Hàm quyển thứ 24, Đại chánh Tân tu, tập 2, trang 676B-677B, do Đại sư Cù Đàm Tăng Già Đề Bà dịch (Đại sư cũng là người dịch Trung A Hàm). 

4. Biệt dịch Tạp A Hàm (Số 100, gồm 16 quyển với 364 kinh ngắn, Đại chánh Tân tu, tập 2). Kinh này mang số 228, thuộc quyển 12, đại, tập 2, trang 457A - 457C.

[6] Chơn Lý, Tổ sư Minh Đăng Quang, NXB. TP HCM, 1998, trang 815.

[7] Chơn Lý, Tổ sư Minh Đăng Quang, NXB. TP HCM, 1998, trang 831, 835.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan