Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Pháp tu qua hình ảnh con khỉ trong kinh Mi Tiên

loc khiI. Dẫn nhập

Đời sống xuất gia giải thoát của một vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa, Sa-di hay Sa-di-ni phải gắn liền với lòng nhiệt huyết, sự tinh cần, tâm chánh niệm, tỉnh giác luôn luôn. Người tu mà chỉ trong phút chốc không thu thúc thì sẽ bị rơi vào vòng tay của ác ma, như con rùa phải khéo bảo vệ các căn để tránh sự đe dọa hiểm nguy của con dã can. Với lòng từ mẫn, đức Thế Tôn hằng sách tấn hàng đệ tử là phải thường tỉnh thức dù đó là ngày hay đêm, hay bất cứ một nơi nào tâm phải luôn nhớ nghĩ đến đức Phật, chánh pháp, chúng Tăng, sắc thân vô thường, lòng yêu thương đến mọi người, mọi loài và chuyên tâm thiền quán để thấy rõ pháp sinh diệt. Bởi vậy, người tu theo Phật phải thấu hiểu đạo lý này để làm tịnh hóa thân, tâm, trí và mục đích phạm hạnh được tròn đầy, như câu 296 – 301 trong kinh Pháp Cú có dạy:

“296, Đệ tử Gotama

Luôn luôn tự tỉnh thức

Vô luận ngày hay đêm

Thường tưởng niệm Phật đà.

297, …, Thường tưởng niệm Chánh pháp.

298, …, Thường tưởng niệm Tăng- già.

299, …, Thường tưởng niệm sắc thân.

300, …, Ý vui niềm bất hại.

301, …, Ý vui tu thiền quán.[1]

Chính việc vâng hành theo lời đức Thế Tôn dạy là để chế phục những phiền não nơi tâm mỗi hành giả. Nhân mùa xuân Bính Thân, người viết muốn chia sẻ Pháp tu qua hình ảnh con Khỉ trong kinh Mi Tiên để chúng ta có cách nhìn khác về con khỉ cũng có điểm đáng để học hỏi và hành theo, như đức Tổ sư Minh Đăng Quang dạy người Khất sĩ không chỉ học ở một người, một chỗ, một bài học mà phải học cùng nơi khắp xứ và học ở mọi loài: “Học nơi cỏ, cây, thú, người, trời, Phật, đất, nước, lửa, gió.”[2]

Nếu nhìn đơn thuần thì ở con khỉ không có gì để học, vì nói đến nó là người ta liên tưởng đến “tâm viên ý mã” hay nghĩ về một con khỉ tham ăn mà phải rơi vào cạm by của anh chàng thợ săn, hoặc hình ảnh con khỉ qua cái nhìn của Ngô Thừa Ân thì cũng vẫn lăng xăng, chạy nhảy không có sự an định, như đức vua Mi-lanà nhận định: “Con khỉ thì tốt đẹp gì mà học! Suốt ngày cứ chạy nhảy leo trèo từ cây này sang cây khác, từ cành này sang cành khác - giống như tâm ý lăng xăng của chúng sanh vậy, có hay hướm gì!”[3]. Đương nhiên, người xuất gia theo Phật phải có tri kiến trong việc học tu mới thấy được những đức tính thuần khiết, lòng bao dung (chuyện chiếc cầu muôn thuở)[4], và sự khéo léo quan sát (chuyện khỉ chúa)[5] của con khỉ để chuyển hóa tâm khỉ, vượn nơi mình cho được tĩnh lặng, trong sáng như hồ nước sâu thẳm[6].

II. Nội dung

Trong kinh Mi Tiên vấn đáp (Milinda Panha), thông qua hình ảnh con khỉ có hai điểm đặc biệt, lợi ích mà người xuất gia cần học và hành trì miên mật để cốt lõi phạm hạnh được thành tựu viên mãn như ý và làm chỗ y cứ cho chúng sanh vạn loại. Một là, người xuất gia nên diện kiến và thân cận các bậc đầy đủ giới, định, tuệ, tri kiến giải thoát để làm chỗ nương tựa. Hai, phải tác ý và thực hành Tứ niệm xứ trong mọi lúc, mọi nơi cho dù ngày hay đêm.

1. Thân cận Thiện hữu tri thức

Đối với một con khỉ tinh khôn, muốn có cuộc sống thật yên bình thì phải biết thường tìm những cây to lớn, cành nhánh vững chắc, xanh tốt và sum suê làm nơi trú ẩn. Còn đối với người xuất gia, yếu tố quan trọng để xây dựng mục tiêu phạm hạnh cho được hoàn thiện thì phải thân cận những bậc thầy có đầy đủ tố chất của một bậc xuất trần thượng sĩ hay bậc thiện hữu tri thức trong Phật pháp, như kinh Mi Tiên có nói về hạnh tu của một vị xuất gia trong giáo pháp của đức Thế Tôn: “Các vị Tỳ khưu phải lựa tìm những bậc phạm hạnh có đạo cao đức cả - như là gốc đại thụ vậy - để nhờ nương, làm chỗ ở cho mình. Bậc phạm hạnh có cành nhánh vững chắc và tàng lá sum suê xanh tốt, ấy là đầy đủ: giới đức, có tàm quý, nhiều pháp lành, đa văn, là người giữ gìn pháp, nâng đỡ pháp; có ngôn ngữ từ ái, tự mình tinh tấn và dìu dắt mọi người tinh tấn đi theo con đường phạm hạnh.”[7]

Một thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình để đi tìm cầu con đường chí thiện, an ổn, thoát khỏi các triền phược, thì phải có định hướng chân chánh bằng tuệ giác. Và con đường này không thể nào thiếu bậc đạo sư đầy đủ giới đức, đa văn, nội tâm vững chãi, trí tuệ siêu phàm. Vì bậc đạo sư là người dẫn đường chỉ lối cho hành giả đi trên lộ trình hướng đến bảo sở được an toàn, ví như người cm đuốc sáng hướng dẫn người đi trong đêm vượt qua quãng đường đầy chông gai, hiểm trở để đến nơi an ổn. Việc này được nói rõ trong nghi thức đảnh lễ đức Phật của Hệ phái Khất sĩ:

“Trần gian biết nẻo tu hành

Nhờ đèn trí huệ quang minh soi đường.”[8]

Sống gần một người nào hay trú xứ nào có đầy đủ điều kiện làm cho tri kiến của hành giả chưa sanh được sanh khởi, pháp lạc chưa thành tựu được thành tựu, và tứ vật dụng được sung túc để hộ trì cho việc đạo quả giác ngộ viên mãn. Mặc dù ở nơi đó có nhiều thử thách hay thậm chí xua đuổi thì hành giả phải kiên trì, kham nhẫn xin ở lại để tu học, như bài kinh Khu Rừng trong Trung Bộ kinh có dạy: “Ta sống gần người này. Khi ta sống gần người này, các niệm chưa được an trú được an trú; tâm chưa được định tĩnh được định tĩnh; các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ; và vô thượng an ổn khỏi ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt; và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một vị xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách dễ dàng. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải trọn đời theo sát người này, không được bỏ đi, dầu cho có bị xua đuổi.”[9]

Qua bài kinh, cho ta thấy đức Thế Tôn đã dạy các vị Tỳ-kheo xin pháp học, pháp hành để làm cho tri kiến được phát sanh, tăng trưởng và phải xin tứ vật dụng nuôi thân. Và cũng tương đồng với lời đức Phật dạy trong bài kinh Khu Rừng, đức Tổ sư Minh Đăng Quang dạy người tu Khất sĩ trong Chơn lý Khất sĩ”, có hai cái xin:

“Xin vật chất (vạn vật) để nuôi thân.

Xin tinh thần (các pháp) để nuôi trí.”[10]

Đời sống của một vị xuất gia phải làm là sau khi đi vào làng khất thực, độ cơm (nuôi thân) rồi tìm trú xứ thích hợp, nơi thanh vắng, gốc cây, ngôi nhà trống, bãi tha ma, nghĩa địa, để tham thiền quán tưởng, sau khi được bậc đạo sư hướng dẫn pháp học, pháp tu vững vàng (nuôi trí). Nếu điều này được duy trì không bị trở ngại, không thoái lui thì sẽ dễ dàng hướng đến mục tiêu giải thoát không xa, như trong Tương Ưng Bộ kinh, bài kinh Khúc Gỗ[11].

Như vậy bài học đầu tiên của con khỉ lưu trú trong rừng thường tìm cây cao bóng cả để làm chỗ lưu trú, còn một vị xuất gia phải biết thân cận, gần gũi học hỏi các vị có đầy đủ phẩm hạnh của một bậc thầy minh triết. Tiếp theo bài học quý báu thứ hai với hình ảnh con khỉ là thường xuyên nghĩ đến pháp giải thoát.

2. Hằng nhớ tưởng đạo lý[12]

Những con khỉ sau khi một ngày đi xa tìm kiếm thức ăn, khi hoàng hôn buông xuống nó lại quay vềnơi ở hàng ngày để nghỉ qua đêm. Còn người tu theo Phật phải trở về trú xứ của mình sau một ngày hành đạo, như kinh Mi Tiên giải thích: “Trong một ngày, lúc hoàng hôn xuống, các vị Tỳ-khưu trong hàng ngũ Sa-môn phải biết trở về trú xứ vắng lặng của mình như rừng, nghĩa địa v.v... để nghỉ qua đêm. Khỉ không bao giờ rời bỏ cây ấy lúc ban đêm - thì vị Tỳ-khưu cũng không bao giờ rời bỏ pháp tu Tứ niệm xứ của mình. Suốt đêm, dù đi, đứng, ngồi, nằm cũng hằng phải chánh niệm, tỉnh giác. Đúng như đại trưởng tử của đức Thế Tôn đã thuyết: Vị Tỳ-khưu nên hoan hỷ, mến thích khu rừng và cội cây của mình. Lúc tọa thiền, lúc đi kinh hành hoặc ngủ nghỉ đều không được rời bỏ pháp hành.”[13]

Sự thực hành pháp của Phật phải luôn nỗ lực tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác trong từng cử chỉ đi, đứng, ngồi, nằm, ... nói theo Đại đức Na Tiên là hành giả ấy đang sống trong hành xứ phạm hạnh của mình. Vì người tu mà rời bỏ pháp Phật thì sẽ bị tham dục, sân giận, phiền não, triền phược xâm chiếm, ngự trị và chi phối, hay nói khác hơn là vị này đã rơi vào tay của ác ma, như trong kinh Bổn Sanh - Jataka có nói về chim cun cút, do vì rời khỏi địa hạt của mình để đi tìm mồi nên đã bị chim diều hâu uy hiếp, nhưng nhờ trí tuệ mới thoát khỏi sự uy hiếp đó. Nhân chuyện này, đức Thế Tôn dạy các vị Tỳ-kheo: “Do vậy, các ông chớ có đi không đúng chỗ, và đến địa hạt của người khác. Khi ta rời địa hạt của mình, ác-ma sẽ đợi cơ hội, ác-ma sẽ được thuận duyên. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào là không đúng chỗ của Tỷ-kheo, là địa hạt của người khác? Ðó chính là năm dục lạc. Thế nào là năm? Sắc do mắt nhận thức… Này các Tỷ-kheo, đấy không phải là chỗ của Tỷ-kheo, là địa hạt của người khác.”[14]

Đối với một vị Tỳ-kheo sống trong Pháp và Luật của đức Thế Tôn thì phải luôn thu thúc các căn như ba con khỉ dùng tay che mắt, bịt tai, đậy miệng[15], và thường tác ý đến thiện pháp để phiền não, khổ đau không có cơ hội quấy phá, như trong kinh Pháp Cú có đề cập đến hình ảnh người xuất gia đúng nghĩa trong giáo pháp Phật-đà:

“Vị Tỳ-kheo thích pháp

Mến pháp, suy tư pháp

Tâm tư niệm chánh pháp

Không rời bỏ chánh pháp.”[16]

Như vậy, nói về mặt giới hạnh thì vị xuất gia không được rời khỏi trú xứ của mình trong đêm để tránh cơ hiềm của thế gian, dù có hành đạo ở nơi nào cũng phải trở về dưới cội cây, trú xứ thanh vắng của mình. Điều này đã được đức Tổ sư Minh Đăng Quang khuyên dạy các vị đệ tử không nên ra khỏi trú xứ sái giờ quy định nếu không có việc cần thiết và được Giáo hội cho phép, như:“Cấm vào làng sái giờ (trừ ra có việc của Giáo hội từ sáng đến ngọ).”[17] Còn nói về tu tập để tri kiến chân chánh phát sanh thì vị này phải nỗ lực tâm niệm duy trì pháp hành cho đến ngày thành mãn.

III. Kết luận

Qua hình ảnh con khỉ trú ẩn trong rừng, từ đó nhân sinh có được bài học rất thiết thực để ứng dụng vào trong đời sống phạm hạnh và phương cách giáo hóa chúng sanh được hữu hiệu hơn. Đối với người xuất gia hay tại gia muốn đạt được đạo quả giác ngộ, giải thoát phải đến để mà thấy mà biết, mà học hỏi cho chính. Nếu yếu tố đầu tiên trong câu chuyện về con khỉ không được nêu ra sẽ mất đi ý nghĩa quan trọng, lợi ích cho việc học tu. Vì không có bậc thầy mô phạm hướng dẫn thì chúng ta sẽ không có cái thấy biết như thật để đến bảo sở huy hoàng, như trong kinh Pháp Môn Căn Bản có nói: “Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc chơn nhân, không tu tập pháp các bậc chơn nhân.”[18] Và bài học thứ hai trong câu chuyện mang tính liên kết chặt ch với bài học đầu tiên, ví như con khỉ khi đã tìm được trú xứ vững chắc thì nó sống và sinh hoạt không rời bỏ chỗ ấy. Còn người tu Phật, sau khi thân cận học hỏi hiểu biết con đường chân chánh thì luôn an trú trong giáo pháp đã được thọ học ấy. Vì pháp được thực hành miên mật, không gián đoạn sẽ đạt được lợi ích rất lớn, như kinh Tứ niệm xứ có nói: “Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”[19]

Với sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác hành trì theo lời Phật dạy sẽ hàng phục được tâm ý vượn khỉ lăng xăng của mình, và thắp lên ngọn lửa tuệ giác để chiếu sáng khắp mọi nơi.

“Ai sống trước buông lung

Sau sống không phóng dật

Chói sáng rực đời này

Như trăng thoát mây che”.[20]


[1] Kinh Pháp Cú, HT. Thích Minh Châu dịch, Phẩm Tạp Lục, câu 296 – 301, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội, năm 2006, tr.81 – 82.

[2] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý Khất sĩ, Nxb. Sài Gòn, năm 1961, tr.131.

[3] Kinh Mi Tiên vấn đáp (Milinda Panha), HT. Giới Nghiêm dịch, Về con khỉ, số 187, Nxb. Văn Học - Hà Nội, năm 2010, tr.831.

[4]Tiểu Bộ Kinh, tập 4, HT. Thích Minh Châu và Giáo sư Trần Phương Lan dịch, năm 2001.

[5] Tiểu Bộ Kinh, tập 4,HT. Thích Minh Châu và Giáo sư Trần Phương Lan dịch, Chuyện Khỉ Chúa (Tiền thân Vànarinda), số 57, Nxb. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, năm 2001, tr.375.

[6] Như hồ nước sâu thẳm, trong sáng không khuấy đục, cũng vậy nghe chánh pháp, người trí hưởng tịnh lạc. (Kinh Pháp Cú, số 82).

[7]Kinh Mi Tiên vấn đáp (Milinda Panha), tr.831.

[8] Hệ phái Khất sĩ, Nghi Thức Tụng Niệm, Lễ Phật, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội, năm 2003, tr.3.

[9] Kinh Trung Bộ tập 1, (HT. Thích Minh Châu dịch), Kinh Khu Rừng, số 17, Nxb. Tôn Giáo - Hà Nội, năm 2012, tr.146.

[10] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý Khất sĩ, Nxb. Sài Gòn, năm 1961, tr.134.

[11] HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ưng 4, Thiên Sáu Xứ, Phẩm Rắn Độc, Kinh Khúc Gỗ,VNCPHVN TP.HCM, 1991, tr. 293.

[12] Hệ phái Khất sĩ, Luật nghi Khất sĩ, Bảy Hàng Cây Báu, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội, năm 2004, tr.50: Bảy hàng cây báu: Thất Giác ý (thất Bồ-đề): 1/ Phân biệt sự lành sự dữ, 2/ Tinh tấn mà lướt lên, 3/ An lạc trong vòng đạo lý, 4/ Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành, 5/ Nhớ tưởng đạo lý, 6/ Nhứt tâm đại định, 7/ Vui chịu với mọi cảnh ngộ.

[13] Kinh Mi Tiên vấn đáp (Milinda Panha), Về con khỉ, số 187, tr.831.

[14] Kinh Tiểu Bộ tập 5, (HT. Thích Minh Châu dịch), Phẩm Santahava, Chuyện Chim Diều Hâu (Tiền thân Sakunagghi),Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr.266.

[15] Ba con khỉ tênMizaru, Kikazaru và Iwazaru: bịt tai, bịt mắt, bịt miệng. Con che mắt tên là mizaru nghĩa là “Tôi không nhìn thấy điều xấu”. Con bịt miệng là iwazaru nghĩa là “Tôi không nói điều xấu”. Con bịt tai là kikazaru – “Tôi không nghe những điều xấu”. 

[16] Kinh Pháp Cú(HT. Thích Minh Châu dịch), Phẩm Tỷ-kheo, câu 364, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội, năm 2006, tr.99.

[17] Hệ phái Khất sĩ, Luật nghi Khất sĩ, Giới Bổn Tăng - 90 Giới Hành Phạt “Quỳ hương”, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội, năm 2004, tr.200.

[18]Kinh Trung Bộ,tập 1 (HT. Thích Minh Châu dịch), Kinh Pháp Môn Căn Bổn, Nxb. Tôn Giáo - Hà Nội, năm 2012, tr.19.

[19]Kinh Trung Bộ tập 1, (HT. Thích Minh Châu dịch), Kinh Niệm Xứ, Nxb. Tôn Giáo - Hà Nội, năm 2012, tr. 85.

[20] Kinh Pháp Cú (HT. Thích Minh Châu dịch), Phẩm Thế Gian, câu 172, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội, năm 2006, tr.51.

    Chia sẻ với thân hữu: