CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Hữu thể theo những nhà tuyệt đối luận-phần 1

Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài luôn ngăn chặn mầm mống của những học thuyết thuộc Tuyệt đối luận trong Tăng đoàn. Thế nhưng vào cuối đời, Đức Phật lại ngần ngại việc chỉ định người kế tục. Ngài khẳng định rằng giáo pháp, giới luật mà Ngài đã thuyết giảng và thiết lập sẽ có vai trò làm người hướng dẫn cho những thế hệ đệ tử tương lai. Điều này đã để lại một cảm thức tự do trong việc giải thích giáo nghĩa theo thiên hướng của những người đệ tử thuộc thế hệ sau. Cảm thức tự do trong việc giải thích lời Phật dạy dần dần trở nên một vấn đề quan trọng. Để hóa giải, trước đó Đức Phật đã thiết định ra những nguyên lý căn bản trong việc diễn giải kinh điển. Cũng nhằm để hóa giải, khi Phật Niết-bàn được 3 tháng, cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất được tiến hành. Nhờ vậy mà cảm thức tự do này được lắng xuống trong một khoảng thời gian khá dài, gần 250 năm. Sau chừng đó thời gian, việc giải thích giáo nghĩa theo thiên hướng tự do bắt đầu xuất hiện trở lại. Những tiếng nói sai biệt với nhau đã tranh biện về 3 đề tài đã từng xuất hiện từ lâu như (1) Bản chất của dòng tương tục trong sinh mạng của một người; (2) Tính chất thực có của những yếu tố tạo nên một người; (3) Trạng thái của một người đã giải thoát.

Ba đề tài trên chính là 3 đề tài chủ yếu trong những tranh luận triết học thời kỳ của đại đế Asoka. Đại đế đã nhận thức được rằng giáo hội đã bị phân phái, bị chia rẽ trên căn bản của những giáo nghĩa và những vấn đề thực tiễn khác, nên cho mời một trong những đại sư được kính trọng bậc nhất đương thời là Mục-liên-tử-đế-tu vào hoàng cung tham vấn. Chẳng bao lâu, một hội nghị được triệu tập với mục đích loại trừ tất cả những tà thuyết và phục hồi trở lại tính chất tinh khiết cho giáo lý mà Phật đã tuyên thuyết. Biên bản của hội nghị này đã được biên tập lại thành tác phẩm Những điểm dị biệt. Một tác phẩm gần như ngay tức thời được đưa lên hàng Thánh điển trong Luận tạng, mặc dầu nó được biên soạn bởi một đệ tử nhà Phật sống cách thời Phật 250 năm. Với giá trị giáo nghĩa mà nó chứa đựng, tác phẩm đã lôi cuốn những nhà sớ giải sau này dành rất nhiều công sức để xác minh tính cách thiêng liêng và thẩm quyền mà nó xứng đáng. Những nhà sớ giải đã tuyên bố rằng (1) Đức Phật đã tiên kiến về người biên soạn tác phẩm và nội dung của tác phẩm; (2) Khi biên soạn tác phẩm Mục-liên-tử-đế-tu đã nhất mực trung thành với những nguyên lý và những mẩu đề mà Đức Phật đã phác họa. Đến thế kỷ 21 này, mặc dù chúng ta còn phân vân đối với câu tuyên bố thứ nhất nhưng chúng ta hình như khó kiếm lý do để nghi ngờ câu thứ hai nếu như chúng ta vẫn còn tiếp tục đặt tác phẩm Những điểm dị biệt vào bối cảnh gồm những bài pháp thoại mà Đức Phật tuyên thuyết, cũng như tiếp tục phân tích nội dung của những bài pháp thoại đó.

Ở bài viết này chúng ta hãy xác định những cái bị gọi là tà thuyết. Thú vị khi ghi nhận rằng trong 218 quan điểm được đưa ra tranh biện, hầu hết đều là những tiểu tiết trong Luật tạng, nhưng lại chứa đựng 3 vấn đề trọng đại của triết học. Vấn đề đầu tiên là vấn đề con người.

Những điểm dị biệt bắt đầu với một câu hỏi liên quan đến khái niệm về một "con người" (puggala). Điều quan trọng ở đây nằm ở ngữ cú được sử dụng để xây dựng câu hỏi. Câu hỏi không đơn giản là "Có một con người không?". Câu hỏi được đặt ra rất khúc chiết và sâu xa, "Có một con người theo nghĩa chơn lý tuyệt đối, theo nghĩa là một thực tại tối hậu, không?" Nói gọn, "Có một con người thật, một con người như là một sự thật không?"

Đây chính là cuộc truy tìm cái tinh tủy, tìm kiếm cái thực tại tối hậu hay ý nghĩa tối hậu. Tức là, truy tìm cái con người đúng nghĩa, chứ không phải là một mớ thịt trộn với xương và những thứ khác rồi đựng trong một cái bị bằng da; cũng không phải là con người gồm những cảm xúc có rồi mất, không phải là con người gồm một mớ ký ức, một mớ nhận thức, một thấp thoáng của lương tri, thiên tính rồi đặt vào đó một trái tim theo nghĩa máu thịt và nghĩa biểu trưng. Người ta muốn tìm cái sâu xa hơn, cốt tủy hơn tất cả những cái đó. Cái cần truy tìm phải nằm đâu đó phía trong, phía đằng sau, phía dưới tất cả những cái đó.

Cuộc truy tìm này đã khiến cho những nhà Tuyệt đối luận cảm thấy không thỏa mãn với cách giải thích thường nghiệm về một cá nhân con người bằng lý thuyết 5 uẩn. Đối với họ, 5 uẩn hình như cũng chỉ là cái bề mặt, cái biểu kiến lúc có lúc không, lúc còn lúc mất vì vậy mà không phải là cái làm họ cảm thấy rằng đã tìm được rồi. Họ muốn tìm một cái sự thật nào đó nằm đằng sau, bên dưới hay bên trong 5 uẩn. Vấn đề dần dà trở nên trầm trọng hơn và rất trầm trọng khi một số lý thuyết hợp lại với nhau hướng đến cái tinh tủy đã dần dần làm phát sinh ra một lý thuyết về sát-na (ksana). Theo lý thuyết sát-na thì năm uẩn hiện hữu trong chớp mắt. Lý thuyết này có tác dụng nối kết được hai cái đối nghịch nhau: hiện hữu và vô thường. Thế là muôn sự muôn vật cứ hiện hữu như thật mà vẫn cứ vô thường; cứ việc hiện hữu thật sự, hiện hữu theo nghĩa tối hậu mà vẫn vô ngã.

Lý thuyết sát-na là một thành tựu về phương diện sáng tạo nhưng không tránh được mặt hạn chế. Lý thuyết hiện hữu trong chớp mắt này đã khiến cho người ta hầu như không lý giải được cái tự thể cũng như sự tương tục của một con người thuộc thế giới thường nghiệm. Trong lý thuyết sát-na chủ trương căn bản thường nghiệm của Đức Phật đã bị ngàu trộn với lý thuyết hạt nguyên tử, giống với lý thuyết của David Hume trong nền triết học Tây phương. Trong Phật giáo cổ đại, một trong những học phái xiển dương một dạng cực đoan cùng tột của lý thuyết hạt nguyên tử là Kinh lượng bộ, những môn nhân của bộ phái này lý luận rằng thậm chí không có một khắc thời gian trong đó một pháp dừng trụ lại để người ta ghi nhận. Như vậy, những môn nhân này đã trở thành những nhà cổ súy cho cái có thể gọi là "Lý thuyết về sự nhận thức trên biểu tướng". Nói cách khác, những nhà Kinh lượng bộ lý luận rằng chỉ cần thấy có một khắc tĩnh tại thì cũng đủ lệch khỏi quan niệm của Đức Phật về vô thường.

Mặc khác, những nhà Kinh lượng bộ có quan niệm cho rằng sự hiện hữu chỉ là những sự kiện chớp nhoáng của hạt nguyên tử. Quan niệm này đã đưa họ đến những khó khăn không thể vượt qua được khi họ phải giảng giải về giáo lý nhân duyên hay giáo lý duyên khởi. Trong khoảng thời gian sinh khởi của một sự kiện chớp nhoáng, không thể nào có một sự kiện khác ở trước đó để sự kiện sau có thể nương vào mà khởi sinh, vì rằng sự kiện trước đó đã xong rồi. Do đó những nhà Kinh lượng bộ ưa chuộng quan điểm cho rằng tất cả những điều gì mà lý thuyết duyên khởi khẳng định thì chỉ đơn giản có nghĩa là "theo sau" (samanantara). Tức là, một sự kiện theo sau sự kiện khác mà không có một mối liên hệ tương ứng hay không tương ứng nào có thể nhận ra. Những vị này e sợ rằng những khái niệm như khái niệm lâu bền hay khái niệm tự thể nhất thiết sẽ đào thải bất kỳ ý niệm biến chuyển hay ý niệm vô thường nào. Vì vậy họ bị lôi vào việc chấp nhận lý thuyết "sáng tạo từ cái hư vô" (creation ex nihilo – a-sat-karya) của tất cả mọi sự hiện hữu chớp nhoáng.

Bởi vì những nhà Kinh lượng bộ không có khả năng lý giải nguyên lý duyên khởi cho nên họ đi đến một sự xung đột lớn về mặt giáo lý liên quan đến những khái niệm như vô thường và sự kế tục, đặc biệt là đối với một con người. Điều này cuối cùng đã đóng góp cho luận đề của những vị Vatsiputriyas. Đó là những vị nêu lên quan kiến cho rằng có một "con người thật" (santam pudgalam), người này không phải thuộc về vật chất (dravya) như sắc pháp, cũng không phải đơn thuần là một cái được định danh (prajnapti) như sữa (ksira) vì sắc pháp hay sữa chỉ là hợp thể từ những chất liệu mà thôi. Con người thật vượt qua cả hai phương thức giải thích, thực tế và định danh. Cuộc chủ đạo tìm kiếm một con người thật, một con người tối hậu có thật, như được ghi lại trong “Những điểm dị biệt”, đã biến thành một giải pháp không tránh thoát được trước một ngã ba triết học thật giả khó phân. Giáo lý không thực thể về con người (pudgala-nairatmya), được một số vị đệ tử sáng danh của nhà Phật rất mực trung thành, đã biểu hiện ra là một sự cố gắng có tính nhất quán nhằm quyết trạch hay hóa giải ngã ba này và quay trở về nguồn giáo lý mà Đức Phật đã tuyên thuyết: giáo lý phi thực thể.

(Theo David J. Kalupahana)

    Chia sẻ với thân hữu: