Trong tiến trình bồi dưỡng vị trụ trì giữa bối cảnh xã hội không ngừng chuyển động, mọi kỹ năng quản trị, mọi phương pháp điều hành hay năng lực hội nhập đều chỉ có thể phát huy giá trị khi được đặt trên một nền móng vững chắc. Đối với người xuất gia Khất sĩ, nền móng ấy không gì khác hơn là giới luật, sức sống của Tăng đoàn và là yếu tố quyết định sự trường tồn của chánh pháp. Trong đó, để Tăng đoàn giữ được sự thanh tịnh, người trụ trì cũng có trách nhiệm đặc biệt quan trọng trong việc quản lý Tăng Ni. Đây cũng là nội dung được HT. Minh Bửu – UVTT HĐTS, Phó Trưởng Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái kiêm Trưởng ban Tăng sự Hệ phái, Tri sự phó GĐ.IV PGKS, đề cập tại khóa BDTT PL.2570, sáng 18/07/2026 (05/06/Bính Ngọ).

Ngay từ đầu khóa học, Hòa thượng đã khẳng định: “Tương lai của Phật pháp luôn gắn liền với tương lai của Tăng đoàn, mà tương lai của Tăng đoàn lại được quyết định bởi giới luật”. Theo Hòa thượng, Tăng đoàn không chỉ là một tập thể tu học mà còn là hình ảnh sống động của giáo pháp giữa cuộc đời. “Người đời nhìn lãnh đạo bằng năng lực điều hành, kẻ trí nhìn bậc xuất gia qua phẩm hạnh, oai nghi. Vì vậy, trong kỷ nguyên công nghệ số, khi mọi hành vi đều có thể lan truyền chỉ trong vài phút, mỗi vị Tăng Ni càng phải ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm giữ gìn oai nghi và giới hạnh của mình”, Hòa thượng khuyến tấn. Nhắc lại lời di huấn của Đức Thế Tôn trước khi nhập Niết-bàn: “Lấy giới luật làm Thầy”, đồng thời dẫn lại tư tưởng của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, Hòa thượng khẳng định: “Người khất sĩ chân chính nào phải định danh bằng chiếc y đang mặc, học vị đang mang, hay chức vụ Giáo hội đang nắm giữ. Tất cả những cái đó chỉ là bọt nước hư danh, giới hạnh trang nghiêm mới là ngọc báu chơn truyền. Giới luật không phải là những giáo điều ngăn cấm lạnh lùng, mà là thành trì hộ vệ tự thân, là điểm tựa ngàn đời để người tu không đánh mất mình trước những cám dỗ ngày một tinh vi của thời đại số”.
Bên cạnh đó, Hòa thượng cũng đặc biệt nhấn mạnh về sự hòa hợp của Tăng đoàn, mà ở đó, sự hòa hợp không thể được xây dựng trên tình cảm cá nhân, hay quyền lực hành chính, mà phải được đặt trên nền tảng giới luật. HT. Minh Bửu ví giới luật như chiếc sàng lớn, giúp sàng lọc và bảo hộ Tăng đoàn, bởi “ngọc quý thì ít, cát đất thì nhiều”. Chính giới luật tạo nên chuẩn mực chung để mọi người cùng nương tựa, cùng tiến tu và cùng gìn giữ sự thanh tịnh của Tăng-già. Nhìn thẳng vào thực trạng quản lý Tăng Ni hiện nay, Hòa thượng chỉ rõ: “Qua số liệu nhiều năm gần đây, số lượng giới tử được truyền giới rất lớn, nhưng số lượng Tăng Ni thực tế lại có nhiều biến động. Điều đó cho thấy những thách thức không nhỏ trong công tác đào tạo, quản lý và giữ gìn lý tưởng xuất gia. Đây không chỉ là vấn đề của riêng Ban Tăng sự mà còn là trách nhiệm trực tiếp của mỗi vị trụ trì”.

Theo Hòa thượng: “Muốn quản lý người khác, trước hết phải quản trị được chính mình”, vì vậy, “quản trị tâm ý” cũng là nội dung được Hòa thượng đặc biệt nhấn mạnh. Dẫn lại hình ảnh quen thuộc trong kinh điển: “tâm viên ý mã”, Hòa thượng phân tích sự chuyển hóa từ “ý là ma” sang “ý là Phật”, từ tình thức vọng động sang trí tuệ giác ngộ. Khi người trụ trì không làm chủ được nội tâm thì rất dễ bị bản ngã, cảm xúc và tham vọng chi phối, kéo theo những bất ổn trong tự viện và Tăng đoàn. Bên cạnh đó, Hòa thượng còn phân tích bốn phương pháp giáo hóa được các bậc Tổ đức vận dụng là Quyền giáo, Tiệm giáo, Trực giáo và Đốn giáo, cho thấy người lãnh đạo Tăng đoàn không chỉ giữ giới, mà còn phải biết vận dụng phương tiện thiện xảo phù hợp với từng căn cơ, từng hoàn cảnh giáo hóa.
Ngoài ra, trong khuôn khổ của khóa BDTT, Hòa thượng cũng tha thiết nhắc nhở người xuất gia Khất sĩ, đặc biệt là những vị trụ trì, không được an phận với những thành tựu hiện có mà quên mất chí nguyện ban đầu: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa quần sanh”. Theo Hòa thượng, sự nghiệp của người tu không phải là xây dựng chùa lớn, tháp cao, hay sở hữu nhiều cơ sở vật chất, mà là thành tựu trí tuệ và chuyển hóa nội tâm. Ở góc nhìn giới luật, Hòa thượng nêu rõ mười hai yếu tố cấu thành tội và luật như danh, chủng, thời duyên, tánh tướng, khai, trì, giá, phạm… qua đó cho thấy, giới luật không phải là những điều khoản cứng nhắc, mà luôn được vận dụng bằng trí tuệ và lòng từ bi.

Từ Chơn lý của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, Hòa thượng cũng nhắc lại các cấp độ trì giới, từ giữ một giới cho đến giữ trọn giới Tỳ-kheo, để thấy rằng, lòng từ bi ngày càng được mở rộng, không chỉ bảo vệ con người mà còn trân trọng mọi sự sống và môi trường thiên nhiên. Đây cũng là nét đẹp đặc trưng trong tinh thần Khất sĩ: lấy giới luật làm phương tiện nuôi lớn tình thương và trí tuệ.
Đề cập đến vai trò của vị trụ trì trong bối cảnh mới, Hòa thượng cho rằng, người lãnh đạo tự viện hôm nay phải đối diện với nhiều áp lực hơn các thế hệ trước: sự phát triển của công nghệ, mạng xã hội, những biến động của đời sống xã hội và những yêu cầu ngày càng cao trong quản trị tự viện. Tuy nhiên, điều đáng sợ không phải là sự thay đổi của hoàn cảnh, mà là sự thiếu bản lĩnh và thiếu tầm nhìn.

Trong phần thảo luận, trước câu hỏi làm thế nào để vừa hội nhập với Giáo hội vừa giữ được bản sắc Khất sĩ, Hòa thượng khẳng định: “Không nên sợ mất bản sắc, mà chỉ nên sợ mình không đủ trí tuệ để diệu dụng chánh pháp. Khi người trụ trì giữ vững lý tưởng chơn tu thì mọi sự thích ứng đều trở thành phương tiện phụng sự đạo pháp”.
Khép lại thời pháp, Hòa thượng dẫn lời Quốc sư Đại Đăng để nhắc nhở đại chúng: “Trọng trách của người trụ trì cũng như tảng đá vô hình, người đời không thấy, nhưng ai bước vào trọng trách ấy mới cảm nhận hết sức nặng của nó. Đó không chỉ là việc chăm lo một ngôi tự viện, hướng dẫn một đại chúng, mà còn là trách nhiệm hộ trì chánh pháp và tiếp nối mạng mạch Tăng-già. Trách nhiệm càng lớn thì càng phải trở về với nội tâm. Phật sự càng nhiều, lòng càng phải giữ phần tịch tịnh. Không ai đánh mất mình chỉ vì một biến cố lớn, mọi sự đổ vỡ thường bắt đầu từ những niệm khởi rất nhỏ mà ta vô tình dung dưỡng. Do đó mới thấy giá trị của giới luật. Giới luật không làm trách nhiệm nhẹ đi, không khiến đường đời bớt phần gai góc, nhưng giữ cho người mang trọng trách không bị lật nhào trước sóng gió nhân gian. Khi sự dấn thân được đặt trên nền tảng của giới hạnh và chánh niệm tỉnh thức, điều từng là áp lực sẽ hóa thành tháp báu nâng đỡ cả một đời tu”.
Một số hình ảnh được ghi nhận:



































































