Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang PL.2570: Hòa thượng Minh Bửu giảng về con đường thấu triệt tánh giác, trở về chân tâm

Đối với con đường tu học của người Khất sĩ, học không nhằm tích lũy tri thức, nói không nhằm thêm ngôn từ, luận không nhằm thắng biện, học để trở về tự tâm, nói để khai mở tự tánh, luận để đoạn trừ chấp trước. Như Đức Tổ sư Minh Đăng Quang từng khẳng định trong bộ Chơn Lý: "Đạo là sống", là sự hiện hữu khi được thực chứng ngay nơi đời sống hiện tiền.

Chính từ tinh thần ấy, HT. Minh Bửu – UVTT HĐTS, Phó Trưởng Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái kiêm Trưởng ban Tăng sự Hệ phái, Tri sự phó GĐ.IV PGKS, trụ trì Pháp viện, nhân buổi giảng thứ bảy tại khóa ACKH PL.2570 Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), trong sáng 04/08/2025 (22/06/Bính Ngọ), đã mở đầu thời pháp với khẳng định: "Ngôn ngữ và văn tự chỉ là phương tiện, tuyệt đối không phải là cứu cánh. Ngôn ngữ, văn tự bản chất là các pháp hữu vi, hình thành do sự hòa hợp của nhiều nhân duyên. Đã là pháp hữu vi thì luôn chịu sự chi phối của quy luật biến đổi, sanh diệt. Do đó, nếu người học Phật vướng mắc vào ngôn từ mà không thấu đạt ý lý rốt ráo thì sẽ rơi vào sai lầm".

Với chủ đề "Thấu triệt bản thể Tánh giác qua các giai thoại Thiền môn", Hòa thượng nhắc lại lời dạy nổi tiếng trong kinh điển: "Thủy tùng thành đạo, hậu trung chí Bát-niết-bàn, ư kỳ trung gian, quảng thuyết nhất tự" - Nghĩa là: "Từ khi thành đạo cho đến khi vào Niết-bàn, trong khoảng thời gian đó, Ta chưa từng nói một chữ". Có thể thấy, lời dạy ấy không phủ nhận giáo pháp, mà chỉ rõ bản chất của giáo pháp rằng, chữ nghĩa vốn thuộc hữu vi, âm thanh chỉ là duyên khởi, văn tự chỉ là chiếc bè đưa người qua sông. Vì vậy, nếu chấp vào lời mà quên ý, bám vào ngón tay mà quên mặt trăng, thì càng học càng xa đạo.

Từ đó, Hòa thượng triển khai nguyên lý "Y pháp bất y nhân" dưới góc nhìn Thiền học: "Thân này biến đổi từng sát-na, tâm vọng niệm cũng sinh diệt không ngừng. Có sinh thì có diệt, có hợp thì có tan. Song, ngay nơi dòng biến dịch ấy vẫn hiện hữu một thực thể chưa từng sinh, chưa từng diệt, không đến, không đi, không thêm, không bớt, đó chính là Tánh giác”. Theo Hòa thượng, người tu không phải tìm kiếm một điều gì mới mẻ bên ngoài, mà là nhận ra cái vốn sẵn nơi chính mình. Trong hệ tư tưởng phát triển và Thiền tông, việc "phá tướng" là để hiển lộ "bản thể". Sanh tử thuộc hiện tượng, chân tâm thuộc bản thể, hữu tướng thuộc thế giới đối đãi, vô tướng thuộc pháp giới bình đẳng, khi liễu đạt được bản thể ấy thì giữa mọi đổi thay của cuộc đời, tâm người hành giả vẫn an nhiên như như.

Hòa thượng nhấn mạnh: "Kinh điển đã chỉ rõ: ‘Chúng sanh tức là Phật, Phật và chúng sanh đồng một tánh thể’.", qua đó chỉ rõ: "Một khi nhận ra bản thể đồng nhất ấy, người hành giả vẫn sống giữa sáu căn tiếp xúc sáu trần, nhưng không còn bị sáu trần lôi kéo; vẫn làm Phật sự giữa cuộc đời mà không để cuộc đời làm mất chánh niệm". Hòa thượng khẳng định, tất cả các pháp môn và kinh điển Phật dạy đều hướng đến một mục đích duy nhất là giải thoát và giác ngộ. Phương tiện tu tập thì vô lượng, nhưng mục tiêu rốt ráo chỉ có một. Người tu học mượn phương tiện để đạt mục đích, nhưng khi đã nắm được bản thể thì không được chấp nhặt vào phương tiện.

Đi sâu hơn vào vai trò của tâm, Hòa thượng dẫn lại câu kệ mở đầu Kinh Pháp Cú: "Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo". Rõ ràng, từ một niệm khởi lên mà thành thiện ác, từ một niệm phân biệt mà mở đầu luân hồi, cũng từ một niệm giác ngộ mà hiển lộ Niết-bàn. Vì vậy, mọi hành động, lời nói, ý nghĩ đều không rời tâm. Kinh văn ghi rõ: "Nhất thiết pháp do tâm sanh", cũng lại nói: "Nhất thiết duy tâm tạo", Hòa thượng giảng giải: "Chân tâm vốn vô tướng, không có nơi chốn, không hình sắc, không thể dùng ý thức phân biệt để nắm bắt. Chính vì vô trụ nên mới hiện hữu khắp nơi, chính vì vô tướng nên mới diệu dụng vô cùng. Ngược lại, nếu người tu không xác chứng hay an trú được vào chân tâm thì tất yếu phải sống bằng vọng tâm, tức tâm phân biệt, tâm chấp thủ, tâm bị dẫn dắt bởi tham - sân - si. Chừng nào còn vận hành bằng vọng thức, chừng ấy vòng quay sinh tử vẫn chưa dừng lại".

Để làm sáng tỏ giáo lý ấy, Hòa thượng lần lượt dẫn nhiều giai thoại Thiền môn nổi tiếng. Đơn cử như:

"Bóng do hình mà có,
Âm vang do tiếng mà nên.
Nhập hình đùa với bóng làm hai,
Chẳng biết nguồn danh là đón phiền não...
Bởi có lý nên bàn cãi,
Lẽ không tên lại đặt ra tên
".

Hòa thượng chỉ rõ: "Người đời thường bỏ hình tìm bóng, chạy theo hiện tượng duyên sinh sanh diệt mà quên mất bản thể chân thật. Việc cần làm không phải là chạy trốn cảnh duyên hay tìm kiếm Niết-bàn bên ngoài, mà là sống diệu dụng ngay trong thực tại mà không bị vướng mắc".

Xuyên suốt thời pháp, Hòa thượng không chỉ luận giải Thiền tông, mà còn khéo léo kết nối với lý tưởng tu học của Hệ phái Khất sĩ. Theo Hòa thượng, mọi pháp môn tuy phương tiện sai khác, nhưng cứu cánh chỉ có một là giác ngộ và giải thoát. Người học đạo phải biết nương phương tiện để đạt cứu cánh, chứ không biến phương tiện thành đối tượng chấp thủ.

Khép lại thời pháp thoại, Hòa thượng Minh Bửu mượn lời Pháp sư Giác Viên để sách tấn đại chúng: "Mỗi người có sẵn đèn lòng, tự mình soi lấy chớ trông tìm ngoài. Đừng ỷ lại vào Thần, Tiên, Hiệp, Thánh...". Đó cũng là lời nhắc nhở sâu sắc dành cho người hành giả trong mùa An cư, giữa mọi thời khóa tụng niệm, học pháp hay thiền quán, điều quan trọng nhất vẫn là biết quay về tự tâm, nhận diện chân tâm ngay nơi từng bước chân, từng hơi thở, từng lần sáu căn tiếp xúc sáu trần. Khi không còn quên mình chạy theo cảnh, khi bản thể và hiện tượng không còn là hai, ấy chính là lúc tánh giác hiển bày giữa đời sống thường nhật.

 

Một số hình ảnh được ghi nhận: