CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Nhân minh

“Nhân Minh” là dịch nghĩa từ Phạn ngữ Hetuvidya, là một trong “ngũ minh” cổ Ấn Độ (tức Nội minh, Y minh, Thanh minh, Nhân minh, Tinh xảo minh), tương đương với lô-gích học ngày nay. Cái gọi là “nhân” tức chỉ lý do căn cứ của sự suy lý ; Cái gọi là “minh” tức là tri thức, trí huệ do suy lý mà đạt được. “Nhân Minh” là môn học thông qua sự quan hệ giữa ba chi Tôn, Nhân, Dụ mà tiến hành suy lý luận chứng. Trong ba chi, “nhân” là bộ phận chủ yếu, cho nên học thuyết này ở cổ Ấn Độ gọi là “Nhân Minh”. Nội dung của Nhân Minh tương đương lô-gích học, nhưng không phải hoàn toàn giống như lôgích học, nó chủ yếu bao quát hai bộ phận lôgích học và nhận thức luận (cổ Ấn Độ gọi là “lượng luận”). Trong bộ phận lô-gích học chủ yếu nghiên cứu một số quy tắc suy lượng lôgích và thường xuất hiện sự sai lầm của lôgích. Những điều mà quy tắc lôgích đề cập đến là ba chi Tôn, Nhân, Dụ không thể thiếu được trong suy lượng lôgích và mối quan hệ lôgích giữa ba chi này, chủ yếu có “nhân tam tướng”, “cửu cú nhân”, “hợp” và “li” v.v… Còn về việc nghiên cứu sự sai lầm của lôgích thì thông thường được gọi là “quá thất luận”, lỗi về Tôn gọi là “tự Tôn”, lỗi về Nhân gọi là “tự Nhân”, lỗi về Dụ gọi là “tự Dụ”, những lỗi này gồm có : “Tôn có 9 lỗi”, “Nhân có 14 lỗi”, “Dụ có 10 lỗi” v.v… Trong phần nhận thức luận lại nghiên cứu hiện lượng và tỷ lượng, chủ yếu cũng chính là nghiên cứu trực giác nhận thức và suy lý nhận thức.

Học thuyết Nhân Minh cổ Ấn Độ khởi nguyên ở thuật biện luận. Ấn Độ là một nước có nền văn minh cổ đại, rất sớm đã xuất hiện nhiều tông phái Triết học Tôn giáo. Giữa các tông phái Triết học Tôn giáo, vì để chỉ rõ sự sai lầm học thuyết của học thuyết đối phương, chứng minh học thuyết của mình chính xác, nên đã hình thành tập quán cùng nhau biện luận. Trong quá trình biện luận lâu dài này, đã dần dần hình thành hình thức suy lý nhất định. Trong đó, đối với Nhân Minh cống hiến nhiều nhất là phái Chánh Lý, phái này đã tiến hành chuyên môn nghiên cứu đối với vấn đề Nhân Minh, đã trước tác sách “Chánh lý kinh”, cấu thành lý luận Nhân Minh có hệ thống và là sự tổng kết tư tưởng lôgích cổ Ấn Độ sớm nhất. Nhân Minh cổ Ấn Độ lấy “ngũ chi tác pháp” làm trung tâm, bước đầu quy nạp ra quy tắc cơ bản suy lý chính xác và cùng với nguyên nhân suy lý sai lầm. “Ngũ chi tác pháp” tức là Tôn, Nhân, Dụ, Hợp, Kết. “Tôn” là luận đề, “Nhân” là lý do suy luận, “Dụ” là ví dụ chứng minh, “Hợp” là ứng dụng, “Kết” là kết luận. “Chi” tức là bộ phận, cho rằng luận thức suy luận Nhân Minh hoàn chỉnh là nên bao quát 5 phần Tôn, Nhân, Dụ, Hợp, Kết. Hình thức suy lý này trên trình độ lớn, còn có tính chất loại tỷ suy lý, và về sau với sự phát triển mở rộng Nhân Minh học của Bồ tát Trần Na và Bồ tát Pháp Xưng còn có nhiều chỗ sai biệt rất lớn, cho nên cổ đại Trung Quốc gọi đó là “Cổ Nhân Minh”.

Sau khi Phật giáo xuất hiện, do sự cần thiết của sự biện luận đối nội đối ngoại, và từng bước đem phương pháp Nhân Minh dẫn nhập vào lý luận Phật giáo. Như Tiểu thừa Phật giáo thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, đối với Nhân Minh có thái độ khẳng định, nhưng Phật giáo thời kỳ đầu hoàn toàn không có ý lợi dụng nghiên cứu Nhân Minh, mãi cho đến thế kỷ thứ 2 sau khi Phật giáo Đại thừa xuất hiện, nội bộ Phật giáo đối với việc sử dụng Nhân Minh vẫn còn có thái độ hoàn toàn không giống nhau.

Ngài Long Thọ Bồ tát, người sáng lập học phái Trung Quán Đại thừa Phật giáo, đối với học thuyết lôgích học của phái Chánh Lý hoàn toàn có thái độ phủ định, Ngài đã trước tác “Hồi tịnh luận”, chủ yếu phá bỏ “lượng” và “sở lượng” của phái Chánh Lý ; lại trước tác “Quảng phá luận” bác bỏ 16 câu nghĩa của phái Chánh Lý ; và trước tác “Trung Luận” dùng phương pháp “song khiển” để luận chứng giáo nghĩa Trung Quán phi hữu phi không của Phật giáo, phản đối việc sử dụng Nhân Minh. Nhưng đến thời kỳ thanh biện, học phái Trung Quán đã hình thành một hệ thống cho chính mình, trong các sáng tác của học phái đã sử dụng rộng rãi nguyên tắc suy lý của Nhân Minh. Thế kỷ thứ 4, Phật giáo Ấn Độ đã hình thành phái Du Già Hạnh, tiêu biểu như Bồ tát Vô Trước và Bồ tát Thế Thân, dần dần hấp thu và phát triển lý luận cổ Nhân Minh, khiến Nhân Minh trở thành một công cụ chủ yếu để bác bỏ lý luận những tông phái khác và dùng để tuyên truyền giáo nghĩa của chính mình. Như Bồ tát Thế Thân tương truyền đã từng trước tác ba bộ Nhân Minh như : “Luận quỹ”, “Luận thức”, “Luận tâm”, rất tiếc đã bị thất lạc không còn ; Bồ tát Vô Trước trong “Thuận Trung Luận” cũng đã áp dụng phương pháp suy lý của Nhân Minh. Nhưng Nhân Minh trong thời kỳ này, bản chất cùng với phương pháp Nhân Minh của phái Chánh Lý cũng không có gì sai biệt lắm, trên hình thức suy lý vẫn áp dụng “ngũ chi tác pháp” của phái Chánh Lý, cho nên cổ đại Trung Quốc cũng gọi đó là “cổ Nhân Minh”.

Đến thế kỷ 5-6, nhà duy thức học nổi tiếng Bồ tát Trần Na, thông qua nghiên cứu cổ Nhân Minh, trên cơ bản trước kia đối với việc cấu thành Nhân Minh và hình thức suy lý đã tiến hành sự cải cách rất quan trọng. Ngài đã trước tác tám bộ luận Nhân Minh : “Quán tam thế luận”, “Quán tổng tướng luận”, “Nhân môn luận”, “Tự nhân môn luận”, “Lý môn luận”, “Thủ lý thi thiết luận”, “Tập lượng luận”, “Nhân luân luận”. Đổi “Cửu câu nhân” của “Cổ Nhân Minh” thành “Nhân tam tướng” tức là “Biến thị tôn pháp tánh”, “Đồng phẩm định hữu tánh” và “Dị phẩm biến vô tánh”. “Biến thị tôn pháp tánh” nghĩa là nhấn mạnh tính chất mà từ trong “nhân” đưa ra nhất thiết phải là chư pháp phổ biến vốn có ở trong “Tôn”, vấn đề có liên quan đến là tính chu diên của khái niệm. “Đồng phẩm định hữu tánh” nghĩa là tính chất mà “nhân” đưa ra nhất định phải chung có trong sự vật đồng loại. “Dị phẩm biến vô tánh” nghĩa là cái tính chất mà “nhân” đưa ra nhất định không có trong sự vật khác loại. Phương pháp như vậy thì bảo đảm tính chính xác của “nhân”. Bồ tát Trần Na tiến tới lấy “ngũ chi tác pháp” Tôn, Nhân, Dụ, Hợp, Kết của “cổ Nhân Minh” đổi thành “tam chi tác pháp” Tôn, Nhân, Dụ, cho rằng hai chi Hợp, Kết trong “ngũ chi tác pháp” trên thực tế tức là trùng lập với ba chi trước, chỉ cần có đầy đủ ba chi : tôn, nhân, dụ thì có thể bảo đảm tính chính xác của suy lý, và có thể bảo đảm tính tất nhiên lôgích của suy lý. Sự cải biến hình thức suy lý của Nhân Minh này, từ suy lý loại tỷ phát triển thành suy lý diễn dịch. Đây chính là sự cống hiến trọng đại của Bồ tát Trần Na đối với Nhân Minh học, Nhân Minh sau khi được Ngài cải tiến, được gọi là “Tân Nhân Minh”. Vì thế Bồ tát Trần Na được xưng là cha của nền lôgích học trung thế kỷ.

Đến thế kỷ thứ 7, Ngài Pháp Xưng kế thừa tư tưởng “Tập lượng luận” của Bồ tát Trần Na, đối với Nhân Minh của Ngài Trần Na, Ngài Pháp Xưng lại cải sửa thêm, từ đó Nhân Minh học được phát triển mạnh hơn. Ngài Pháp Xưng trước tác có : “Lượng bình thích luận”, “Lượng quyết trạch luận”, “Chánh lý trích luận”, “Nhân luận nhất trích luận”, “Quán tướng thuộc luận”, “Luận nghĩa chánh lý luận”, “Thành tha tướng tục luận”, và phẩm “Vi tự bỉ lượng của Lượng bình thích luận”, Ngài sửa thứ tự ba chi Tôn, Nhân, Dụ của Nhân Minh học thành Dụ, Nhân, Tôn và cho rằng thể Tôn có thể bỏ bớt. Sự sửa đổi cải biến này làm cho Nhân Minh của Ngài và Nhân Minh của Ngài Trần Na có chỗ không đồng, khiến cho trên hình thức sự suy lý Nhân Minh cùng với hình thức tam đoạn luận pháp của lôgích càng thêm gần gũi, cùng với phương thức tư duy của người bình thường càng hướng đến sự nhất trí, thống nhất hoạt động tư duy và biểu đạt ngôn ngữ của con người. Ngài còn lấy hai chi Nhân, Dụ trong “tam chi” hợp lại thành một, từ đó khiến cho Nhân Minh trở thành suy lý diễn dịch thuần tuý. Sau này, Nhân Minh trở thành một trong những học thuyết trọng yếu của phái Du Già Hạnh, mãi đến khi nhận được sự truyền thừa của nội bộ Phật giáo. Học thuyết này theo sự phát triển và truyền bá của Phật giáo đã truyền vào nội địa Trung Quốc và Tây Tạng, khu vực lưu hành Phật giáo Tạng truyền, càng được tiến thêm một bước nghiên cứu và phát triển.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan