Ni giới GĐ.III PGKS: Tám tiêu chuẩn nhận diện Chánh pháp qua lời giảng của TT. Giác Phổ tại khóa tu lần thứ 23

Trong khuôn khổ khóa “Sống chung tu học” lần thứ 23 của Ni giới GĐ.III PGKS, sáng 28/09/2026 (18/08/Bính Ngọ), tại Tịnh xá Ngọc Chánh (Đắk Lắk), TT. Giác Phổ – Phó Thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đắk Lắk, Phó trưởng ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS đã có thời pháp thoại với phương pháp tương tác trực tiếp, kết hợp ôn lại một số dấu mốc lịch sử Phật giáo với việc triển khai 8 tiêu chuẩn nhận diện chánh pháp được Đức Phật chỉ dạy bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề.

Mở đầu buổi giảng, Thượng tọa bày tỏ niềm hoan hỷ khi nhìn thấy chư vị Trưởng lão Ni dù tuổi đã cao, vẫn miên mật hiện diện, tham dự khóa tu và làm điểm tựa tinh thần cho thế hệ Tăng Ni, Phật tử. Sự hiện diện ấy, theo tinh thần thời pháp, thể hiện sự quan tâm đối với khóa tu và cho thấy giá trị của một đời tu được tiếp nối qua sự hiện diện, chứng minh và dìu dắt thế hệ sau.

Từ phương pháp tương tác, TT. Giác Phổ đã mở đầu bằng cách đặt ra nghi vấn: “Ai là nữ cư sĩ đầu tiên quy y Tam bảo trong chánh pháp?”. Câu hỏi tưởng như quen thuộc, nhưng qua đó, Thượng tọa giúp đại chúng phân biệt những nhân vật thường dễ bị nhầm lẫn trong lịch sử Phật giáo. Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề (Gotami) là người nữ xuất gia đầu tiên, mở đầu cho Ni đoàn, nhưng không phải nữ cư sĩ tại gia đầu tiên. Nàng Tu-xà-đa (Sujata), người dâng bát cháo sữa đến Bồ-tát trước khi Ngài thành đạo dưới cội Bồ-đề, cũng không phải đáp án, bởi như Thượng tọa chỉ rõ, thời điểm ấy chánh pháp và Tam bảo chưa được thiết lập.

Vị nữ cư sĩ đầu tiên được Thượng tọa xác định là thân mẫu của Ngài Gia-xá (Yasa). Từ câu chuyện Gia-xá, một thanh niên xuất thân trong gia đình giàu có, nhưng nhận ra sự phù phiếm của đời sống hưởng thụ, rời bỏ cảnh sống thế tục để tìm con đường giải thoát, Thượng tọa nêu lại bối cảnh Đức Phật độ Gia-xá chứng quả. Sau đó, cha mẹ Gia-xá đi tìm con, được nghe Đức Phật thuyết pháp và phát tâm quy y Tam bảo. Từ đây, vị thân mẫu của Gia-xá được ghi nhận là nữ cư sĩ đầu tiên quy y trong chánh pháp.

Liên hệ đến việc xác định thời điểm Tam bảo được xác lập, TT. Giác Phổ tiếp tục đặt ra nghi vấn: “Làm thế nào để nhận diện đâu là chánh pháp và đâu là pháp hành đưa người tu đi lệch khỏi mục tiêu giải thoát?”, qua đó triển khai 8 tiêu chuẩn được Đức Phật chỉ dạy bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề, xem đây như những thước đo để người học Phật tự kiểm chứng con đường mình đang đi.

Thứ nhất là ly tham. Thượng tọa chỉ rõ, pháp hành chân chính phải đưa người tu đến sự nhàm chán đối với tham ái, làm phai nhạt sự ham muốn và giảm bớt tâm bám víu, chứ không làm cho lòng tham ngày càng tăng trưởng. Từ tiêu chuẩn này, Thượng tọa nhắc lại lời dạy của chư Tôn đức Hòa thượng lãnh đạo: “Đừng vì sự thành công trước mắt mà làm hư đi cái tâm của mình”. Theo đó, thành công trong việc xây dựng, hay phát triển một cơ sở, nếu đồng thời khiến người tu tăng trưởng tâm chấp trước, tự hào, hay phô trương, thì cần phải nhìn lại giá trị của sự thành công ấy.

Thứ hai là giải thoát, buông xả. Đức Phật dạy, chánh pháp phải đưa người tu đến sự rời bỏ và xả ly, không làm phát sinh thêm tâm chấp thủ. Từ đây, Thượng tọa lưu ý người tu không nên biến chùa chiền, tài vật, công việc Phật sự, hay thậm chí đệ tử, thành đối tượng để khởi lên ý niệm “của tôi”. “Hình thức có thể thuộc về đời sống tu hành, nhưng nếu tâm vẫn bị trói buộc bởi sở hữu và ngã chấp thì mục tiêu giải thoát chưa được thực hiện”, Thượng tọa khẳng định.

Thứ ba là giảm thiểu. Như lời Phật dạy, tu học phải làm cho các cấu uế, phiền não, bực bội và những chất chứa trong nội tâm ngày càng rơi rụng, đây cũng là phép tự kiểm quan trọng. Theo TT. Giác Phổ, sau một thời gian tu học, bản thân người tu phải tự dành thời gian chất vấn nội tâm, xem liệu những điều khiến bản thân nóng giận, bất mãn, hơn thua có giảm đi hay không? Nếu những thứ ấy ngày càng tích tụ thì người tu cần quay lại soi xét chính mình.

Thứ tư là thiểu dục. Đức Phật dạy, người tu cần sống đơn giản, ít muốn, không để nhu cầu vật chất liên tục phát sinh rồi trở thành những đòi hỏi ngày càng lớn. Đời sống xuất gia vốn hướng đến sự giản dị, vì vậy, sự gia tăng của tiện nghi không thể tự thân trở thành thước đo của đời sống tu học.

Thứ năm là tri túc. Biết đủ là một năng lực quan trọng của người tu, như lời Đức Phật dạy, khi biết đủ, hành giả không bị cuốn theo sự so sánh, đua đòi, hay bất mãn với những gì đang có. Ngược lại, nếu tâm luôn cảm thấy thiếu thốn, luôn mong muốn điều kiện bên ngoài phải tốt hơn thì sự bất an cũng từ đó phát sinh.

Liên hệ với đời sống cúng dường, TT. Giác Phổ nhắc cư sĩ tùy theo hoàn cảnh kinh tế của gia đình mà phát tâm Trai Tăng với tâm hoan hỷ, không nên vì hình thức mà vay mượn, cố gắng quá sức để tạo nên một sự cúng dường vượt quá khả năng. Việc cúng dường cần xuất phát từ tâm chân thành và phù hợp với hoàn cảnh, thay vì trở thành áp lực vật chất.

Ở chiều ngược lại, người xuất gia khi tiếp nhận Tứ sự cũng cần giữ tâm thanh tịnh, không nhìn vào tịnh tài, tịnh vật, không so sánh nhiều ít, càng không để sự khác biệt về vật chất ảnh hưởng đến tâm thái của mình.

Thứ sáu là độc cư, viễn ly. Theo tinh thần này, người tu cần biết tránh những sự tụ tập không đem lại lợi ích cho đời sống Phạm hạnh, nhất là việc bàn tán chuyện thế sự, thị phi. Thượng tọa đặc biệt lưu ý Tăng Ni trẻ trước sức hút của các phương tiện truyền thông và mạng xã hội như điện thoại thông minh, Zalo, Facebook, TikTok, khi nhận định: “Công nghệ tự nó không phải vấn đề, điều đáng quan tâm là người sử dụng chúng có đang làm chủ phương tiện, hay đang để phương tiện chi phối đời sống tu học”.

Thứ bảy là tinh cần, tinh tấn. Thượng tọa khẳng định, chánh pháp không đưa con người đến biếng nhác, hay trì trệ. Như vậy, người tu cần siêng năng thực hành theo thời khóa, chuyên cần học pháp, hành trì và làm các Phật sự cần thiết, không tìm lý do để thoái thác, hoặc lười biếng công quả. Theo Thượng tọa, tinh tấn cần được nhìn nhận như một nếp sống thường xuyên chứ không phải sự nỗ lực chỉ trong một thời điểm nhất định.

Thứ tám là dễ nuôi dưỡng. Theo đó, người tu cần có đời sống đơn giản, hòa hợp, không kén chọn và không đặt ra quá nhiều yêu cầu cho người hộ trì. Thượng tọa chỉ rõ: “Nhà bếp cúng dường món gì thì hoan hỷ thọ nhận món ấy, không chê khen, không so đo khẩu vị. Sự dễ nuôi dưỡng sẽ giúp đời sống đại chúng nhẹ nhàng, đồng thời cũng phản ánh mức độ buông xả và tri túc của người xuất gia”.

Từ 8 tiêu chuẩn trên, Thượng tọa đưa giáo pháp trở về với đời sống cụ thể. Laptop, điện thoại, hay những phương tiện công nghệ khác, có thể trở thành công cụ hữu ích cho việc nghiên cứu kinh điển, học tập và hoằng pháp. Tuy nhiên, khi phương tiện trở thành đối tượng khiến người sử dụng lo sợ mất mát, lệ thuộc, hoặc phát sinh tâm chấp thủ, thì chính phương tiện ấy đã trở thành một sự ràng buộc.

Vì vậy, Thượng tọa khuyến tấn: “Điều cần giữ gìn chính là sự tự do trong tâm. Người tu có thể sử dụng phương tiện, nhưng không để phương tiện sử dụng ngược lại mình; có thể tiếp nhận vật chất, nhưng không để vật chất trở thành đối tượng của tham ái; có thể xây dựng cơ sở, hoằng pháp, phụng sự, nhưng không để những thành quả ấy trở thành nguyên nhân làm lớn thêm cái tôi”.

Từ lịch sử Phật giáo đến những vấn đề rất gần với đời sống hôm nay, thời pháp của TT. Giác Phổ đã đưa 8 tiêu chuẩn nhận diện chánh pháp trở thành một phương pháp tự soi chiếu, giúp mỗi hành giả kiểm chứng ngay trong cách sống, cách sử dụng vật chất, cách tiếp nhận sự cúng dường, cách ứng xử với đại chúng và khả năng làm nhẹ đi tham ái, chấp thủ trong chính mình.

Khép lại thời pháp, Thượng tọa khuyến tấn đại chúng thường xuyên trở về với 8 tiêu chuẩn này như một phép tự kiểm trong đời sống tu học: “Pháp mình đang học có làm tâm bớt tham không, có giúp mình buông xả hơn không, có làm phiền não giảm xuống không, có đưa mình đến thiểu dục, tri túc, viễn ly, tinh tấn và dễ nuôi dưỡng hơn không? Đó cũng là cách người tu gìn giữ lý tưởng xuất gia ban đầu, không để hình thức đi trước nội tâm, đồng thời giữ cho đời sống ‘Sống chung tu học’ thực sự trở thành môi trường nuôi dưỡng chánh pháp qua từng hành động, từng lựa chọn và từng chuyển hóa nơi mỗi người”.

 

Một số hình ảnh được ghi nhận: