Sáng 26/08/2026 (14/07/Bính Ngọ), trong khuôn khổ Đại lễ Tự tứ Tăng – Vu lan bồn PL.2570 tại Tịnh xá Ngọc Liên (phường Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau), chư Tôn đức Tăng Ni GĐ.I PGKS đã trang nghiêm thực hành trì bình khất thực sau thời khóa thiền tập buổi sáng, tái hiện một pháp hành đã đi cùng đời sống Tăng đoàn từ thời Đức Phật và được Đức Tổ sư Minh Đăng Quang tiếp nối trong dòng truyền thừa Khất sĩ.

Trong đời sống Tăng đoàn thời Đức Phật, khất thực là phương thức thọ nhận vật thực để duy trì thân mạng, nhưng ý nghĩa của pháp hành này thực chất vượt khỏi nhu cầu sinh tồn. Người xuất gia ôm bát, đi từng bước khoan thai trong chánh niệm, thọ nhận vừa đủ, không đòi hỏi, không lựa chọn và không phân biệt người cúng dường. Qua đó, hành giả rèn luyện nếp sống thiểu dục, tri túc, khiêm cung và xả ly. Đây cũng chính là pháp tu của người Khất sĩ, là sự trở về với nếp sống Sa-môn, nơi người tu không lấy việc tích lũy vật chất làm chỗ nương tựa mà hướng đến sự thanh tịnh của thân tâm. Trong truyền thống PGKS, tinh thần ấy được Đức Tổ sư Minh Đăng Quang tiếp nối và khôi phục qua chí nguyện “Nối truyền Thích-ca chánh pháp”.
Điểm đáng chú ý của hạnh khất thực nằm ở mối quan hệ tương duyên giữa người xuất gia và người tại gia. Đối với người tu, thọ nhận phẩm vật là một bài học về tri túc và không tham. Đối với người cư sĩ, thành kính đặt vật phẩm vào bình bát là cơ hội thực tập bố thí, buông xả và hộ trì Tam bảo. Người tại gia tạo điều kiện vật chất để chư Tăng Ni an tâm tu học; người xuất gia giữ gìn giới hạnh, thực hành Chánh pháp và trao truyền giáo pháp, trở thành điểm tựa tinh thần cho cộng đồng.

Tinh thần này được cô đọng qua hai câu:
“Pháp khất thực dạy người bố thí,
Cùng dạy mình chơn lý không tham”.
Hai câu kệ, xét về phương diện thực hành, xác lập khá rõ hai chiều của pháp hành: người trao học cách mở lòng, người nhận học cách không dính mắc. Bởi bố thí sẽ mất đi chiều sâu nếu người cho chỉ chú trọng vào phần phước mình nhận lại; và đời sống khất thực cũng mất ý nghĩa nếu người nhận để tâm chạy theo lựa chọn, ưa thích hay đòi hỏi. Khi cả hai bên cùng giữ được tâm thanh tịnh, việc cho - nhận trở thành một pháp tu.

Đặc biệt, trong mùa Vu lan báo hiếu, những phẩm vật được thành kính đặt vào bình bát không chỉ mang giá trị hộ trì đời sống Tăng đoàn, mà còn chuyên chở tâm niệm tri ân và báo ân của người Phật tử. Có người phát tâm hồi hướng cho cha mẹ hiện tiền, cầu nguyện cha mẹ được tăng long phước thọ, thân tâm an lạc; có người tưởng nhớ song thân đã quá vãng; có người hướng tâm đến ông bà, Tổ tiên, cửu huyền thất Tổ và những người thân đã khuất.
Phẩm vật có thể giản dị, nhưng ý nghĩa của sự dâng cúng nằm ở chỗ tâm cung kính của người trao và tâm thanh tịnh của người nhận. Từ góc nhìn ấy, hạnh khất thực trong mùa Vu Lan tạo nên một vòng tròn đẹp của đạo lý: người xuất gia tu tập để giữ gìn ruộng phước, người tại gia hộ trì để vun bồi thiện nghiệp, công đức ấy được hồi hướng đến cha mẹ và những người mình thương kính.

Trong xã hội hiện đại, khi con người ngày càng quen với sự tiện nghi và chủ động lựa chọn mọi thứ theo sở thích cá nhân, hình ảnh một người xuất gia đi khất thực lại gợi lên một giá trị có phần ngược chiều với thói quen ấy: biết đủ và biết nhận những gì cuộc đời trao tặng. Vì thế, hạnh khất thực có thể được nhìn như một bài học về sự cân bằng giữa nhận và cho, giữa nhu cầu và giới hạn, giữa đời sống vật chất và sự tu tập nội tâm.
Trong mùa Vu lan, mỗi phẩm vật đặt vào bình bát có thể chỉ là một phần cơm, một món ăn hay một vật dụng giản dị, nhưng khi được trao bằng tâm thành kính, tất cả đều trở thành một nhịp cầu nối giữa người xuất gia và người tại gia, giữa sự tu tập và phụng sự, giữa hạnh bố thí của người cho và hạnh không tham của người nhận. Đó cũng là giá trị bền vững của hạnh khất thực trong truyền thống Khất sĩ, một pháp hành tưởng chừng đơn sơ nhưng cùng lúc nuôi dưỡng đời sống phạm hạnh, mở rộng tâm bố thí và đưa tinh thần tri ân - báo ân vào một hành động rất cụ thể giữa cuộc đời.
Một số hình ảnh được ghi nhận:






















