CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Theo dấu chân Sư Ông Thích Giác Nhiên

Mỗi năm có ba ngày lễ tưởng niệm Đức Quán Thế Âm Bồ tát. Như một diêu kỳ diệu, Sư Ông đã thu thần viên tịch đúng vào ngày 19 tháng 6 năm Ất Mùi, ngày Đức Quán Thế Âm thành đạo.

Sau ngày Đức Tổ sư vắng bóng (mùng 1 tháng 2 năm 1954), cùng với các bậc chư Tôn đức, Sư Ông đã tiếp tục sứ mệnh xây dựng và phát triển Hệ phái Khất sĩ. Bước chân hành đạo của Ngài đã du hóa khắp nơi, từ Cà Mau đến Huế, Quảng Trị, Đông Hà...

Vì thương xót chúng sinh cùng các đệ tử ở hải ngoại, năm 1978, Sư Ông bắt đầu dấn thân từ nước nhà tới Mã Lai, qua Mỹ, Canada, Úc, Ấn... Suốt 35 năm chu du khắp thế giới hoằng pháp, cho đến khi sức khoẻ không cho phép nữa, Sư Ông mới chịu tịnh dưỡng dừng bước ở niên tuế chín mươi ba, Hạ lạp sáu mươi năm. Tôi đã được hân hạnh trực kiến và nghe Sư Ông giảng pháp một lần. Đó là dịp Sư Ông qua Úc châu năm 2010.

PSu ThuyetPhap

Từ thuở nhỏ, tôi chỉ biết theo Mẹ thỉnh thoảng đi lễ chùa, thọ tứ trai hàng tháng. Những kiến thức Phật pháp, trong tôi, hầu như chưa có gì. Thời trung học, quý giáo sư chỉ thuyết giảng sơ về Phật giáo qua các tác phẩm văn chương. Định cư ở Úc không bao lâu, tôi đau buồn vì cha mẹ đã lần lượt qua đời trong vòng hai năm liên tiếp. Rồi gia đình em trai tôi cũng nằm yên trong lòng đại dương. May thay, trong mùa Vu Lan đi lễ chùa, tôi thấy có băng video ấn tống cuả Hoà thượng Thích Giác Nhiên, đề tài nói về gia đình, về mẹ cha, về giáo dục thanh niên trong xã hội. Hiếu kỳ, tôi thỉnh bốn băng. Đó là lần đầu tiên tôi nghe băng giảng pháp. Đó là lúc nỗi khổ mất mẹ cha, em cháu gặm nhắm tâm tư tôi. Những bài giảng của Sư Ông đã chạm đúng tâm trạng tôi khi đó. Từ ngày nghe Pháp của Sư Ông, tôi bừng ngộ. Tâm tôi dần an hơn. Tôi hiểu và biết ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống hàng ngày. Tôi biết ơn Sư Ông qua những bài giảng ấy. Tôi vẫn nhớ rõ tiếng giảng của Sư Ông. Giọng của Ngài: “Người vợ đi làm về đã mệt còn lo cơm nước cho cả nhà, rồi lo dọn dẹp lau quét sàn nhà bóng láng, cả bàn ghế cũng vậy. Ôi chao, làm sao nghỉ ngơi? Nô lệ cho cái nhà tới chết thì còn đâu an nhàn tự tại lo phần tâm linh cuả mình?”. Rồi Sư Ông cười ha.ha.ha... Tôi thật thấm thía với những lời giảng đó của Ngài. Vậy rồi, tôi mua nhà nhỏ, vừa đủ ở, bàn ghế đơn giản, không kiểu cọ đắt tiền, Sư Ông giảng: “Các con nên nhớ, vạn pháp vô thường, mình phải tu để được giải thoát như Phật. Phật thường trụ vì Phật không phải hữu vi. Phật dù có bỏ thân ngũ uẩn thì chỉ là ứng thân thị hiện tuỳ thuận pháp tướng để hoá độ chúng sanh, cho nên không vì có “bỏ thân” mà tưởng Phật vô thường”.

Sư Ông đã thành lập Giáo hội Phật giáo Tăng-già Khất sĩ Thế giới năm 1980. Từ đó, Ngài đi khắp thế giới hoằng pháp độ sinh, khuyến khích đệ tử xuất gia cũng như tại gia lo trau dồi Chánh pháp. Sư Ông dạy rằng Chánh pháp phải được hành trì thì chúng sinh được lợi lạc, tự nhiên tâm hồn sẽ thanh thản, tư tưởng cao thượng, có đạo đức, bao khó khăn gian khổ sẽ vượt qua. Trong bao năm qua, chúng sinh bị vùi thây nơi biển cả, rừng sâu quá nhiều, hằng triệu oan hồn uổng tử sống vất vưởng không siêu thoát từ Việt, Campuchia, Thái, Indonesia... Sư Ông quá xót xa, chẳng ngại tuổi già, sức yếu, tài chánh, hướng dẫn một phái đoàn Tăng Ni Phật tử hải ngọai đi Mã Lai, Thái Lan, Indonesia, để thăm viếng, cầu nguyện độ tử cho họ được siêu thoát nhờ oai thần hiệp lực của chư Thiền đức Tăng Ni và Phật tử.

PICT0202 Copy

Sư Ông kể chuyện linh ứng trong chuyến đi, thứ nhất là được chánh quyền Mã Lai tiếp rước nồng hậu khi biết mục đích của mình. Thứ nữa là hai chiếc tàu nhỏ đi ra biển để tụng kinh cầu nguyện, vớt vong, thì gặp sóng gió dồn dập, tàu lắc lư như đưa võng, một số người say sóng nôn mữa không tụng kinh được. Sư Ông cầu nguyện các oan hồn rằng: “Thôi, mừng rỡ thế cũng đủ rồi để mọi người hết say sóng, tụng kinh cầu nguyện cho quý vị siêu sinh giải thoát”. Độ mười phút sau thì biển lặng sóng yên, hai tàu kề nhau, tiếng kinh cầu thánh thoát vang dội khắp không gian trong buổi trưa hè nóng bức của Mã Lai. Chiều tối, đoàn cầu nguyện bằng cách đốt hoa đăng, nhưng vì trở ngại kỹ thuật nên phải dùng nến. Lúc đốt nến lại gặp gió biển thổi mạnh, không sao đốt được. Sư Ông cũng cầu nguyện các oan hồn uổng tử ngưng lại đừng đùa giỡn nữa. Lạ thay, gió giảm tốc độ, chỉ hiu hiu nhẹ đủ mát, sóng biển chỉ gợn lăn tăn, mọi người đã được thành tựu viên mãn.

Tôi đã được “học” từ xa với Sư Ông như vậy đó. Bằng cách ấy, tôi đã được Sư Ông khai sáng, từng ngày.

Cứ như thế, tôi chỉ biết Sư Ông qua hình ảnh trên video, qua các tập thơ, các băng giảng pháp của Sư Ông, và qua những bài giảng của Sư phụ Minh Hiếu... Sư phụ vẫn thường nhắc đến Sư Ông với lòng kính thương sâu sắc.

Thế rồi, cơ duyên đã đến, tháng sáu năm 2010, Sư Ông từ Mỹ qua Úc châu thăm viếng ba Thiền viện: Minh Quang Sydney, Adelaide và Perth. Cả ba thiền viện này đều do Hoà thượng Minh Hiếu tạo lập để hoằng pháp độ sanh và phát triển hệ phái Phật giáo Tăng-già Khất sĩ. Sư Ông thời ấy đã tám mươi bảy tuổi, vừa hồi phục sau cơn bạo bệnh. Vậy mà, Ngài đã vượt mấy ngàn dặm trường, với suốt hơn mười mấy giờ bay để thăm các đệ tử và Phật tử Úc Châu. Quý hóa và cảm phục thay!!! Lần đó, Sư Ông cũng cố gắng giảng một thời pháp về Đức Phật Thích Ca và chỉ cho chúng tôi phương pháp toạ thiền.

Thời gian sau, do tuổi cao sức yếu, Sư Ông dừng bước chân hoằng pháp. Ngày 19 tháng 6 năm Ất Mùi, Sư Ông đã bỏ thân ngũ uẩn, trong niềm kính tiếc vô biên của các thế hệ môn đồ đệ tử.

Ngài đã lưu lại nhiều xá lợi, minh chứng của một đời tu với biết bao công hạnh sâu dày. Tấm gương đó, đức độ đó luôn tỏa sáng, luôn là Ánh Nhiên Đăng, là đuốc tuệ soi đường cho hàng hậu học...

Tôi nhớ lại những lời thơ mà Sư Ông ứng khẩu trong lần giảng pháp năm 2011 ở chùa Hoằng Pháp. Đó là lần Sư Ông trở về quê hương, sau khi phục hồi cơn bạo bệnh. Trong suốt buổi giảng, Sư Ông cảm động, có lúc khóc nghẹn lời rồi lại cười ha hả. Bài giảng có tiêu đề là “Phật pháp vi diệu”. Thật là cảm động, Sư Ông bảo nhờ Phật pháp mà Sư Ông mới bình phục nhanh chóng sau khi bị tai biến mạch máu.

Lời thơ rải rác, xin góp nhặt lại và thêm vài câu cho trọn bài thơ, cúi xin giác linh Sư Ông tha lỗi cho đệ tử.

Bao năm ròng rã mỏi mòn,

Truyền trao chánh pháp cho tròn đời tu.

Năm châu bốn bể mịt mù,

Độ sanh, độ tử, mặc dù hiểm nguy.

Phật dạy bác ái từ bi,

Khuyên người Phật tử gắng ghi vào lòng.

Thân cùng khẩu ý trọn lành,

Xa lìa tội lỗi gần cành hoa sen.

Miệng ta là cánh hoa sen,

Một khi hé nở, một phen thơm lừng.

Tiếng ta là gió mùa xuân,

Một cơn thổi nhẹ muôn dân mát lòng.

Nhưng than ôi, cỗ xe tứ đại mỏi mòn, Sư Ông đã xả bỏ báo thân sau hơn 90 năm trụ thế, hơn 60 năm hoằng pháp độ sanh.  

Trọn một đời tu, Sư Ông như cánh chim không mỏi, du hóa khắp muôn phương.

Ngày rời quê hương, mang theo tâm nguyện hoằng pháp phương xa.

Ngày trở về, tâm nguyện hoàn thành, bao người ngưỡng vọng…

Đốt nén tâm hương, xin thành kính tri ân Người !

    Chia sẻ với thân hữu: