Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Thi hóa lược sử Đại lão HT. Pháp sư

HINH HT GIAC NHIEN

*Nhân ngày Lễ Đại tường HT.PS.Giác Nhiên (19/6/Ất Mùi - 19/6/Đinh Dậu)
Thành kính tưởng niệm Ân đức sâu dày của Ngài.

I. THÂN THẾ THỜI NIÊN THIẾU

Quý Hợi (1923) sông nước Ô Môn

Thiện sĩ mở cửa càn khôn chào đời

Họ Nguyễn tên Ất thanh ngời

Người con út nhất nhà thời có năm

Thân phụ Thiện Đức hằng chăm

Mẹ là Phước Ngọc hay tầm thiện lương

Tám tuổi với sự khôn lường

Bỏ trần cha đã định thần về tây

Anh chị em ở chốn nầy

Bàn cùng thân mẫu quy đây cửa thiền

Tôn sư Minh Trí ưng liền

Minh Châu pháp hiệu trải yên đoạn đường

Nhờ căn đạt ý thông thường

Cộng thêm hiếu học am tường nghĩa kinh

Xem dò bậc thánh lòng tin

Tâm dường trăng sáng như in phú ngời

Năm lên mười sáu tuổi đời (1939)

Cần cầu giáo pháp tỏ nơi chân thường

Hòa thượng Minh Phụng tuyên dương

Minh Tâm pháp hiệu kềm cương đạo từ.

II. NHÂN DUYÊN XUẤT GIA

Đầu năm một chín năm hai (1952)

Pháp duyên hội đủ gặp ngay Tổ thầy[1]

Khi nghe diệu pháp âm bày

Ngài bừng giác ngộ kỉnh thầy xuất gia

Tổ sư hoan hỷ nhận ra

Đặt cho pháp thật hiệu là Giác Nhiên

Sa Di giới đoạn năm triền (1953)

Nối theo Chơn Lý hoằng truyền chúng dân

Chánh pháp mở rộng thôn lân

Lục tỉnh Nam bộ pháp ân ban truyền

Tổ sư vắng nhuộm ưu phiền[2]

Gương thầy rạng rỡ mọi miền nối eo[3]

Giác Chánh nhị tổ Ngài theo

Ất Mùi cụ túc Tỳ kheo (1955) thọ cầu

Phạm hạnh tri đức tươi mầu

Pháp khí Phật bảo ửng hầu chí thiêng

Tỏ thông tạng pháp kinh chuyền

Đêm ngày hóa đạo hoằng truyền nơi nơi.

III. THÀNH LẬP GIÁO ĐOÀN IV VÀ HOẰNG PHÁP ĐỘ SANH

* THÀNH LẬP GIÁO ĐOÀN IV

Nối tiếp công hạnh Tổ sư

Thắp đèn tuệ giác kinh thư giáo đoàn

Miền Nam bậc bốn (IV) hương ngàn

Sư tử rống pháp chúng tràn noi theo

Sài Gòn, Tây bộ, Trung chèo

Trên thuyền Bát Nhã thôn nghèo kỉnh Tăng

Bốn mươi Tịnh xá xa gần

Thiện nam tín nữ chuyên cần pháp âm

Bình Thạnh Tịnh xá Trung Tâm

Trung ương trụ sở hằng chăm giảng truyền

Quận Hai Pháp viện đà tuyên

Minh Quang[4] giáo dục chí thiêng rạng ngời

Bên cạnh quận huyện nhiều nơi

Tỉnh thành cận đạo chẳng ngơi hạnh nguyền.

* GIÁO HỘI TĂNG GIÀ KHẤT SĨ VIỆT NAM THÀNH LẬP

Một chín sáu sáu (1966) lập thành

Tăng già Khất sĩ Giáo lành Việt Nam

Đây là ngôi báo già lam

Pháp nhân pháp lý việc làm đủ duyên

Thảy đều hội đủ chân truyền

Tổng tri vụ Trưởng kiêm yên xứ lành

Tăng sự, Hoằng pháp, thiện sanh

Ngài đều hoàn tất tiến nhanh nhị kỳ

Vào năm một chín bảy hai (1972)

Kỳ ba Đại hội lần này Trung Tâm

Nghị quyết thành lập khai đường

Viện Hành, Chỉ đạo hoằng dương độ đời[5]

Đại chúng gương sáng tôn Người

Viện trưởng Hành đạo ở nơi công dày.

* ĐỘ MỘT THẾ HỆ TĂNG GIÀ

Sứ mạng thay thế Như Lai

Tiếp Tăng độ chúng khuyến tài nhân sanh

Ra đời rường cột gương lành

Đồng môn đại chúng xây thanh giáo đoàn

Giác Phúc, Giác Ngộ, Lai, Toàn

Giác Thông, Giác Vạn, kế an Giác Giàu,…

Đều là Giáo phẩm cao sâu

Cao niên chẳng ngại kề nhau chí tình.

IV. HOẰNG PHÁP HẢI NGOẠI

Sau khi Tổ quốc hòa bình

Đức Ngài phó chúc hậu trình giới an

Tháng chín thu trải lá vàng

Một chín bảy tám (9/1978) Ngọ[6] mang tin nầy

Chí thành đảnh lễ Tổ Thầy

Phương xa hoằng pháp hạnh dày duỗi cương

Hoa Kỳ trụ thế quê hương

Úc châu Pháp quốc hoằng nương đạo mầu

Các bang Chân lý truyền trao

Qua lời Phật dạy cùng thao hạnh lành

Thơ ca dễ hiểu dễ hành

Bao người hạnh phúc luyện thanh cõi người

Năm Thân một chín tám mươi (1980)[7]

Đứng ra xin phép nguồn khơi đạo tràng

Giáo hội phát triển từng bang

Thế giới Khất Sĩ thịnh vang Tăng già

Tiếng lành trống giục gần xa

Phật giáo Pháp chủ Ngài là chứng nhân

Bảo lãnh Tăng chúng hiền tăng

Hoa Kỳ tu học sở năng hoằng truyền

Thiền viện, Tịnh xá dựng nên

Trang nghiêm cõi Phật dựng nền Như Lai.

V. CÔNG TRÌNH BIÊN SOẠN SÁNG TÁC ẤN TỐNG PHÁP BẢO

“Nghi thức tụng niệm”[8] công trình

Ngôn ngữ thuần Viện như in dễ dàng

Kinh thư đọc tụng khôn bàn

Âm vang trầm bổng lọc sàng khổ vơi

Thập niên một chín sáu mươi (1960)

“Chơn Lý” in lại tuyệt vời chẳng sai

Cũng trong lúc ấy đức Ngài

Sáng tác biên soạn phú khai độ đời

“Tọa thiền pháp chỉ” nào ngơi

Dứt trừ loạn vọng muôn nơi định thiền

“Bảo kệ, Thương nhớ mẹ hiền”

“Tiếng lòng hiếu tử, nhiên đăng” rạng trời

“Kệ pháp, Pháp bảo” cao ngơi

Về sau kết lại mỗi thời phá mê

“Tứ kệ tĩnh tâm” tựa đề

Tăng Ni Khất sĩ vai kề tạo nên

Ba mươi năm trọn xây nền

Hoằng pháp xa xứ thơ bền giáo khuyên

Lời thơ sáng tác điều tuyên

Nhiệm mầu “Diệu lý” hoằng duyên phú trầm

“Đông phương, Thiền định, Tĩnh tâm”

“Pháp đăng” huệ sáng soi ngầm “Phá mê”

“Viên Thông” tỏ ngộ đi về

“Tâm kinh” “Bát Nhã” khuôn lề “Minh Quang”

Chân thường tỏ ngộ đôi đàng

“Siêu nhân tư tưởng” bước quang tỏ tường

Thấm nhuần chất Phật vô thường

“Chữ Tê (T)” lợi hại không lường kéo lôi

Tình, tiền, tù, tội luân hồi

“Phật học từ điển” lại bồi lý kinh

“Phật pháp căn bản” hồi sinh

Do Ngài chứng được trí minh tựu về.

VI. NHỮNG KHOẢNH KHẮC VÀ DẤU ẤN THIÊNG LIÊNG

Vào năm lẻ một hai ngàn (2001)

Quê hương cách biệt dặm ngàn nơi xa

Bước chân trở lại quê nhà

Viếng thăm tôn đức Tăng và chư Ni

Dẫn đoàn từ thiện cùng đi

Viếng Nam thăm Bắc bái di tích già

Thật nhiều cảm xúc quê nhà

Thiêng liêng hùng vĩ mượt mà gió sương

Tiếng vang khắp nẻo đồi nương

Núi cao biển lớn mười phương vọng tràn

Phật đản lẻ sáu hai ngàn (2006)

Chứng minh đặt đá đạo tràng trùng tu

Khai đàn tâm huyết bao thu

Bồi tô Pháp viện chỉnh chu rạng ngời

Mở mang hoằng pháp kịp thời

Tâm linh rạng rỡ tuyệt vời trí an

Vào năm lẻ tám hai ngàn (2008)

Vesak trọng thể lời vang Mỹ Đình

Linh sơn pháp lữ đạo tình

Đức Ngài tham dự thuyết trình chân nhân

Hóc Môn Hoằng Pháp[9] giáo ân

Diệu kì ngữ thuyết lý chân đạo tràng

Bệnh duyên lẻ chín hai ngàn (2009)

Ngài vẫn cố gắng tham quan lễ đài

Tưởng niệm Sư tổ đức ngài

Chứng minh xây dựng công khai khởi đầu

Minh Đăng Quang sáng trăng thâu

Chúng tu thành kính đạo mầu kính chăm

Mười bốn hai ngàn vào năm (2014)

Duyên bệnh thêm nặng hành thân chẳng nề

Ngài vẫn cố gắng quay về

Tưởng niệm ơn Tổ mọi bề yên vui.

* DẤU ẤN THIÊNG

Pháp sư cốt cách thanh cao

Lợi sanh hoằng pháp không nao tất lòng

Giản dị, khiêm hạ, bao dung

Chân tình ngời sáng dấn thân độ đời.

VII. NHỮNG NĂM THÁNG CUỐI ĐỜI VÀ VIÊN TỊCH

Sanh lão bệnh tử hồ nhiên

Chín năm tứ đại thường xuyên xoáy mòn

Tăng Ni pháp tử đồng môn

Cận kề chăm sóc sớm hôm chẳng rời

Bác sĩ nổi tiếng chữa chuyên

Nhưng rồi theo luật đà tuyên vô thường

Nhơn sanh một kiếp khó lường

Đến hồi cũng phải khiêm nhường đổi thân

Nhân ngày thành đạo Quán Âm (19/6 âl)

Hoa Kỳ nơi tịch khói trầm phủ xa

Hiện thân trụ thế chín ba (93)

Sáu mươi (60) hạ lạp dần qua đạo đời

Chu du góc biển chân trời

Dựng xây giải thoát khắp nơi chí tình

Phạm hạnh tri thức hằng minh

Sanh thân ý nguyện tâm linh đạo lành

Hòa nhơn tạng luận đồng thanh

Phụng sự tứ chúng thiện sanh đủ đầy

Đến đi không chút riêng tây

Quê nhà yên nghĩ đó đây trọng tình

Muôn dân luyến tiếc trì kinh

Cầu ngài hiển độ chúng sinh cõi này

Chúng con hậu bối nơi đây

Lời vàng pháp bảo gương thầy sắt son:

“Lời vàng tiếng ngọc gởi về con [10]

Đạo đức bền tâm giữ vẹn tròn

Dầu cách xa Thầy muôn vạn dặm

Gìn lòng son sắt sánh bằng non”

Tình sâu dạ cảm chơi vơi…

“Dù đi khắp bốn phương trời,[11]

Trăm năm dừng nghỉ về nơi quê mình.

Quê mình sông nước hữu tình,

Non cao, biển rộng… tâm linh rạng ngời”.

Ngày 19/6/Đinh Dậu

Quang Toàn Thành Anh

 


[1] Tổ sư Minh Đăng Quang

[2] Ngày 01/02/Giáp Ngọ

[3] Eo: diễn những lúc vắng Thầy rất khó khăn nhưng phải vượt qua

[4] Pháp viện Minh Đăng Quang Q.2

[5] Viện Hành đạo và Viện Chỉ đạo

[6] 1978 : Mậu Ngọ

[7] 1980 : Canh Thân

[8]Các tác phẩm trong ngoặc do Pháp sư sáng tác và in lại

[9] Chùa Hoằng Pháp, Tân Hiệp – Hóc Môn

[10] Trích Lời Thầy dạy của HT.PS.Giác Nhiên

[11] Trích Kính nhớ Thầy của HT.Giác Toàn.

    Chia sẻ với thân hữu: